Bernard Montgomery

Thống chế Anh Quốc Bernard Law Montgomery, Đệ nhất tử tước Montgomery của Alamein, còn được gọi là "Monty" (17 tháng 11 1887 - 24 tháng 3 1976) là một tướng lĩnh quân đội Anh, nổi tiếng vì đã đánh bại lực lượng Quân đoàn Phi Châu (Afrikakorps) của tướng Đức Quốc xã Rommel tại trận El Alamein thứ hai, một bước ngoặt quan trọng trong chiến dịch Sa mạc Tâychâu Phi năm 1942. Quân do ông chỉ huy cũng góp một phần đánh bật các lực lượng khối Trục ra khỏi Bắc Phi. Ông cũng là một người chỉ huy nổi bật của quân đội Đồng MinhÝ và Tây Bắc châu Âu, trong chiến dịch Overlord và sau trận Normandy.

Tử tước Montgomery của Alamein
General Sir Bernard Montgomery in England, 1943 TR1040
Montgomery đội chiếc mũ bê rê nổi tiếng của ông.
Tiểu sử
Biệt danhMonty
Sinh17 tháng 11 năm 1887 Kennington, Luân Đôn
Mất24 tháng 3 năm 1976 (88 tuổi) Alton, Hampshire
Binh nghiệp
Phục vụVương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Anh Quốc
ThuộcFlag of the British Army.svg quân đội Anh
Năm tại ngũ19081958
Cấp bậcThống chế Quân đội Hoàng gia Anh Quốc
Chỉ huyTư lệnh tập đoàn quân số 8 1942–1943
Tư lệnh Cụm Tập đoàn quân số 21 quân Đồng minh 1943–1945
Tổng tham mưu trưởng Quân đội Hoàng gia Anh quốc 1946–1948
Phó chỉ huy tối cao châu Âu của NATO 1951–1958
Tham chiếnChiến tranh thế giới thứ nhất
Chiến tranh Anh-Ireland
Chiến tranh thế giới thứ hai
Khen thưởngHiệp sĩ Garter
Knight Grand Cross of the Bath
Huân chương nhiệm vụ xuất sắc
Huân chương Chiến thắng (Liên Xô)
9 Mentions in Despatches giữa giai đoạn 1915 và 1944

Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất

Bernard Montgomery sinh tại Kennington, Luân Đôn năm 1887, con thứ 4 trong 9 người con của linh mục Anh giáo Henry Hutchinson Montgomery và bà Maud Montgomery (gia đình họ Farrar). Ông nội là Robert Montgomery, từng cai quản quân sự tại Ấn Độ và mất khi khi Bernard Montgomery mới được 1 tháng tuổi,[1] để lại di sản của tổ tiên họ Montgomery tại New Park thuộc Moville, County Donegal.

Di sản này vẫn còn nợ £13.000 và Henry (cha của Bernard Montgomery) phải chật vật bán của cải trả nợ.[2] Năm 1889 Henry Montgomery được phong làm giám mục tại Tasmania, Úc, bấy giờ còn là thuộc địa của Anh. Ông thường vắng nhà về quê giảng đạo. Bà vợ ở nhà chẳng những không chăm sóc mà còn thường xuyên đánh đập bỏ bê bầy con mình.[3] Anh chị em của Bernard có người chết trẻ, và có người phải bỏ về Anh.[4] Mẹ ông không dạy con, chỉ đôi lúc mướn người từ Anh sang dạy. Bernard do hoàn cảnh thơ ấu tệ hại không được dạy dỗ tốt, trở thành một thiếu niên với tính cách ngỗ ngược. Ông tự thú nhận:

Tôi là một đứa trẻ khá tệ. Hồi ấy chả ai chịu đựng được tính cách tồi tệ của tôi.[5]

Vì vậy, Montgomery sau đó từ chối không cho con mình liên hệ với bà nội, và khi bà chết năm 1949, ông không đến dự đám tang.[6]

Năm 1901 gia đình Montgomery về lại Luân Đôn, Bernard học tại trường St Paul's sau đó vào trường Quân sự Hoàng gia tại Sandhurst. Ông từng suýt bị trục xuất vì cố tình đốt cháy một học sinh cùng khóa, khi gây gổ vì cờ bạc. Năm 1908 Bernard nhập ngũ vào tiểu đoàn 1, Trung đoàn Warwickshire của quân đội Anh quốc, và hành quân lần đầu tại Ấn Độ.

Chiến tranh thế giới thứ nhất

Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ vào tháng 8 năm 1914 và ít lâu sau đó, Bernard Montgomery chiến đấu cùng đồng đội tại chiến trường nước Pháp. Trong cuộc rút lui từ Mons, gần nửa tiểu đoàn của ông bị tử thương. Ngày 13 tháng 10 ông bị thương nặng, viên đạn trúng ngực làm thủng phổi bên phải nguy hiểm đến tính mạng. Đồng đội ông thấy vậy đã đào huyệt chờ chôn ông nhưng ông sống sót một cách thần kì. Một y sĩ quân đội tiến đến cứu Montgomery nhưng bị bắn chết và ngã gục đè lên ông. Xác chết người y sĩ che đạn cho gần như toàn bộ người ông và Montgomery chỉ bị thêm một phát đạn ở đầu gối. Khi hồi phục, Montgomery được trao huân chương xuất sắc.

Đầu năm 1915 Montgomery được cử làm chỉ huy huấn luyện cho bộ binh Anh, còn gọi là Đạo quân của Kitchener. Năm 1916 ông theo hành quân tại Mặt trận phía Tây tham gia các cuộc chiến tại Somme, Arras, và Passchendaele. Do khả năng chỉ huy và điều động quân sự giỏi, Montgomery giúp chì huy mình là tướng Herbert Plumer đạt nhiều mục đích chiến lược với thiệt hại thấp.

Montgomery tham gia cuộc chiến tại Lys và Chemin-des-Dames. Đến cuối chiến tranh ông được cử làm sĩ quan tư lệnh và sau đó lên chức tổng chỉ huy sư đoàn 47, với quân hàm trung tá.

Giữa hai cuộc chiến

Những năm 1920

Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Montgomery chỉ huy Tiểu đoàn 17, một tiểu đoàn trong Quân đội sông Rhine của Anh, trước khi trở lại cấp bậc cao hơn vào tháng 11 năm 1919. Đầu tiên ông không được chọn vào trường Cao đẳng Quân sự ở Camberley, Surrey. Nhưng tại một bữa tiệc quần vợt ở Cologne, ông đã có thể thuyết phục Tổng tư lệnh, Nguyên soái William Robertson, để thêm tên của ông vào danh sách học viên.

Sau khi tốt nghiệp trường Cao đẳng Quân sự, ông được bổ nhiệm làm chuyên viên lữ đoàn trong Lữ đoàn Bộ binh số 17 vào tháng 1 năm 1921. Lữ đoàn được đóng quân tại Quận Cork, Ireland, thực hiện các hoạt động chống nổi dậy trong các giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến tranh độc lập Ireland. Montgomery đi đến kết luận rằng cuộc xung đột có thể tránh được, nếu chính phủ cho Ireland quyền tự quyết và đây giải pháp khả thi duy nhất.

Vào tháng 5 năm 1923, Montgomery được đưa đến Sư đoàn Bộ Binh thứ 49 (West Riding). Ông trở lại Tiểu đoàn 1, Trung đoàn Hoàng gia Warwickshire vào năm 1925 với tư cách là tư lệnh và được thăng chức vào tháng 7 năm 1925. Từ tháng 1 năm 1926 đến tháng 1 năm 1929, ông giữ chức Phó tổng giám đốc phụ tá tại trường Cao đẳng Quân sự, Camberley, dưới quân hàm đại tá.

Hôn nhân và gia đình

Vào năm 1925, Montgomery khi đã ở tuổi 30, đã phải lòng một cô gái 17 tuổi, Betty Anderson. Phương pháp tán tỉnh khá đặng biệt: bao gồm vẽ sơ đồ trên cát về cách ông sẽ triển khai xe tăng và bộ binh của mình trong một cuộc chiến tranh trong tương lai, một dự báo dường như rất xa tại thời điểm đó. Betty tôn trọng tham vọng của ông nhưng từ chối lời cầu hôn của ông.

Năm 1927, ông gặp và kết hôn với Elizabeth (Betty) Carver, nhũ danh Hobart, góa phụ của Oswald Carver, vận động viên chèo thuyền Olympic đã bị giết trong Thế chiến thứ nhất. Betty Carver là em gái của vị chỉ huy chiến tranh thế giới thứ hai trong tương lai, Thiếu tướng Percy Hobart. Betty Carver có hai con trai ở tuổi thiếu niên, John và Dick, từ cuộc hôn nhân đầu tiên của cô. Dick Carver sau đó đã viết rằng đó là "thật rất dũng cảm" cho Montgomery vì có thể tiếp nhận một góa phụ với hai đứa con. Con trai của Montgomery, David, sinh tháng 8 năm 1928.

Trong khi đi nghỉ ở Burnham vào năm 1937, Betty bị một vết côn trùng cắn và bị nhiễm bệnh, và cô đã chết trong vòng tay của Montgomery do nhiễm trùng huyết sau khi cắt cụt chân. Sự mất mát đã tàn phá Montgomery, người lúc đó đang phục vụ với tư cách một chỉ huy, nhưng ông vẫn khăng khăng tiến hành công việc ngay sau đám tang.

