Belarus

Belarus ( /bɛləˈrs/ bel-ə-ROOSS-'; tiếng Belarus: Белару́сь, tr. Bielaruś, IPA: [bʲɛlaˈrusʲ], tiếng Nga: Беларусь, Белоруссия, Belarus, Belorussiya, tiếng Việt: Bê-la-rút), chính thể hiện tại là Cộng hòa Belarus (tiếng Belarus: Рэспубліка Беларусь, tiếng Nga: Республика Беларусь) là quốc gia không giáp biển nằm ở phía Đông Âu,[8] giáp Nga ở phía Đông Bắc, Ukraina ở phía Nam, Ba Lan ở phía Tây, và LatviaLitva ở phía Tây Bắc. Thủ đô hiện tại của Belarus là Minsk; với các thành phố lớn khác bao gồm Brest, Grodno (Hrodna), Gomel (Homiel), Mogilev (Mahilyow)Vitebsk (Vitsebsk). Chỉ có 40% diện tích 207.595 km² (80.200 dặm vuông) của đất nước này là rừng,[9] và các ngành kinh tế nổi trội của đất nước này là nông nghiệpcông nghiệp chế tạo.

Đến thế kỷ XX, vùng đất của Belarus hiện nay từng thuộc về một vài nước, gồm Đại Công quốc Litva, Liên bang Ba Lan-LitvaĐế quốc Nga. Sau cuộc cách mạng Nga (1917), Belarus trở thành một trong 15 nước cộng hòa của Liên bang Xô viết và được đổi tên thành Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Byelorussia (Беларуская Савецкая Сацыялістычная Рэспубліка). Đến năm 1991, Belarus tách ra khỏi Liên Xô và tuyên bố độc lập. Tuy nhiên đất nước này vẫn giữ mối quan hệ về chính trị gần gũi với Nga. Ngày 8 tháng 12 năm 1999, Belarus và Nga ký một thỏa thuận song phương nhằm phát triển hơn nữa các mối quan hệ chính trị và kinh tế.

Tên gọi cũ của quốc gia là Belorussia (Белоруссия) và vẫn còn được sử dụng, chủ yếu trong các hoàn cảnh liên quan đến lịch sử. Một bộ phận dân cư người Belarus thường cảm thấy bị xúc phạm khi gặp phải việc sử dụng tên gọi "người Belorussia" vì theo họ nó gợi nên những hồi ức về thời gian bị Nga hóa. Tên gọi này bị dịch sai thành "Bạch Nga" trong khi thực ra nó chỉ là một vùng đất.

Belarus là một thành viên của Cộng đồng các Quốc gia độc lập (là СНГ trong tiếng Nga hay CIS trong tiếng Anh) cùng với Azerbaizan, Armenia, Gruzia, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Moldova, Nga, Tajikistan, Turkmenistan, UzbekistanUkraina.

Cộng hòa Belarus

Flag of Belarus Coat of arms of Belarus (official)
Quốc kỳ Quốc huy
Bản đồ
Vị trí của Belarus
Vị trí của Belarus (xanh) trên thế giới
Vị trí của Belarus
Vị trí của Belarus (xanh) trong Liên minh châu Âu (xám đen)
Quốc ca
Дзяржаўны гімн Рэспублікі Беларусь  (tiếng Belarus)
Dziaržaŭny himn Respubliki Biełaruś  (chuyển thể)
Quốc ca Cộng hòa Belarus

Hành chính
Cộng hoà tổng thống nhất thể
Tổng thốngAlexander Lukashenko
Thủ tướngSergei Rumas[1]
Thủ đôMinsk
53°55′B 27°33′Đ / 53,917°B 27,55°Đ
Thành phố lớn nhấtMinsk
Địa lý
Diện tích207.595 km² (hạng 84)
Diện tích nước1,4 %
Múi giờMSK (UTC+3)
Lịch sử
Độc lập
987Thân vương quốc Polotsk
31 tháng 7 năm 1920Cộng hòa XHCNXV Byelorussia
15 tháng 11 năm 1939Liên Xô sáp nhập Tây Belarus từ Ba Lan
27 tháng 7 năm 1990Tuyên ngôn Chủ quyền
25 tháng 8 năm 1991Độc lập từ Liên Xô
26 tháng 12 năm 1991Công nhận
15 tháng 3 năm 1994Hiến pháp hiện hành
Ngôn ngữ chính thứcTiếng Belarus
tiếng Nga[2]
Dân số ước lượng (2016)9.498.700[3] người
Dân số(hạng 87)
Mật độ (hạng 142)
Kinh tế
GDP (PPP) (2017)Tổng số: 173 tỷ USD[4]
Bình quân đầu người: 18.349 USD[4]
GDP (danh nghĩa) (2017)Tổng số: 55 tỷ USD[4]
Bình quân đầu người: 5.787 USD[4]
HDI (2015)Increase 0,796[5] cao (hạng 50)
Hệ số Gini (2011)26,5[6] thấp
Đơn vị tiền tệRúp Belarus (BYR)
Thông tin khác
Tên miền Internet
Mã điện thoại+375
Lái xe bênphải