Những năm 1930

Vào tháng 1 năm 1929, Montgomery trở lại Tiểu đoàn 1, Trung đoàn Hoàng Gia Warwickshire, ông đến Văn phòng Chiến tranh để giúp viết Cẩm nang Huấn luyện Bộ binh vào giữa năm 1929. Năm 1931, Montgomery được bổ nhiệm làm Sĩ quan Chỉ huy của Tiểu đoàn 1, Trung đoàn Hoàng gia Warwickshire và tham gia phục vụ ở Palestine và Ấn Độ. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ của mình tại Ấn Độ, Montgomery trở về Anh vào tháng 6 năm 1937, nơi ông nắm quyền chỉ huy Lữ đoàn Bộ binh số 9. Năm 1938, ông tổ chức một cuộc tập trận đổ bộ kết hợp đã gây ấn tượng với Bộ Tư lệnh miền Nam, Tướng Archibald Percival Wavell. Ông được thăng chức vào ngày 14 tháng 10 năm 1938 và nắm quyền chỉ huy Sư đoàn 8 Bộ Binh ở Palestine. Tại đây, ông đã dập tắt một cuộc nổi dậy của người Ả Rập trước khi trở về Anh vào tháng 7 năm 1939, Ông đã bị một căn bệnh nghiêm trọng trên đường trở về.

Chiến tranh thế giới thứ hai

Lực lượng viễn chinh Anh

Rút lui đến Dunkirk và sơ tán

Anh tuyên chiến với Đức vào ngày 3 tháng 9 năm 1939. Sư đoàn 3 được triển khai sang Bỉ như một phần của Lực lượng viễn chinh Anh (BEF). Trong thời gian này, Montgomery phải đối mặt với rắc rối nghiêm trọng từ cấp trên quân sự của mình và các giáo sĩ cho thái độ thẳng thắn của ông về sức khỏe của binh sĩ, nhưng đã được Alan Brooke cấp trên của ông, chỉ huy của Quân đoàn II gạt đi. Khi người Đức bắt đầu cuộc xâm lược các nước châu âu vào ngày 10 tháng 5 năm 1940 và Sư đoàn 3 tiến vào sông Dijle và sau đó rút lui về Dunkirk với tính chuyên nghiệp cao. Sư đoàn 3 trở về Anh nguyên vẹn với số thương vong tối thiểu. Trong Chiến dịch Dynamo - việc sơ tán 330.000 BEF và quân Pháp sang Anh - Montgomery đảm nhiệm chức tư lệnh Quân đoàn II.

Montgomery được lệnh chuẩn bị sẵn sàng cho Sư đoàn 3 của mình để xâm chiếm Azores Bồ Đào Nha. Mô hình của các đảo đã được chuẩn bị và các kế hoạch chi tiết đã được thực hiện cho cuộc xâm lược. Tuy nhiên kế hoạch lại chuyển sang xâm lược đảo Cape Verde cũng thuộc Bồ Đào Nha mà không báo trước. Sau đó, Montgomery được lệnh chuẩn bị các kế hoạch xâm lược Ireland và chiếm giữ Cork, Cobh và cảng Cork. Những kế hoạch xâm lược này, giống như của các đảo Bồ Đào Nha, cũng không được báo trước và vào tháng 7 năm 1940, Montgomery được bổ nhiệm làm trung tướng và chỉ huy của Quân đoàn V, chịu trách nhiệm bảo vệ Hampshire và Dorset, và bắt đầu một mối hận thù lâu dài với Tổng Tư lệnh miền Nam, Trung tướng Claude Auchinleck.

Vào tháng 4 năm 1941, ông trở thành chỉ huy của Quân đoàn XII chịu trách nhiệm bảo vệ Kent. Trong thời gian này, ông đã thiết lập một chế độ đào tạo liên tục và nhấn mạnh vào rèn luyện thể chất cho cả binh lính với các cấp bậc khác nhau. Ông đã mạnh mẽ trong việc sa thải các sĩ quan mà ông cho là không phù hợp với mệnh lệnh. Vào tháng 12, Montgomery chỉ huy Bộ Tư lệnh Đông Nam giám sát việc bảo vệ Kent, Sussex và Surrey. Ông đổi tên chỉ huy của mình là quân đội Đông Nam để thúc đẩy tinh thần tấn công. Trong thời gian này, ông tiếp tục phát triển và tập luyện ý tưởng của mình và đào tạo binh sĩ của mình vào tháng 5 năm 1942, một tập thể lên đến 100.000 quân.

Bắc Phi và Ý

Lệnh đầu tiên của Montgomery

Năm 1942, một chỉ huy mới đã được yêu cầu đến Trung Đông, nơi Auchinleck đã hoàn thành cả vai trò Tổng Tư lệnh Trung Đông và chỉ huy Quân đội số 8. Ông đã ổn định vị trí Đồng minh trong Trận El Alamein đầu tiên, nhưng sau một chuyến viếng thăm vào tháng 8 năm 1942, Thủ tướng, Winston Churchill, đã thay thế ông và giao cho Tướng Harold Alexander và William Gott làm chỉ huy Quân đội số 8 ở sa mạc phía Tây. Tuy nhiên, sau khi Gott bị giết tại Cairo, Churchill đã được thuyết phục bởi Brooke, người lúc này là chỉ huy trưởng của Imperial General Staff (CIGS), đã bổ nhiệm Montgomery, người vừa mới được chỉ định thay thế Alexander làm tư lệnh cho Chiến dịch Torch, cuộc xâm lược của Bắc Phi thuộc Pháp.

Nhận lệnh vào ngày 13 tháng 8 năm 1942, Montgomery lập tức ra lệnh thành lập Quân đoàn X, trong đó có tất cả các sư đoàn bọc thép để chiến đấu bên cạnh Quân đoàn XXX của ông mà tất cả đều là bộ binh. Điều này hoàn toàn không giống với một Quân đoàn Panzer của Đức. Một trong những Quân đoàn Panzer của Rommel kết hợp các bộ binh, thiết giáp và các đơn vị pháo binh dưới một chỉ huy quân đoàn. Chỉ huy chung duy nhất cho tất cả bộ binh của Montgomery và tất cả quân đoàn thiết giáp là Tư lệnh quân đoàn thứ 8. Montgomery củng cố 30 dặm (48 km) đường phía trước tại El Alamein, và mất hai tháng để hoàn thành. Ông yêu cầu Alexander gửi cho ông hai sư đoàn Anh mới và sau đó đã đến Ai Cập và dự kiến ​​sẽ được triển khai để bảo vệ đồng bằng sông Nile. Ông đã chuyển khu vực điều hành của mình sang Burg al Arab, gần với khu chỉ huy Không quân để phối hợp tốt hơn các hoạt động kết hợp. Montgomery đã xác định rằng Quân đội, Hải quân và Không quân nên chiến đấu theo cách thống nhất, tập trung theo kế hoạch chi tiết. Montgomery ra lệnh hủy bỏ tất cả các kế hoạch dự phòng rút lui. "Tôi đã hủy bỏ kế hoạch rút lui. Nếu chúng ta bị tấn công, thì sẽ không có rút lui. Nếu chúng ta không thể sống ở đây, thì chúng ta sẽ chết ở đây", Ông nói với binh lính của mình trong cuộc họp đầu tiên trong sa mạc.

Trận chiến đầu tiên với Rommel

Rommel đã cố gắng để rẽ cánh trái của Quân đội thứ 8 trong trận Alam el Halfa từ ngày 31 tháng 8 năm 1942. Cuộc tấn công bộ binh Quân đoàn Đức/Ý đã thất bại nặng nề trong trận chiến. Các lực lượng của Rommel phải rút lui một cách khẩn cấp. Montgomery bị chỉ trích vì không phản công ngay lập tức khi lực lượng Rommel rút lui, nhưng ông cảm thấy rằng việc xây dựng các lực lượng Anh của ông vẫn chưa sẵn sàng.

Kế hoạch tấn công Libya là điều cần thiết nhằm dành các sân bay để hỗ trợ Malta và tạo đe dọa từ phía sau đối với các lực lượng Đức/Ý. Montgomery chuẩn bị tỉ mỉ cho cuộc tấn công mới sau khi thuyết phục Churchill rằng không còn thời gian lãng phí. Ông quyết tâm không đấu tranh cho đến khi nghĩ rằng đã có đủ chuẩn bị cho một chiến thắng quyết định, và đưa niềm tin của mình vào việc thu thập tài nguyên, lập kế hoạch chi tiết, đào tạo quân đội - đặc biệt là trong việc dọn sạch các bãi mìn và chiến đấu vào ban đêm và trong cả việc sử dụng 252 Xe tăng Sherman do Mỹ chế tạo, pháo đài tự hành 90 M7 Priest, và thực hiện một chuyến thăm cá nhân tới mọi đơn vị tham gia tấn công. Vào thời điểm cuộc tấn công, mọi đã sẵn sàng vào cuối tháng 10, quân đội thứ 8 có 231.000 có quân nhân.