Lịch sử tên gọi

Về mặt lịch sử, nước này được gọi theo tiếng Anh là "Bạch Nga" tức "Nga Trắng" (White Russia), dù đây là sự phiên dịch sai. Nghĩa dịch đúng là "White Rus'", vừa miêu tả vùng Đông Âu nơi người Slavơ sinh sống hay nhiều quốc gia khác nhau hiện diện trong vùng.[10] Tuy vậy việc sử dụng thuật ngữ 'Nga Trắng' vẫn tiếp diễn tới tận năm 2007 trong các ngôn ngữ: "Weißrussland" trong tiếng Đức, "Beyaz Rusya" trong tiếng Thổ Nhĩ Kỳ hay "Λευκορωσία" (Levkorosía) trong tiếng Hy Lạp (xem tại đây để có danh sách đầy đủ).

Lần đầu thuật ngữ "Nga Trắng" được dùng để chỉ Belarus là bởi Sir Jerome Horsey người Anh hồi cuối thế kỷ mười sáu. Ông dùng nó để miêu tả các vùng đất của Đế chế Ivan Hung bạo. Trong thế kỷ mười bảy, các Sa hoàng Nga đã dùng "White Rus'", xác nhận rằng họ đang tìm cách chiếm lại di sản từ Khối thịnh vượng chung Ba Lan-Litva.[11]

Belarus được đặt tên "Byelorussia" thời Đế quốc Nga, và các Sa hoàng Nga thường được gọi là "Sa hoàng của tất cả nước Nga — Đại Nga, Tiểu Nga, và Bạch Nga". Điều này kéo dài tới tận thời kỳ Xô viết, khi nước này lấy tên chính thức là "Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Belorussia". Một số người Belarus coi cái tên "Byelorussia", là cách nhắc nhở lại thời kỳ cầm quyền Xô viết.[12] Theo chính thức, tên đầy đủ của quốc gia này là Cộng hoà Belarus (Республика Беларусь, Respublika Byelarus'). nghe [13]

Năm 2002, một cuộc điều tra không chính thức do Web site pravapis.org tiến hành để xem tên gọi nào được dùng phổ biến nhất trên các trang web. Khi sử dụng Google, Pravapis.org thấy rằng "Belarus", tên chính thức rút gọn, được dùng trên 93% Web site đã được kiểm tra. Cách đánh vần khác sử dụng "Belorussia", "Bielorussia" và "Byelorussia," chỉ được dùng trong 1%–2% trường hợp.[14]

Lịch sử

Kievan Rus en
Những vùng đất Belarusia từng là một phần của Kievan Rus.
Rzeczpospolita2nar
Bản đồ Đại lãnh địa Công tước Litva và Vương quốc Ba Lan trong Khối thịnh vượng chung Ba Lan-Litva, 1619. Lãnh thổ Belarus (ngày nay) vào lúc đó nằm trong tay Đại Công tước Litva.
  Vương quốc Ba Lan
  Lãnh địa Công tước Phổ, thái ấp Ba Lan
  Đại Lãnh địa Công tước Litva
  Lãnh địa Công tước Courland, thái ấp Litva
  Livonia
Rzeczpospolita 1922
Belarus bị Ba Lan chiếm mất lãnh thổ phía Tây sau cuộc Chiến tranh Nga - Ba Lan năm 1920.
RIAN archive 848095 Signing the Agreement to eliminate the USSR and establish the Commonwealth of Independent States
Lãnh đạo Nga, Ukraina và Belarus ký Hiệp định Belavezha, giải tán Liên Xô, ngày 8 tháng 12 năm 1991

Giữa thế kỷ thứ VI và thế kỷ thứ mười hai, nước Belarus hiện đại ngày nay là nơi sinh sống của người Slav, hiện họ vẫn chiếm đa số trong nước. Người Slavơ thời kỳ đầu (Early East Slavs) dần tiếp xúc với người Varangians và được họ tổ chức dưới nhà nước Kievan Rus'.[15]

Ở thế kỷ XIII, nhiều công quốc Ruthenian riêng biệt bị ảnh hưởng nặng nề sau cuộc xâm lược từ phía Đế chế Mông Cổ. Sau này, nhiều phần của Rus bị sáp nhập vào Đại Lãnh địa Công tước Litva.[16] Đa số dân cư là người thuộc sắc tộc Slavơ. Những vùng đất slavơ được hưởng quyền tự trị hạn chế bên trong nhà nước Litva. Tuy thỉnh thoảng có ý kiến không chính xác rằng tiếng Belarus là ngôn ngữ chính thức quốc gia, tiếng La tinh, tiếng Nga cổ (Ruthenian), và tiếng Ba Lan được đồng thời sử dụng trong công việc nhà nước. Tiếng Belarusia phát sinh vào giữa thế kỷ XIX khi những người nói tiếng Nga ở lãnh thổ Belarus hiện đại ngày nay chịu ảnh hưởng văn hoá mạnh từ Ba Lan.

Đầu thế kỷ XVII, tiếng Nga cổ bị từ bỏ tại Litva và được thay thế bằng tiếng Ba Lan, ngôn ngữ đã giành địa vị thống trị trong nhiều thế kỷ. Việc sử dụng tiếng Nga cổ (tiếng Slavonic-Ruthenian cổ) được cho phép tại các lãnh địa Ruthenian tự trị (công quốc). Các vùng đất Belarusia nhanh chóng bị sáp nhập vào Lãnh địa Công tước trong hai trăm năm sau đó, vì sức mạnh của Litva và mối đe doạ từ phía người Mông Cổ trên những vùng đất là Belarus ngày nay. Trong thời gian đó, Lãnh địa Công tước đã tham gia vào các trận đánh giữa nhiều lực lượng khác nhau. Một trong những trận đánh lớn là Trận Grunwald giữa Lãnh địa Công tước và Các hiệp sĩ Giéc manh năm 1410. Lãnh địa Công tước thắng trận và chiến thắng cho phép họ kiểm soát các biên giới phía tây bắc của Đông Âu.[17] Các trận đánh khác diễn ra giữa Lãnh địa Công tước và người Mông Cổ và người Turk, và đều là những chiến thắng cho Lãnh địa Công tước.[18] Tới thế kỷ mười lăm, Đại Lãnh địa Công tước Litva trải dài hầu hết vùng Đông Âu, từ Biển Baltic tới Biển Đen.

Ngày 2 tháng 2 năm 1386, Đại Công tước Litva Jogaila lên ngôi Vua Ba Lan, và liên minh Đại Lãnh địa Công tước với Vương quốc Ba Lan trở thành một liên minh cá nhân. Liên minh hình thành sau cuộc hôn nhân giữa Jogaila và con gái Vua Luis Ba Lan, Jadwiga. Hành động này được người Ba Lan coi là sự chấm dứt liên minh với Hungary.[19] Liên minh cá nhân này cuối cùng dẫn đến Khối thịnh vượng chung Ba Lan-Litva, một liên bang được thành lập năm 1569. Những người Muscovites, dưới sự lãnh đạo của Sa hoàng Ivan III, bắt đầu các chiến dịch chinh phục quân sự năm 1486 nhằm giành lấy những vùng đất Kievan Rus', chính xác là Belarus và Ukraina.[20] Liên minh giữa Ba Lan và Litva chấm dứt năm 1795, với việc khối thịnh vượng chung bị phân chia và sáp nhập bởi Đế quốc Nga, Phổ, và Áo. Các lãnh thổ Belarusia vẫn tiếp tục là một phần của Đế chế Nga tới khi bị Đức chiếm trong Thế Chiến thứ I.[21]

Belarus lần đầu tuyên bố độc lập ngày 25 tháng 3 năm 1918, hình thành nên nhà nước Cộng hoà Nhân dân Belarusia. Tuy nhiên, nhà nước cộng hoà tồn tại ngắn ngủi và chế độ này bị lật đổ ngay sau khi quân Đức rút lui. Năm 1919, Belarus trở thành nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Byelorussia (BSSR). Sau khi Nga tái chiếm phần phía đông và phía bắc Litva, chúng được gộp với nhau để hình thành nên nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Litva - Byelorussia. Sau khi Chiến tranh Ba Lan-Xô viết chấm dứt năm 1921, các vùng đất Byelorussia bị chia cắt, phần phía Tây rơi vào tay Ba Lan, và nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Xô viết Byelorussia mới tái thành lập và trở thành một thành viên của Liên bang các nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết năm 1922.[22]