El Alamein

Trận El Alamein thứ hai bắt đầu vào ngày 23 tháng 10 năm 1942, và kết thúc 12 ngày sau đó với một trong những chiến thắng quy mô lớn đầu tiên của đồng minh trong chiến tranh. Montgomery đã dự đoán chính xác cả thời gian của trận đánh và số thương vong (13.500). Ngay sau khi các đơn vị thiết giáp và bộ binh đồng minh đã vượt qua các chiến tuyến Đức/Ý và truy đuổi các lực lượng địch với tốc độ cao dọc theo đường bờ biển, thì một trận mưa lớn xảy khắp khu vực, khiến các xe tăng và xe tải hỗ trợ ngập trong bùn sa mạc. Montgomery, đứng trước các sĩ quan của mình tại bộ chỉ huy và gần rơi nước mắt, thông báo rằng ông buộc phải ra lệnh dừng truy đuổi. Nhà sử học Corelli Barnett đã chỉ ra rằng mưa cũng ảnh hưởng lớn đến người Đức, và do đó thời tiết là một giải thích không đầy đủ cho việc không tạo ra bước đột phá nào trong trận này, tuy nhiên nhiên trận El Alamein là một thành công lớn cho Montgomery. Hơn 30.000 binh lính Đức đã bị bắt, bao gồm cả tướng Von Thoma, cũng như tám sĩ quan khác. Rommel, ở trong bệnh viện ở Đức vào lúc bắt đầu cuộc chiến, buộc phải quay trở lại chiến trường vào ngày 25 tháng 10 năm 1942 sau khi Stumme - người thay thế Rommel làm chỉ huy Đức - đã chết vì cơn đau tim trong những giờ đầu tiên của trận chiến.

Tunisia

Montgomery áp dụng sức mạnh vượt trội khi nó phù hợp, buộc Rommel ra khỏi các vị trí phòng thủ liên tiếp. Vào ngày 6 tháng 3 năm 1943, cuộc tấn công của Rommel vào quân đoàn thứ 8 mở rộng tại Medenine (Chiến dịch Capri) với sự tập trung lớn nhất của thiết giáp Đức ở Bắc Phi đã bị đẩy lùi thành công. Tại Mareth Line, ngày 20 đến 27 tháng 3, khi Montgomery gặp phải sự kháng cự dữ dội hơn ông dự đoán, ông đã chuyển nỗ lực lớn trong việc thành một gọng kìm, được hỗ trợ bởi máy bay ném bom RAF tầm thấp.

Đối với vai trò của mình ở Bắc Phi, Montgomery đã được Chính phủ Hoa Kỳ trao tặng Huân chương Tư lệnh trưởng.

Sicily

Cuộc tấn công của Đồng minh lớn tiếp theo là cuộc tấn công vào Sicily (Chiến dịch Husky). Montgomery xem xét các kế hoạch ban đầu cho cuộc tấn công của Đồng minh, đã được đồng ý theo nguyên tắc của Tướng Dwight D. Eisenhower, Tư lệnh Đồng minh Tối cao tại Địa Trung Hải, và Tướng Alexander, chỉ huy Nhóm 15. Montgomery lên kế hoạch tái thiết để tập trung lực lượng quân Đồng minh, bên cạnh đó Trung tướng của quân đội Mỹ George Patton hiện diện tại vịnh Gela (trên sườn trái của quân đoàn thứ 8, bao vây quanh Syracuse phía đông nam của Sicily) thay vì gần Palermo ở phía tây và phía bắc của Sicily. Căng thẳng liên minh tăng lên khi các chỉ huy Mỹ, Patton và Omar Bradley (sau đó chỉ huy Quân đoàn II Hoa Kỳ dưới Patton), đã phản ứng trước thái độ không đúng mực và sự khoe khoang của Montgomery.

Chiến dịch tại Ý

Vào cuối năm 1943, Montgomery tiếp tục chỉ huy quân đoàn thứ 8 trong cuộc đổ bộ trên lục địa Ý bắt đầu với Chiến dịch Baytown. Cùng với việc đổ bộ của liên quân Anh-Mỹ tại Salerno (gần Naples) của Quân đoàn số 5 của Trung tướng Mark Clark và các cuộc đổ bộ trên biển của các lính dù Anh (bao gồm cả cảng chính Taranto, nơi họ lên bờ mà không có sự kháng cự trực tiếp khi vào cảng), Montgomery dẫn đầu quân đoàn 8 tiến vào nước Ý. Montgomery lo lắng về việc thiếu sự phối hợp, sự phân tán nỗ lực, sự lộn xộn về chiến lược và cơ hội mà ông thấy trong nỗ lực của Đồng Minh ở Ý.

Normandy

Montgomery trở về Anh vào tháng 1 năm 1944. Ông được giao nhiệm vụ chỉ huy Tập đoàn Quân 21 bao gồm tất cả các lực lượng mặt đất của Đồng minh tham gia Chiến dịch Overlord, tên mã cho cuộc tấn công của Đồng Minh tại Normandy. Chỉ huy chung được giao cho Tư lệnh tối cao của Lực lượng viễn chinh Đồng minh, Tướng Dwight D. Eisenhower. Cả Churchill và Eisenhower đã tìm thấy Montgomery khó chịu để làm việc và muốn vị trí này cho tướng Harold Alexander dễ chịu hơn. Tuy nhiên, người bảo trợ của Montgomery, Tướng Alan Brooke, đã lập luận chắc chắn rằng Montgomery là một vị tướng cao cấp hơn nhiều so với Alexander.

Tại trường St Paul vào ngày 7 tháng 4 và 15 tháng 5, Montgomery trình bày chiến lược của mình cho cuộc tấn công. Ông dự tính một trận chiến chín mươi ngày, với tất cả các lực lượng. Chiến dịch sẽ xoay quanh việc tập trung ở phía đông của Normandy, với quân đội Anh và Canada giữ vai trò thu hút và đánh bại các cuộc tấn công của Đức, tạo điều kiện cho quân đội Mỹ, những người sẽ di chuyển và chiếm bán đảo Cotentin và Brittany, quay về phía nam và sau đó về phía đông bên phải nhằm tạo thành thế gọng kìm.

Trong mười tuần của trận Normandy, điều kiện thời tiết mùa thu bất lợi đã phá vỡ việc tiến công Normandy. Kế hoạch ban đầu của Montgomery là cho quân đội Anh-Canada dưới quyền chỉ huy của mình ngay lập tức từ bãi biển của họ trên bờ biển Calvados hướng tới Caen với mục đích chiếm thành phố vào ngày D hoặc hai ngày sau đó. Montgomery đã cố gắng chiếm Caen với Sư đoàn 3 Bộ binh, Sư đoàn bộ binh số 50 (Northumbrian) và Sư đoàn 3 của Canada nhưng đã bị ngăn chặn từ ngày 6-8 tháng 6 bởi Sư đoàn 21 Panzer và Sư đoàn 12 của Sư đoàn số 12 Hitlerjugend. Bên kia chiến tuyến Rommel ra lệnh cho Sư đoàn 2 Panzer đến Caen trong khi Thống chế Gerd von Rundstedt yêu cầu và nhận được sự cho phép của Hitler để có các sư đoàn ưu tú được gửi tới Caen. Vì thế, Montgomery phải đối mặt với cái mà Stephen Badsey gọi là "đáng gờm nhất" của tất cả các đơn vị Đức ở Pháp. Sư đoàn thứ 12 của Waffen SS Hitlerjugend như tên gọi của nó được rút ra hoàn toàn từ các Thanh niên Hitler cuồn tín và được chỉ huy bởi SS-Brigadeführer Kurt Meyer tàn nhẫn, hay còn gọi là "Panzer Meyer".

Khi chiến dịch tiến triển, Montgomery đã thay đổi kế hoạch ban đầu của mình cho cuộc tấn công và tiếp tục chiến lược thu hút và cầm chân các cuộc phản công của Đức ở khu vực phía bắc Caen hơn là về phía nam, cho phép Quân đội của Hoa Kỳ ở phía tây chiếm Cherbourg. Vào ngày 12 tháng 6, Montgomery ra lệnh cho Sư đoàn 7 vào cuộc, tấn công vào Sư đoàn Panzer Lehr. Tại Villers Bocage vào ngày 14 tháng 6, người Anh đã mất 20 xe tăng Cromwell khi đối đầu với 5 xe tăng Tiger do SS Obersturmführer Michael Wittmann dẫn đầu trong khoảng năm phút. Mặc dù thất bại tại Villers Bocage, Montgomery vẫn lạc quan khi các đồng minh đổ bộ được nhiều quân hơn là thắng thua trong trận chiến, và mặc dù quân Đức đang nắm thế chủ độbbf, Wehrmacht và Waffen SS đang bị tiêu hao đáng kể. Tướng không quân Arthur Tedder phàn nàn rằng không thể di chuyển các phi đội máy bay chiến đấu sang Pháp cho đến khi Montgomery chiếm được một số sân bay. Các cuộc tấn công V-1 đầu tiên trên London, bắt đầu vào ngày 13 tháng 6 đã làm tăng áp lực lên Montgomery.

Trong Chiến dịch Epsom, Quân đoàn VII của Anh chỉ huy bởi Sir Richard O'Connor tiến chiếm Caen từ phía tây bằng cách phá vỡ đường phân chia giữa Panzer Lehr và SS 12 để dành chiến thắng. Epsom bắt đầu tốt với cuộc tấn công của lực lượng O'Connor, Sư đoàn Scotland thứ 15 của Anh đột nhập và Sư đoàn 11 bọc thép ngăn chặn các cuộc phản công của Sư đoàn SS 12. Tướng Friedrich Dollmann của Quân đoàn 7 phải giao phó Quân đoàn SS mới đến để ngăn chặn cuộc tấn công của Anh. Dollmann được thay thế bởi SS Oberstegruppenführer Paul Hausser. O'Connor, với khoảng 4.000 quân, đã giành được một điểm nổi bật rộng 5 dặm (8,0 km) sâu và 2 dặm (3,2 km).