Tháng 9 năm 1939, theo Hiệp ước Molotov-Ribbentrop, Liên Xô tấn công Ba Lan và tái sáp nhập những vùng đất phía đông nước này, gồm cả đa phần lãnh thổ Byelorussia do Ba Lan kiểm soát.[23] Năm 1941, Phát xít Đức tiến hành xâm lược Liên bang Xô viết. Byelorussia bị chiếm ngay sau đó và tiếp tục nằm trong tay quân Đức cho tới năm 1944. Hơn một triệu ngôi nhà đã bị phá huỷ và hơn hai triệu người Belarusia thiệt mạng.[24] Người Do Thái tại Byelorussia đã bị tàn sát trong Cuộc tàn sát người Do Thái. Dân số Belarus chỉ đạt mức trước chiến tranh vào năm 1971. Tuy nhiên, số lượng người Do Thái không bao giờ khôi phục lại được như cũ.[25] Sau khi chiến tranh chấm dứt, Belorussia là một trong năm mốt nước ký kết Hiến chương Liên hiệp quốc năm 1945. Sau chiến tranh, Belarus bắt đầu một chương trình tái thiết, với sự trợ giúp của Mátxcơva. Trong thời gian này, Belarus trở thành một trung tâm sản xuất chính ở vùng phía tây Liên bang Xô viết. Sự gia tăng việc làm đã mang lại một làn sóng di cư lớn từ Nga Xô viết.[26]

Dưới sự kiểm soát của Joseph Stalin, một chính sách Xô viết hoá được khởi động để "bảo vệ" nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Byelorussia khỏi những ảnh hưởng từ phương Tây. Chính sách này dẫn tới việc gửi hàng nghìn người Nga từ nhiều vùng khác nhau tại Xô viết được cử tới giữ các vị trí quan trọng trong chính phủ Byelorussia. Việc sử dụng chính thức tiếng Belarus và các khía cạnh văn hoá khác bị hạn chế bởi Mátxcơva. Sau cái chết của Stalin năm 1953, người kế tục ông, Nikita Khrushchev, tiếp tục chương trình này, phát biểu, "Ngày tất cả chúng ta cùng nói tiếng Nga đến càng sớm, chúng ta càng nhanh chóng xây dựng chủ nghĩa cộng sản."[25] Khi người đứng đầu Liên Xô Mikhail Gorbachev bắt đầu đưa ra kế hoạch cải tổ, người dân Byelarussia đã gửi đơn thỉnh cầu tới ông vào tháng 12 năm giải thích sự mất mát văn hoá của họ. Sự kiện này được các nhà sử học coi là vụ "Chernobyl văn hoá". (Đầu năm ấy, Belarus vừa bị ảnh hưởng bởi bụi phóng xạ từ vụ nổ nhà máy nguyên tử Chernobyl tại nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Ukraina láng giềng.)[27] Tháng 6 năm 1988, những ngôi mộ tập thể được nhà khảo cổ học Zyanon Paznyak phát hiện tại Kurapaty. Một số người sử dụng khám phá này để tuyên truyền rằng chính phủ Xô viết đã tìm cách xoá sổ dân tộc Belarus, và dẫn tới một số nỗ lực tìm cách khôi phục độc lập.[28]

Hai năm sau, tháng 3 năm 1990, những cuộc bầu cử Xô viết Tối cao Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Byelorussia diễn ra. Tuy Mặt trận Nhân dân Belarusia chỉ chiếm 10% số ghế, nhân dân tỏ ra hài lòng với kết quả này. Belarus tuyên bố chủ quyền ngày 27 tháng 7 năm 1990, bằng việc ra Tuyên bố Chủ quyền Quốc gia Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Byelorussia. Với sự hỗ trợ của Đảng Cộng sản, tên nước được thay đổi thành Cộng hoà Belarus ngày 25 tháng 8 năm 1991.[29] Chủ tịch Xô viết Tối cao Belarus Stanislav Shushkevich, cùng với Boris Yeltsin tại nước Nga và Leonid Kravchuk của Ukraina, gặp gỡ ngày 8 tháng 12 năm 1991, tại Belavezhskaya Pushcha chính thức tuyên bố giải tán Liên bang Xô viết và thành lập Cộng đồng các quốc gia độc lập. Năm 1993, một thoả thuận trong Xô viết tối cao chấp nhận giảm thời hạn hoạt động một năm, mở đường cho việc tổ chức bầu cử năm 1994.[29] Tháng 3 năm 1994, một hiến pháp quốc gia được thông qua, thay thế chức thủ tướng bằng chức tổng thống. Những cuộc bầu cử tổng thống dẫn tới chiến thắng của một nhân vật chính trị còn chưa được biết tới nhiều Aliaksandr Ryhoravič Lukašenka với hơn 80% số phiếu.[29] Từ cuộc bầu cử này, Lukashenka đã luôn giữ chức vụ tổng thống, được bầu lại vào các năm 2001, 2006 và 2015.

Chính trị

SBY dan Alexander Lukashenko 19-03-2013 (cropped)
Alexander Lukashenko, tổng thống từ năm 2013
Syarhey Rumas (2018-09-21)
Sergei Rumas, thủ tướng từ năm 2018
House of Representatives of Belarus
Tòa nhà Hạ viện Belarus
Solidarity with Belarus concert
Lá cờ Trắng-Đỏ-Trắng cũ của Belarus đã được sử dụng từ năm 1991 tới năm 1995, hiện được phe đối lập quốc gia sử dụng.

Vì những thiếu sót lớn về tinh thần dân chủ, cũng như là lối cai trị độc đoán của chính phủ Lukašenka, Belarus được cho là có chế độ độc tài duy nhất còn sót lại tại châu Âu. [30]
Belarus là một nước cộng hoà tổng thống, được lãnh đạo bởi Tổng thống và một nghị viện lưỡng viện -Quốc hội. Quốc hội gồm một hạ viện, Viện đại biểu 110 ghế, và thượng viện, Hội đồng Cộng hoà 64 ghế. Viện đại biểu có quyền chỉ định Thủ tướng Belarus, sửa đổi hiến pháp, đề xuất bỏ phiếu tín nhiệm thủ tướng, và đề xuất các chính sách đối nội cũng như đối ngoại của Belarus. Hội đồng Cộng hoà có quyền lựa chọn nhiều vị trí chính phủ, tiến hành buộc tội tổng thống, và có khả năng chấp nhận hay từ chối những dự luật đã được Hạ viện thông qua. Mỗi viện đều có quyền phủ quyết bất cứ dự luật nào đã được các địa phương thông qua nếu chúng trái ngược với Hiến pháp Belarus.[31] Tổng thống Belarus từ năm 1994 là Aliaksandr Ryhoravič Lukašenka. Theo như hiến pháp cũ của Belarus thì ông ta không được tham dự vào cuộc bầu cử tổng thống năm 2006, nhưng vào tháng 10 năm 2004 ông ta đã cho trưng cầu dân ý, để cho cái giới hạn này không còn giá trị đối với ông ta nữa. Chính phủ là một Hội đồng Bộ trưởng, do thủ tướng lãnh đạo. Các thành viên Hội đồng Bộ trưởng không cần phải là thành viên của nghị viện, và được Tổng thống chỉ định. Nhánh tư pháp gồm Toà án tối cao và nhiều toà án đặc biệt khác, như Toà hiến pháp, giải quyết các vấn đề đặt trưng liên quan tới hiến pháp hay luật doanh nghiệp. Các thẩm phán của Toà án hiến pháp được tổng thống chỉ định và được Hội đồng Cộng hoà xác nhận.[31]