Vào ngày 7 tháng 7, Montgomery bắt đầu Chiến dịch Charnwood với một cuộc tấn công bằng bom, đánh bom khiến nhiều vùng nông thôn Pháp và thành phố Caen trở thành một vùng đất hoang. Người Anh và người Canada đã thành công trong việc tiến vào miền bắc Caen trước khi người Đức sử dụng tàn tích để lợi dụng và ngăn chặn cuộc tấn công. Vào ngày 10 tháng 7, Montgomery ra lệnh cho Bradley bắt Avranches, sau đó Quân đội Mỹ thứ 3 sẽ được kích hoạt để lái xe tới Le Mans và Alençon.

Cuộc kháng chiến của lực lượng Pháp đã đưa ra kế hoạch Violet vào tháng 6 năm 1944 để tiêu diệt hệ thống điện thoại tại Pháp, buộc người Đức phải sử dụng radio của họ nhiều hơn và nhiều hơn nữa để giao tiếp, và khi những người phá mã, Bletchley Park đã phá vỡ nhiều thông tin quân sự Đức, Montgomery đã nắm được nhiếu thông tin về tình hình của Đức. Vì vậy, Montgomery biết rằng Nhóm B của quân đội Đức đã mất 96.400 quân trong khi chỉ nhận được 5.200 quân thay thế và Sư đoàn Panzer Lehr hiện chỉ còn 40 xe tăng.

Vào sáng sớm ngày 18 tháng 7 năm 1944, Chiến dịch Goodwood bắt đầu với những chiếc máy bay ném bom hạng nặng của Anh bắt đầu các cuộc tấn công bom đánh bom tàn phá những gì còn lại sót lại của Caen và các vùng nông thôn xung quanh. Vụ đánh bom của Anh đã phá hỏng các đơn vị tiền tuyến của Đức. Montgomery bày tỏ sự hài lòng của mình với kết quả của Goodwood. Tuy nhiên việc này dẫn đến sự không hài lòng của Eisenhower.

Nhiều sĩ quan Mỹ đã cho rằng Montgomery là một người đàn ông khó ưa và sau Chiến dịch Goodwood. Mặc dù tranh chấp giữa Eisenhower-Montgomery đôi khi được mô tả trong các thuật ngữ dân tộc như là một cuộc đấu tranh Anh-Mỹ, đó là khi Tướng không quân Anh Arthur Tedder, người đã yêu cầu Eisenhower thay thế Montgomery. Tedder dẫn đầu chiến dịch "sa thải Monty", nó khuyến khích kẻ thù Mỹ của Montgomery ép Eisenhower thay thế Montgomery. Brooke đã rất lo lắng về chiến dịch "sa thải Monty", Brooke đến thăm Montgomery tại trụ sở chiến thuật (TAC) ở Pháp. Brooke khuyên Montgomery mời Churchill đến Normandy, tranh luận rằng nếu chiến dịch "sa thải Monty" thắng thì sự nghiệp của ông sẽ kết thúc và như vậy ông cần có sự ủng hộ của Churchill để cứu chính mình. Vào ngày 20 tháng 7, Montgomery gặp Eisenhower và vào ngày 21 tháng 7 Churchill tại TAC ở Pháp. Không có ghi chú nào được đưa ra tại các buổi họp Eisenhower-Montgomery và Churchill-Montgomery, nhưng Montgomery có thể thuyết phục cả hai người không loại bỏ ông.

Sau cuộc đột kích của Mỹ, theo sau trận Falaise Gap, quân đội Anh, Canada và Ba Lan thuộc Quân đoàn 21 được chỉ huy bởi Montgomery tiến về phía nam trong khi binh lính Mỹ và Pháp thuộc Nhóm 12 của Quân đội Bradley tiến lên phía bắc để bao vây Quân đội Đức tại Falaise như Montgomery gọi là "một trận chiến hủy diệt khổng lồ" vào tháng 8 năm 1944. Montgomery bắt đầu tấn công vào vùng Suisse Normande với Chiến dịch Bluecoat cùng với Quân đoàn VIII của Sir Richard O'Connor và Quân đoàn XXX của Gerard Bucknall tiến về phía nam. Montgomery đã sa thải Bucknall vì không tích cực và thay thế ông bằng Tướng Brian Horrocks. Đồng thời, Montgomery ra lệnh cho Patton có Quân đội thứ ba được cho là sẽ tiến vào Brittany và thay vào đó ra lệnh cho Patton phải chiếm giữ Nantes.

Tiến đến sông Rhine

Tướng Eisenhower tiếp quản Bộ Tư lệnh Lực lượng Mặt Đất vào ngày 1 tháng 9, trong khi tiếp tục là Tư lệnh Tối cao. Montgomery tiếp tục chỉ huy Nhóm Quân đội 21, hiện nay chủ yếu bao gồm các đơn vị Anh và Canada. Montgomery cay đắng và phẫn nộ vì thay đổi này, mặc dù nó đã được đồng ý trước cuộc tấn công D-Day. Nhà báo người Anh Mark Urban viết rằng Montgomery dường như không thể hiểu được rằng phần lớn trong số 2,2 triệu binh sĩ Đồng Minh chiến đấu chống lại Đức trên Mặt trận phía Tây giờ đây là người Mỹ (tỷ lệ là 3: 1). Winston Churchill đã phong cho Montgomery thành thống chế như một cách đền bù. Vào tháng 9 năm 1944, Montgomery ra lệnh cho Crerar và Quân đội Canada của ông đi chiếm giữ các cảng của Pháp, cụ thể là Calais, Boulogne và Dunkirk. Vào ngày 4 tháng 9, Antwerp, cảng lớn thứ ba ở châu Âu đã bị chiếm giữ bởi Horrocks, với hiện trạng hầu như nguyên vẹn. Lữ đoàn Witte (Lữ đoàn Trắng) của lực lượng kháng chiến Bỉ đã chiếm được Cảng Antwerp, trước khi người Đức có thể phá hủy cảng. Antwerp là một cảng nước sâu nội địa nối với Biển Bắc qua sông Scheldt. Scheldt đủ rộng và được nạo vét đủ sâu để cho phép các tàu biển đi qua.

Nhóm Quân đội 21 của Montgomery tiến vào sông Rhine vào tháng 2 năm 1945. Một kế hoạch vượt sông đã được thực hiện tỉ mỉ vào ngày 24 tháng Ba. Vào ngày 4 tháng 5 năm 1945, tại Lüneburg Heath, Montgomery chấp nhận sự đầu hàng của các lực lượng Đức ở phía tây bắc Đức, Đan Mạch và Hà Lan.

Quan điểm chính trị

Montgomery không chỉ quan tâm đến chiến thắng bằng cách đánh bại Đức, mà còn đảm bảo rằng nước Anh vẫn được xem là một cường quốc sau chiến tranh, có thể ảnh hưởng đến chính sách toàn cầu. Chịu thiệt hại nặng nề ở Normandy sẽ làm giảm ảnh hưởng của Anh vào thời kỳ hậu chiến, và đặc biệt là sau chiến tranh châu Âu.Nhiều cuộc xung đột của Montgomery với Eisenhower dựa trên quyết tâm của ông để theo đuổi cuộc chiến "trên những phương thức phù hợp nhất với nước Anh". Số lượng các đơn vị chiến đấu mà người Anh đã tham gia vào cuối chiến tranh, thì ảnh hưởng của Anh nhỏ hơn so với các cường quốc mới nổi là Hoa Kỳ và Liên Xô. Vì thế, Montgomery bị đặt trong tình trạng tiến thoái lưỡng nan - Quân đội Anh cần phải có vai trò quan trọng phân nữa trong giải phóng châu Âu, nhưng không gây ra thương vong nặng nề mà điều này thì khó thực hiện. Quân đoàn 21 hiếm hoi sở hữu đủ lực lượng, tuy nhiên các đơn vị còn lại phải được sử dụng một cách tiết kiệm.

Điều này đã được báo cáo cho Văn phòng chiến tranh rằng "Montgomery phải rất cẩn thận về những gì ông ấy làm trên sườn phía đông chiến trường vì trên sườn đó là lực lượng quân đội Anh duy nhất còn lại". Bối cảnh thương vong của Anh và sự thiếu quân tiếp viện, khiến Montgomery phải "quá thận trọng". Giải pháp của Montgomery đối với tình thế tiến thoái lưỡng nan là cố gắng giữ tư lệnh của tất cả các lực lượng mặt đất cho đến khi kết thúc chiến tranh, với bất kỳ chiến thắng nào đạt được.

Montgomery nổi tiếng vì thiếu sự khéo léo và ngoại giao. Ngay cả "người bảo trợ" của ông, Alan brooke, thường nhắc đến nó trong nhật ký chiến tranh của mình: "Ông ta phải chịu trách nhiệm vì sai sót không rõ ràng". Một sự cố minh họa điều này xảy ra trong chiến dịch Bắc Phi khi Montgomery đặt cược với Walter Bedell Smith rằng ông ta có thể bắt được Sfax vào giữa tháng 4 năm 1943. Smith trả lời đùa rằng nếu Montgomery có thể làm điều đó, Smith sẽ cho ông ta một Phi đội bay hoàn chỉnh với phi hành đoàn. Smith nhanh chóng quên tất cả về nó, nhưng Montgomery không, và khi bắt được Sfax vào ngày 10 tháng 4, ông đã gửi một tin nhắn tới Smith "tuyên bố chiến thắng của mình". Smith đã cố gắng để cười xòa, và Montgomery đã không có được nó Phi đội bay. Ngay cả Alan brooke cũng nghĩ rằng nó là "sự ngu ngốc khủng khiếp".

Cuối đời

Sau chiến tranh, Montgomery trở thành Tổng Tư lệnh của Quân đội Anh Rhine (BAOR), tên được đặt cho Lực lượng chiếm đóng của Anh, và là thành viên của Hội đồng kiểm soát Đồng minh Anh. Montgomery cũng là Chủ tịch CLB Bóng đá Portsmouth từ năm 1944 đến năm 1961. Ông là Giám đốc của Imperial General Staff (CIGS) từ 1946 đến 1948, kế nhiệm Alan brooke.

Ông là chủ tịch của cơ quan quản lý của trường St John ở Leatherhead, Surrey, 1951-1966, và một người ủng hộ hào phóng. Montgomery là một Thành viên danh dự của Câu lạc bộ Winkle, một tổ chức từ thiện nổi tiếng ở Hastings, đông Sussex.

Năm 1976 Montgomery chết tại nhà Isington Mill ở Isington, ở hạt Hampshire, ở tuổi 88. Sau một đám tang tại nhà nguyện St George, Windsor, thi thể ông được chôn cất tại nhà thờ Holy Cross, ở Binsted, Hampshire.

Chú thích

  1. ^ Hamilton (entry author). Dictionary of National Biography. XXXVIII. tr. 324.
  2. ^ Montgomery. Bishop Montgomery.
  3. ^ Hamilton, p. 31 (1981)
  4. ^ Hamilton, p. 5 (1981)
  5. ^ Chalfont, p. 29 (1976)
  6. ^ Bierman & Smith, p. 223 (2002)

Tham khảo

  • Alanbrooke, Field Marshal Lord (edited by Alex Danchev and Daniel Todman) (2001). War Diaries 1939–1945. London: Phoenix Press. ISBN 1-84212-526-5.
  • Brereton, Lewis. The Brereton Diaries: The War in the Air in the Pacific, Middle East and Europe, 3 tháng 10 năm 1941 – 8 tháng 5 năm 1945. Morrow.
  • Bierman, John & Smith, Colin. Alamien: War without hate. Penguin Group. 2002 ISBN 0-670-91109-7
  • Brett-James, Anthony, Conversations with Montgomery, Irwin Pub., 1984. ISBN 978-0718305314
  • Bungay, Stephen, Alamein, Auram, 2002. ISBN 978-1854109293
  • Chalfont, Arthur Gwynne Jones, Montgomery of Alamein, Atheneum, 1976. ISBN 978-0689107443
  • D'Este, Carlo. Decision in Normandy: The Unwritten Story of Montgomery and the Allied Campaign. London: William Collins Sons, 1983. ISBN 0002170566.
  • Barnett, Corelli, The Desert Generals, Cassell, 1960. ISBN 978-0304352807
  • Dixon, Norman, On the Psychology of Military Incompetence, Pimlico, 1976. ISBN 978-0712658898
  • Eisenhower, Dwight D. (1948). Crusade in Europe. London: William Heinemann. OCLC 219971286.
  • Fraser, David, And We Shall Shock Them: The British Army in World War II, Sceptre, 1988. ISBN 978-0340426371
  • Hamilton, Nigel (2001). The Full Monty: Montgomery of Alamein 1887–1942. London: Allen Lane. ISBN 0-7139-9334-0.
  • Hamilton, Nigel (1981). Monty: The Making of a General. London: Hamish Hamilton Ltd.
  • Hamilton, Nigel (1984). Monty: Master of the Battlefield. London: Hamish Hamilton Ltd. ISBN 978-0241111048.
  • Hamilton, Nigel (1986). Monty: The Field-Marshal 1944–1976. London: Hamish Hamilton Ltd. ISBN 0-241-11838-7.
  • Harrison, Mark (2004). Medicine and Victory: British Military Medicine in the Second World War. Oxford University Press. ISBN 0199268592.
  • Hart, Stephen (2000). Montgomery and "Colossal Cracks": The 21st Army Group in Northwest Europe, 1944–45. Praeger.
  • Heathcote, Tony, The British Field Marshals 1736–1997, Pen & Sword Books Ltd, 1999. ISBN 0-85052-696-5
  • Hastings, Max, Armageddon: The Battle for Germany, 1944–1945, Knopf, 2004. ISBN 0375414339
  • Lattimer, Jon, Alamein, John Murray, 2002. ISBN 978-0674013766
  • McKee, Alexander, Caen: Anvil of Victory, 1984. ISBN 978-0333383131
  • Mead, Richard (2007). Churchill's Lions: A biographical guide to the key British generals of World War II. Stroud (UK): Spellmount. ISBN 978-1-86227-431-0.
  • Montgomery, Bernard Law,A Concise History of Warfare, 1968. ISBN 978-1840222234
  • Montgomery, Bernard Law, The Path to Leadership, 1957.
  • Montgomery, Maud (1933). Bishop Montgomery: A Memoir. London: Society for the Propagation of the Gospel.
  • Neillands, Robin, The Battle for the Rhine 1944, 2005. ISBN 978-1590200285
  • Playfair, Major-General I.S.O.; with Flynn, Captain F.C. (R.N.); Molony, Brigadier C.J.C. & Gleave, Group Captain T.P. (2004) [1st. pub. HMSO:1960]. Butler, Sir James, biên tập. The Mediterranean and Middle East, Volume III: British Fortunes reach their Lowest Ebb (September 1941 to September 1942). History of the Second World War, United Kingdom Military Series. Uckfield, UK: Naval & Military Press. ISBN 1-845740-67-X.
  • Playfair, Major-General I.S.O.; Molony, Brigadier C.J.C.; with Flynn, Captain F.C. (R.N.) & Gleave, Group Captain T.P. (2004) [1st. pub. HMSO:1966]. Butler, Sir James, biên tập. The Mediterranean and Middle East, Volume IV: The Destruction of the Axis Forces in Africa. History of the Second World War, United Kingdom Military Series. Uckfield, UK: Naval & Military Press. ISBN 1-845740-68-8.
  • Ryan, Cornelius (1974). A Bridge Too Far. Hodder.
  • Sheehan, William, British Voices from the Irish War of Independence, 2005. ISBN 978-1905172375
  • Schultz, James. A framework for military decision making under risks. Thesis, Air University, Maxwell Airforce Base, Alabama, 1998.
  • Weigley, Russel F., Eisenhower's Lieutenants, Bloomington, IN: Đại học Indiana Press, 1981. ISBN 0-253-13333-5
1887

1887 (số La Mã: MDCCCLXXXVII) là một năm thường bắt đầu vào Thứ Bảy trong lịch Gregory hay một năm thường bắt đầu vào ngày Thứ Năm theo lịch Julius, chậm hơn 12 ngày.

1945

1945 là một năm bắt đầu vào ngày Thứ hai trong lịch Gregory. Theo âm dương lịch Việt Nam, năm 1945 có đa số các ngày trùng với năm âm lịch Ất Dậu.

1976

Theo lịch Gregory, năm 1976 (số La Mã: MCMLXXVI) là một năm nhuận bắt đầu từ ngày thứ năm.

Bản mẫu:Tháng trong năm 1976

23 tháng 1

Ngày 23 tháng 1 là ngày thứ 23 trong lịch Gregory. Còn 342 ngày trong năm (343 ngày trong năm nhuận).

24 tháng 3

Ngày 24 tháng 3 là ngày thứ 83 trong mỗi năm thường (ngày thứ 84 trong mỗi năm nhuận)trong lịch Gregory. Còn 282 ngày nữa trong năm.

Chiến dịch Barbarossa

Barbarossa (tiếng Đức: Unternehmen Barbarossa) là mật danh của chiến dịch xâm lược Liên bang Xô viết do Quân đội Đức Quốc xã tiến hành trong chiến tranh thế giới thứ hai. Với tên ban đầu là kế hoạch Otto và được đích thân Hitler đổi thành "Barbarossa" theo biệt hiệu của vị Hoàng đế La Mã Thần thánh Friedrich I ở thế kỷ XII vào ngày 18 tháng 12 năm 1940, chiến dịch có mục tiêu nhanh chóng chiếm đóng phần lãnh thổ phía Tây đường ranh giới nối liền giữa hai thành phố Arkhangelsk và Astrakhan (thường gọi là tuyến A-A) của Liên Xô, được mở màn vào sáng ngày 22 tháng 6 năm 1941 trên toàn bộ tuyến biên giới phía Tây của Liên Xô và thực tế kết thúc vào đầu tháng 2 năm 1942 trước cửa ngõ Moskva.

Trong toàn chiến dịch, mặc dù Quân đội Đức Quốc xã đã giành được một số chiến thắng vang dội ở cấp độ chiến thuật, chiếm được phân nửa lãnh thổ thuộc châu Âu của Liên Xô trong đó có một số vùng kinh tế quan trọng, nhưng không hoàn thành mục tiêu mà kế hoạch đề ra. Kể từ sau khi đợt tấn công Moskva bị bẻ gãy vào cuối tháng 1 năm 1942, Quân đội Đức Quốc xã không còn đủ sức tổ chức một đợt tổng tấn công nào khác trên toàn bộ mặt trận, khiến chiến lược đánh nhanh thắng nhanh trước mùa đông 1941-1942 của Hitler hoàn toàn phá sản.

Thất bại về mặt chiến lược của chiến dịch Barbarossa là một bước ngoặt quan trọng, buộc Hitler phải tham gia vào một cuộc chiến tranh tổng lực mà nước Đức Quốc xã và đồng minh phe Trục kém thế tương quan về năng lực sản xuất công nghiệp và khả năng tổng động viên so với Liên Xô và phe Đồng minh, dẫn tới sự suy yếu rồi thất bại hoàn toàn trong Chiến tranh thế giới thứ hai.

Về mặt lịch sử, thì chiến dịch Barbarossa được ghi nhận là chiến dịch quân sự có quy mô lớn nhất về quân số tham chiến và cũng là chiến dịch đẫm máu nhất với con số thương vong lớn chưa từng có trong lịch sử thế giới.

Chiến dịch Husky

Cuộc xâm lược của phe đồng minh ở Sicilia, có tên mã là chiến dịch Husky, là một trong những chiến dịch lớn trong Chiến tranh thế giới thứ hai, khi phe Đồng Minh đã giành lại đảo Sicily từ Ý và Đức quốc Xã. Đây là cuộc tác chiến lớn trên mặt đất và trên không, tiếp đó là một chiến dịch kéo dài sáu tuần và là khởi đầu của Chiến dịch Ý.

Chiến dịch Market Garden

Chiến dịch Market Garden là một chiến dịch của quân đội Đồng Minh bắt đầu ngày 17 tháng 9 năm 1944 tấn công vào các cầu lưu thông tại Hà Lan và phía tây nước Đức. Đây là cuộc tấn công bằng lực lượng lính dù lớn nhất trong lịch sử quân sự xưa nay.

Mục tiêu của chiến dịch này là thả lính dù vào tấn công và chiếm đóng nhanh chóng các cầu băng ngang sông Meuse, hai nhánh chính và các kênh rạch thuộc sông Rhine. Theo kế hoạch dự tính sau khi các cầu được kiểm soát, lục quân Đồng Minh sẽ vượt mạng dưới sông Rhine, tấn công vào sườn của tuyến phòng thủ Siegfried và bao vây khu vực kỹ nghệ trọng yếu Ruhr của Đức.

Tuy đạt được một vài thành công trong giai đoạn đầu, chiến dịch này cuối cùng thất bại vì quân Đức phá sập được một cầu chính yếu tại kênh Wilhelmina Canal thuộc Son làm chậm bước tiến của Đồng Minh đến cây cầu chính của sông Meuse. Tại Arnhem, quân Anh bị phản công dữ dội, không tiến qua cầu được, sau đó còn bị vây khốn và phải rút lui ngày 25 tháng 9.

Quân Đồng Minh thất bại, không đưa được đủ lực lượng sang sông Rhine và sông này tiếp tục gây trở ngại cho kế hoạch tấn công vào Đức cho đến tháng 3 năm 1945, khi cuộc tấn công vào Remagen, Oppenheim, Rees và Wesel thành công.

Georgi Konstantinovich Zhukov

Georgi Konstantinovich Zhukov (tiếng Nga: Георгий Константинович Жуков, đọc là Ghê-oóc-ghi Can-xtan-chi-nô-vích Giu-cốp; 1 tháng 12 năm 1896 – 18 tháng 6 năm 1974) là danh tướng trong quân đội Liên Xô. Trong rất nhiều tướng lĩnh nổi danh thế giới trong Chiến tranh thế giới thứ hai, G.K. Zhukov được xếp đầu bảng về số lượng trận thắng nhiều và quy mô lớn, được nhiều người công nhận về tài năng chỉ đạo chiến dịch và chiến lược. Những chiến tích của ông đã trở thành những đóng góp rất lớn vào kho tàng di sản kiến thức quân sự nhân loại. Nó không những có ảnh hưởng lớn về lý luận quân sự của Liên Xô mà cũng có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển của lý luận quân sự thế giới.Theo nhận định của Nguyên soái A. M. Vasilevsky, G. K. Zhukov là một trong những nhà cầm quân lỗi lạc của nền quân sự Xô Viết. Trong cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại của Liên bang Xô viết, ông đã giữ các chức vụ Tư lệnh Phương diện quân Dự bị, Tư lệnh Phương diện quân Tây, Tư lệnh Phương diện quân Beloussia 1, Tổng tham mưu trưởng quân đội Liên Xô, Thứ trưởng Bộ dân ủy Quốc phòng kiêm Phó Tổng tư lệnh tối cao quân đội Liên Xô, Ủy viên Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Hầu hết các nhà lãnh đạo quân sự nổi tiếng thế giới cùng thời với ông như Thống chế Anh Sir Bernard Law Montgomery, Thống tướng Hoa Kỳ Dwight David Eisenhower, Thống chế Pháp Jean de Lattre de Tassigny đều công nhận tên tuổi của ông đã gắn liền với hầu hết các chiến thắng lớn trong cuộc chiến như Trận Moskva (1941), Trận Stalingrad, Trận Kursk, Chiến dịch Bagration, Chiến dịch Visla-Oder và Chiến dịch Berlin. Trong giai đoạn sau chiến tranh, ông giữ các chức vụ Tổng tư lệnh quân đội Liên Xô tại nước Đức, tư lệnh các quân khu Odessa và Ural. Sau khi lãnh tụ tối cao I. V. Stalin qua đời, ông được gọi về Moskva và được bổ nhiệm chức vụ Thứ trưởng thứ nhất Bộ Quốc phòng Liên Xô. Trong thời gian từ năm 1955 đến năm 1957, ông giữ chức vụ Ủy viên trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Liên Xô. Năm 1957, trong thời gian đang đi thăm Nam Tư, ông bị đưa ra khỏi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Năm 1958, ông bị miễn nhiệm tất cả các chức vụ trong quân đội.

Mặt trận phía Tây (Thế chiến thứ hai)

Mặt trận phía tây của chiến trường châu Âu trong Chiến tranh thế giới thứ hai bao gồm các trận chiến trên lãnh thổ của Đan Mạch, Na Uy, Luxembourg, Bỉ, Hà Lan, Pháp, và phía tây của Đức. Mặt trận phía tây chia làm ba giai đoạn chính. Giai đoạn đầu (1939-1940) khối Trục thắng lợi. Quân đội Đức Quốc xã xâm chiếm các nước Hà Lan, Bỉ, Luxembourg và Pháp trong hai tháng 5 - 6 năm 1940 và mở cuộc tấn công vào Anh. Giai đoạn giữa (1941-1944), quân Đức làm chủ tình hình mặt trận. Giai đoạn cuối (1944-1945) khối Đồng Minh giành được thế thắng, bắt đầu từ cuộc đổ bộ vào Normandie cho đến tháng 5 năm 1945 khi Đức đầu hàng.

Trận Alam el Halfa

Trận Alam el Halfa là một trận đánh tại Ai Cập thời Chiến tranh thế giới thứ hai, đã diễn ra từ ngày 30 tháng 8 cho đến ngày 5 tháng 9 năm 1942 ở phía nam El Alamein trong Chiến dịch Sa mạc Tây. Tập đoàn quân xe tăng châu Phi (Panzerarmee Afrika) — một lực lượng của Đức-Ý dưới quyền chỉ huy của Thống chế Erwin Rommel — đã tiến hành hợp vây Tập đoàn quân số 8 của Anh, dưới quyền chỉ huy của tướng Bernard Montgomery. Đây là cuộc tấn công quy mô lớn cuối cùng của phe Trục (Chiến dịch Brandung) trong Chiến dịch Sa mạc Tây, trong đó Rommel đã lập kế hoạch đánh bại Tập đoàn quân số 8 của Anh trước khi khối Đồng Minh được tăng viện dẫn đến tình hình bất lợi cho khối Trục.

Montgomery—người đã được hệ thống tình báo Ultra báo trước về những ý định của Rommel—đã cố tình để lại một lỗ hổng ở khu vực phía nam của trận tuyến, vì biết rằng Rommel dự kiến sẽ tiến công nơi này, và triển khai chủ lực của các lực lượng thiết giáp và pháo binh của ông ta xung quanh cao điểm Alam el Halfa, 20 mi (32 km) về phía sau trận tuyến. Trong một chiến thuật mới, các cỗ xe tăng được sử dụng trong một vai trò của vũ khí chống tăng, được giữ nguyên ở các vị trí của chúng trên cao điểm và không được tiến hành phá vây để bị tiêu diệt như trong quá khứ.

Cuộc tấn công của Rommel đã giành được thắng lợi ban đầu. Tuy nhiên, do liên quân Đức - Ý bị thiếu hụt nhiên liệu, và do các cuộc tiến công của ông ta vào cao điểm bị bẻ gãy, Rommel ra lệnh rút quân. Montgomery không khai thác thắng lợi phòng ngự của mình, thay vì đó quyết định củng cố các lực lượng của mình để chuẩn bị cho trận El Alamein lần thứ hai. Mặc dù vậy, Sư đoàn New Zealand số 2 đã phát động một cuộc tấn công vào các vị trí phòng ngự của quân đội Ý, và cuộc tấn công này sớm bị đánh bật với thiệt hại nặng nề. Không biết về hệ thống tình báo Ultra của Anh, Rommel đã tuyên bố rằng ưu thế về không quân của Anh đóng vai trò quyết định cho thắng lợi của họ tại Alam el Halfa. Rommel nhận thấy rằng các cuộc tấn công thất bại của mình đã gây tổn thất lớn cho các lực lượng cơ giới của khối Trục và buộc ông ta phải chấm dứt chiến dịch tấn công của mình.Đối với quân đội phe Trục, cái giá của thất bại tại Alam el Halfa không chỉ là một thất bại chiến thuật và một cuộc rút lui. Với các cuộc tấn công thất bại tại Alam Halfa, Rommel không chỉ đánh mất khả năng chiến dịch của mình để khởi đầu các chiến dịch tấn công khác, mà ông còn mất khả năng chiến dịch và chiến thuật để phòng thủ căn cứ của quân đội Đức Quốc xã tại châu Phi. Các mục tiêu chiến lược của khối Trục ở chiến trường châu Phi không còn có thể thực hiện được nữa.

Trận Ardennes (Thế chiến thứ hai)

Trận Ardennes là một trận chiến quan trọng trong phần cuối của Chiến tranh thế giới thứ hai. Sau khi đổ bộ thành công vào Normandie, quân Đồng Minh chiếm được lợi thế và dần dần đẩy lui quân Đức Quốc xã ra Tây Âu. Trước tình hình này, Adolf Hitler cùng ban tham mưu Đức đặt kế hoạch mở một cuộc phản công bất ngờ để phá thủng trận tuyến của Đồng Minh, với hy vọng cắt đôi lực lượng quân đội Anh, chiếm lại Antwerp (Bỉ) và sau đó bọc hậu bao vây 4 quân đoàn của khối Đồng Minh làm con tin đòi Đồng Minh phải ký hòa ước.Cuộc phản công này được tổ chức trong bí mật và gây tổn thất bất ngờ cho quân Đồng Minh. Mặc dầu có tình báo cho biết quân Đức sẽ mở cuộc phản công, bộ chỉ huy Đồng Minh lúc bấy giờ đang ỷ thế thắng, mải lo công mà quên thủ, nên thiếu chuẩn bị. Ngoài ra, quân Đồng Minh còn gặp những trở ngại khác như thiếu liên lạc tình báo và không quân bị trì trệ vì thời tiết mùa đông.

Báo chí tiếng Anh gọi trận đánh này là Battle of the Bulge (Bulge nghĩa là phình ra) vì khi nhìn trên bản đồ quân sự, quân Đức thọc thủng được một lỗ hổng lớn và tràn sang khu quân sự của Đồng Minh tạo nên một mũi dùi tương tự như một khối u sưng.

Ngay ngày đầu của cuộc phản công, 16 tháng 12 năm 1944, quân Hoa Kỳ bị tổn thất nặng nề. Hai trung đoàn của Sư đoàn Bộ binh 106 Hoa Kỳ bị bắt gọn. Trận Ardennes là trận đánh đẫm máu nhất của quân đội Hoa Kỳ trong Chiến tranh thế giới thứ hai, với 19.000 lính tử trận. Những bước tiến ban đầu của chiến dịch có thể được xem là chiến thắng cuối cùng của quân đội Đức đồng thời là thảm họa đầu tiên mà quân đội Mỹ gặp phải trong giai đoạn 1944-1945 của cuộc chiến. Nhưng, sau nhiều ngày chiến đấu, quân Đồng Minh giành lại được thế chủ động và đẩy lui quân Đức. Quân Đức không đạt được mục tiêu của kế hoạch và lực lượng bị suy giảm rất nhiều, phải lui về cố thủ dọc phòng tuyến Siegfried. Không thể bù đắp cho thiệt hại nặng nề của mình, quân Đức tiêu tan hy vọng. Sau thắng lợi quyết định này, quân Đồng Minh đã tràn vào nước Đức.

Trận El Alamein (định hướng)

El Alamein là một cứ điểm phía Bắc châu Phi. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, quân Đồng Minh và quân phe Trục đánh nhau kịch liệt tại vùng đất này.

Có 2 trận El Alamein đã diễn ra tại đây:

Trận El Alamein thứ nhất vào tháng 7 năm 1942.

Trận El Alamein thứ hai trong tháng 10 và 11 năm 1942.Quân đội phe Trục do Erwin Rommel chỉ huy tuy thắng thế trong trận El Alamein thứ nhất (1 - 27 tháng 7 1942) nhưng không đủ sức tiến quân xa hơn và hai bên rơi vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan.

Trong trận El Alamein thứ hai (23 tháng 10 - 3 tháng 11 1942), quân Đồng Minh do Bernard Montgomery chỉ huy chiến thắng và bắt đầu cuộc đẩy lui quân đội Phát Xít ra khỏi Bắc Phi.

Trận El Alamein thứ hai

Trận El Alamein thứ hai diễn ra trong vòng 20 ngày từ 23 tháng 10 đến 11 tháng 11 năm 1942 ở gần thành phố duyên hải El Alamein của Ai Cập, và chiến thắng của Đồng Minh tại đây đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng của Chiến dịch Sa mạc Tây trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Trận này nối tiếp trận El Alamein thứ nhất trước đó đã chặn đứng đà tiến quân của phe Trục vào lãnh thổ Ai Cập, và đến tháng 8 năm 1942, trung tướng Bernard Montgomery đã tiếp nhận quyền chỉ huy Tập đoàn quân số 8 Anh của tướng Claude Auchinleck.

Có thể coi chiến thắng của quân Đồng Minh trong trận này là một trong những thắng lợi quyết định của cuộc chiến, góp phần xoay chuyển thế trận sang chiều hướng có lợi cho họ. Nó đã làm thay đổi toàn diện tình hình chiến sự tại Mặt trận Bắc Phi và chấm dứt mối đe dọa đối với Ai Cập, kênh đào Suez, cũng như khả năng các mỏ dầu ở Trung Đông và Ba Tư của quân đội phe Trục qua ngả Bắc Phi. Từ góc độ tâm lý, El Alamein đã vực dậy tinh thần phe Đồng Minh, vì đây là chiến dịch tấn công lớn đầu tiên chống lại quân Đức mà quân Đồng Minh phương Tây giành được một thắng lợi quyết định kể từ khi chiến tranh bùng nổ ở châu Âu năm 1939.

Trận Hà Lan

Trận Hà Lan (tiếng Hà Lan: Slag om Nederland) là một phần trong "Kế hoạch Vàng" (tiếng Đức: Fall Gelb) - cuộc xâm lăng của Đức Quốc xã vào Vùng đất thấp (Bỉ, Luxembourg, Hà Lan) và Pháp trong chiến tranh thế giới thứ hai. Trận chiến bắt đầu ngày 10 và kết thúc ngày 14 tháng 5 năm 1940 khi quân đội chính quy của Hà Lan ra hàng Đức, và Hà Lan trở thành quốc gia Tây Âu đầu tiên rơi vào tay quân đội Đức Quốc xã. Đây là chiến dịch quân sự ngắn nhất và ít thiệt hại nhất đối với Đức nằm trong khuôn khổ trận chiến nước Pháp. Riêng lực lượng của Hà Lan tại tỉnh Zeeland còn tiếp tục kháng cự với quân đội Đức Quốc xã cho đến ngày 17 tháng 5, khi Đức hoàn tất việc chiếm đóng toàn bộ lãnh thổ Hà Lan.

Trận Hà Lan là một trong những trường hợp đầu tiên quân dù được sử dụng để đánh chiếm các mục tiêu quan trọng trước khi bộ binh tiếp cận mục tiêu. Không quân Đức đã huy động lực lượng lính dù đánh chiếm nhiều sân bay lớn của Hà Lan ở trong và lân cận các thành phố chính như Rotterdam và Den Haag để nhanh chóng tràn ngập quốc gia này và vô hiệu hóa các lực lượng của Hà Lan.

Trận chiến đã kết thúc ngay sau cuộc oanh tạc Rotterdam của không quân Đức cùng với mối đe doạ sau đó của Đức về việc hủy diệt các thành phố lớn của Hà Lan bằng các đòn ném bom khủng bố huỷ diệt nếu quốc gia này không chịu khuất phục. Bộ Tư lệnh tối cao Hà Lan, biết rằng không thể ngăn chặn được các máy bay ném bom của đối phương, đã quyết định đầu hàng để tránh cho các thành phố khác của mình phải chịu số phận tương tự. Đức Quốc xã sau đó đã chiếm đóng Hà Lan, cùng với nước Pháp và các quốc gia Vùng Đất Thấp khác; cho đến khi lãnh thổ Hà Lan được hoàn toàn giải phóng vào tháng 5 năm 1945.

Trận Louvain (1940)

Trận Louvain là một trận đánh trong Trận nước Bỉ trên Mặt trận phía Tây trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, đã diễn ra vào ngày 14 tháng 5 năm 1940 ở bên trong và xung quanh thành phố Louvain của Bỉ, như một phần của Kế hoạch Vàng của Đệ tam Đế chế Đức (Fall Gelb – theo đó quân đội Đức sẽ phát động một cuộc tấn công nhử mồi, nhằm thu hút các lực lượng cơ động của Anh và Pháp về Vùng đất thấp, trong khi một đội hình thiết giáp hùng mạnh của Đức sẽ đánh thọc vào vùng núi Ardennes ở miền Nam Bỉ và Luxembourg, sau đó chạy đua ra eo biển Anh để tiêu diệt các đơn vị Đồng Minh đã kéo đến tiếp viện cho Vùng đất thấp).

Đối mặt với cuộc tấn công ào ạt của quân đội Đức vào nước Bỉ và sự thất thủ của pháo đài Eben-Emael, phần lớn quân đội Bỉ đã triệt thoái về tuyến phòng thủ Dijle, giữa Antwerp và Namur ở miền Trung Bỉ vào ngày 13 tháng 5 năm 1940, trong khi Lực lượng Viễn chinh Anh đã án ngữ tại tuyến Dijle kể từ đêm ngày 10 tháng 5. Ở cánh trái của mình, hệ thống phòng ngự của quân viễn chinh Anh chấm dứt tại thị trấn đại học Louvain – một thị trấn đã bị tàn phá nặng nề vào năm 1914. Vào ngày 14 tháng 5, binh lính của Bỉ và Anh đã nhìn thấy người Đức ở phía trước tuyến phòng thủ Dijle. Tướng Walter von Reichenau – người chỉ huy của Tập đoàn quân số 6 của Đức – hoạt động ở cánh phải Cụm tập đoàn quân B do tướng Feodor von Bock điều khiển – đã được lệnh tiến công khu vực Louvain - Namur và đây là mũi tiến công chính của Đức tại tuyến phòng ngự Dijle. Quân Bỉ cùng với Sư đoàn số 3 của Anh dưới sự chỉ huy của tướng Bernard Montgomery đã cầm cự được tại Louvain trong vòng vài ngày trước mũi tấn công của quân Đức vào Louvain: Vào ngày 15 tháng 5, Quân đoàn XI của Đức do Kortzfeisch chỉ huy tấn công mãnh liệt vào Louvain và thọc sâu đến trạm xe lửa; tuy nhiên, Montgomery đã phát động một đợt phản công thắng lợi, chặn được mọi nỗ lực của Bock nhằm đánh chiếm Louvain. Trái ngược với chiến sự tại Louvain, ở Wavre quân đội Anh bị buộc phải rút lui do cánh trái của Tập đoàn quân số 1 của Pháp đã bị quân đội Đức đẩy lùi đến sông Lasne.Cuộc phòng ngự Louvain đã góp phần cho thấy khả năng chỉ huy của Montgomery. Tuy nhiên, đến cuối ngày 15 tháng 5 năm 1940, các sự kiện về phía Nam Namur đã cho thấy là quân đội Đồng Minh không thể giữ nổi tuyến Dijle (Xem thêm bài Trận Sedan (1940) để biết về cuộc đột phá của quân Đức tại Pháp). Vào ngày 16 tháng 5, toàn bộ quân Đồng Minh tại tuyến phòng ngự Dijle đã được lệnh triệt thoái. Trong trận chiến tại Louvain, thư viện của trường Đại học Louvain đã từng trúng đạn pháo của Đức và bị cháy rụi (ngoại trừ vài ngàn tập sách). Quân đội Đức đã tiến vào thị trấn này trong ngày 17 tháng 5.

Trận Normandie

Cuộc đổ bộ của quân đội khối Đồng minh vào các bãi biển vùng Normandie ngày 6 tháng 6 1944, còn gọi là Trận chiến vì nước Pháp, là một trong những mốc lịch sử quan trọng của Thế Chiến thứ Hai. Đây là cuộc tấn công từ biển vào đất liền lớn nhất trong lịch sử, với hơn 150.000 quân lính của Hoa Kỳ, Anh Quốc, Canada cùng với quân kháng chiến Pháp, Tiệp Khắc, Ba Lan, Bỉ, Hà Lan, Na Uy, theo các chiến hạm lớn nhỏ từ miền nam Anh Quốc kéo vào đất Pháp lúc bấy giờ đang nằm dưới sự kiểm soát của quân Đức Quốc Xã. Ngay từ ngày đầu tiên, họ đã phá hủy các cầu và cắt đường liên lạc của quân Đức, và gặt hái thành công vang dội. Sau nhiều ngày chiến đấu, quân lực Đồng Minh giành được lợi thế vào tháng 7 năm ấy, đẩy được quân Đức Quốc Xã ra khỏi các căn cứ quân sự tại Normandie và trên đà thắng lợi đã tiến hành cuộc giải phóng Paris nói riêng, và cuộc tiến chiếm giải phóng châu Âu nói chung cũng như sự chấm dứt thắng lợi của cuộc chiến. Bất chấp sự kháng trả mãnh liệt của mình, quân Đức bị tổn thất lớn lao, lâm vào một thảm họa choáng váng. Thắng lợi quyết định này đã làm nên một bước ngoặt lớn cho cả cuộc Đại chiến thế giới lần thứ hai, góp phần dẫn tới sự sụp đổ của Nhà nước phát xít Đức và chấm dứt chiến tranh. Để đạt được chiến thắng vang dội này, lực lượng Đồng Minh đã phải hứng chịu thiệt hại nặng nề, và đại thắng cũng được xem là một trong những trận thắng vẻ vang và anh dũng nhất trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai.Thắng lợi này được xem là chiến thắng lớn nhất của Đại tướng Anh là Bernard Montgomery. Chiến thắng điểm ngoặt của quân lực Đồng Minh tại Normandie được xem là thành quả của kế hoạch đồ sộ của các nhà lãnh đạo chính trị, cùng với muôn triệu người khác, trong đó có cả những người lính Đồng Minh, và cũng được xem là thành tựu lớn nhất của khối Đồng Minh trong cuộc chiến. Và, thắng lợi ấy góp phần khiến cho quân đội Đức ở Tây Âu trở nên một đống tàn quân để mà phòng vệ miền Tây nước Đức sau đó.

Trận chiến nước Pháp

Trận chiến nước Pháp (tiếng Pháp: Bataille de France), hay Chiến dịch phía tây (tiếng Đức:Westfeldzug) theo cách gọi của người Đức, là một chiến dịch tấn công chiến lược của Quân đội Đức Quốc xã vào Pháp, Hà Lan, Bỉ, Luxembourg trong Chiến tranh thế giới thứ hai, bắt đầu ngày 10 tháng 5 năm 1940, đánh dấu kết thúc Cuộc chiến tranh kỳ quặc và chiến sự chính thức bùng nổ tại Tây Âu.

Cuộc chiến này bao gồm hai diễn biến chính. Đầu tiên, theo Kế Hoạch Vàng (Fall Gelb), với một chiến lược táo bạo, mũi tấn công mồi của Quân đội Đức Quốc xã vào Vùng Đất Thấp thu hút chủ lực Đồng Minh, tạo bất ngờ cho mũi tấn công chính băng qua khu rừng Ardennes. Được tổ chức theo phương thức Blitzkrieg, ngay sau khi đột phá phòng tuyến sông Meuse của Quân đội Pháp ở Sedan, lực lượng thiết giáp Đức đã thọc sâu tốc độ cao về eo biển Manche, cô lập chủ lực Đồng Minh ở phía bắc. Thắng lợi ở Dunkirk, tuy không hoàn toàn vì để Lực lượng Viễn chinh Anh kịp sơ tán trong Chiến dịch Dynamo, nhưng cũng đủ mang tính quyết định, tạo điều kiện để đánh quỵ hoàn toàn Quân đội Pháp trong các hoạt động quân sự tiếp theo. Trong giai đoạn Kế Hoạch Đỏ (Fall Rot), quân Đức bọc đánh phòng tuyến Maginot, tiến sâu xuống phía nam, kéo theo Ý nhảy vào tuyên chiến với Pháp ngày 10 tháng 6, cũng trong ngày này Chính phủ Pháp tháo chạy về Bordeaux. Paris thất thủ ngày 14 tháng 6 và từ đó dẫn tới sự khủng hoảng trong chính phủ Pháp. Ngày 17 tháng 6, Thống chế Philippe Pétain thành lập chính phủ mới và tuyên bố Pháp đề nghị đình chiến. Đến ngày 22 tháng 6 năm 1940, 6 tuần lễ sau khi chiến dịch bắt đầu, hiệp định đình chiến giữa Pháp và Đức được ký kết tại Compiègne, và có hiệu lực từ ngày 25 tháng 6, đánh dấu sự đầu hàng của nước Pháp.

Chiến dịch này là một trong những thắng lợi ngoạn mục nhất trong toàn cuộc chiến của phe Trục. Về cơ bản Đức đã đánh quỵ được nước Pháp, đối thủ chính của mình trong giai đoạn này. Chiến thắng nhanh chóng ở Pháp đã đem lại cho Đức ưu thế chiến lược to lớn, một mặt có được bàn đạp cho hoạt động trên không và trên biển chống lại Anh, một mặt khác rảnh tay chuẩn bị cho mặt trận phía đông chống Liên Xô.

Nước Pháp bị chia cắt thành khu vực chiếm đóng của Đức ở miền Bắc và Tây, một khu vực chiếm đóng nhỏ của Ý ở Đông Nam và một vùng tự do ở phía nam do Chính phủ bù nhìn Vichy quản lý. Đến tháng 11 năm 1942, cả vùng tự do cũng bị chiếm đóng và toàn bộ nước Pháp nằm dưới sự thống trị của phe phát xít cho đến khi Đồng Minh đổ bộ lên Normandie năm 1944.

Tập đoàn quân

Tập đoàn quân là thuật ngữ chỉ một đại đơn vị cấp chiến dịch – chiến lược trong tổ chức quân đội chính quy tại một số nước có quân đội rất lớn như Liên Xô, Đức Quốc xã, Anh, Mỹ..., hợp thành từ các quân đoàn hoặc các nhóm sư đoàn hỗn hợp, được sử dụng chủ yếu trong hai cuộc thế chiến.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.