Ba đảng chính trị hiện có ghế trong Viện đại biểu: Đảng Cộng sản Belarus (tám ghế), Đảng Ruộng đất Belarus (ba ghế), và Đảng Dân chủ Tự do Belarus (một ghế). Các đảng chính trị ủng hộ tổng thống Lukashenka, Đảng Xã hội chủ nghĩa Thể thao Belarus và Đảng Lao động và Công bằng cộng hoà, và các đảng đối lập, như Mặt trận Nhân dân Belarus (BPF) và Đảng Dân sự Thống nhất Belarus (UCPB) không giành được ghế nào trong cuộc bầu cử năm 2004. UCPB và BPF là hai đảng gồm Liên minh 5+ nhân dân, một nhóm các đảng chính trị phản đối Lukashenka. Nhiều tổ chức, gồm Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE), đã tuyên bố cuộc bầu cử là "không tự do" vì các đảng chính trị đối lập giành được kết quả âm và sự thiên vị của truyền thông Belarus giành ưu ái cho chính phủ.[32] Cuộc bầu cử tổng thống gần đây nhất diễn ra ngày 19 tháng 3 năm 2006. Đối thủ của Lukashenka lần này là Alaksandar Uładzimieravič Milinkievič, một ứng cử viên đại diện cho liên minh các đảng đối lập và Alaksandar Vladislavovich Kazulin đại diện cho phe Xã hội Dân chủ. Kazulin đã bị cảnh sát đánh đập và giam giữ trong những cuộc tuần hành phản đối quanh Quốc hội của mọi người dân Belarus. Tuy Lukashenka đạt 80% số phiếu bầu, OSCE và các tổ chức khác cho rằng cuộc bầu cử không công bằng.[33]

Lukashenka được trích dẫn là đã phát biểu rằng ông có "kiểu cầm quyền độc tài" để nắm quyền trong nước.[34] Hội đồng châu Âu đã ngăn cản Belarus trở thành thành viên từ năm 1997 vì sự bỏ phiếu không dân chủ và những gian lận bầu cử trong cuộc trưng cầu dân ý theo hiến pháp tháng 11 năm 1996 và cuộc bầu cử bổ sung nghị viện.[35] Chính phủ Belarus cũng bị chỉ trích vì những vi phạm nhân quyền trong những hành động chống lại các tổ chức phi chính phủ, các nhà báo độc lập, các cộng đồng thiểu số, và các chính trị gia đối lập.[36][37] Belarus là quốc gia duy nhất tại châu Âu còn duy trì hình phạt tử hình cho một số tội trong thời gian chiến tranh và hoà bình.[38] Để làm chứng trước Uỷ ban quan hệ nước ngoài Thượng viện Hoa Kỳ, Ngoại trưởng Condoleezza Rice đã nêu tên Belarus, cùng sáu quốc gia khác, như một phần trong danh sách "quốc gia độc tài".[39] Bộ ngoại giao Belarus đã thông báo rằng những lời tuyên bố của Ngoại trưởng Rice "là nền tảng tồi" để xây dựng liên minh Belarus-Hoa Kỳ.[40]

Quan hệ ngoại giao

CSTO Collective Security Council meeting Kremlin, Moscow 2012-12-19 01.jpeg
Tổng thống Lukashenko và tổng thống Nga Vladimir Putin

Trong lĩnh vực ngoại giao, Belarus và Nga có mối quan hệ liên minh thân cận từ khi Liên bang Xô viết tan rã. Nga cung cấp cho Belarus không chỉ nguyên liệu thô, mà còn yêu cầu cộng đồng quốc tế nhìn nhận Belarus với quan điểm tốt hơn, làm việc với Belarus về hội nhập kinh tế từ năm 1996. Những quan hệ giữa Belarus và Cộng đồng các quốc gia độc lập đã bị ảnh hưởng bởi các cuộc cách mạng màu diễn ra tại Gruzia, UkrainaKyrgyzstan. Dù Liên minh châu Âu đã ra lệnh cấm đi lại với Lukashenka và các quan chức quan trọng trong chính phủ, Belarus có các thoả thuận thương mại với nhiều quốc gia thành viên EU. Các quốc gia láng giềng như Litva và Ba Lan cùng nước cộng hoà thuộc Liên Xô cũ Latvia cũng có thoả thuận thương mại với Belarus.[41] Trước năm 1997 quan hệ song phương với Hoa Kỳ diễn ra bình thường, khi Bộ ngoại giao Mỹ bắt đầu cung cấp các khoản trợ cấp cho các tổ chức phi chính phủ có định hướng thị trường tự do và chính phủ Belarus cũng đưa ra các biện pháp nhằm khiến các tổ chức có trụ sở tại Hoa Kỳ khó hoạt động hơn.[42] Năm 2004, Hoa Kỳ đã thông qua một đạo luật gọi là Luật Dân chủ Belarus, cho phép Hoa Kỳ cung cấp tài chính cho các nhóm đối lập với Lukashenka và những nỗ lực làm mất ổn định tình hình nước này; không cần biết tới việc hai quốc gia đang hợp tác trong việc giải quyết các vấn đề buôn người, tội ác kỹ thuật, quyền sở hữu trí tuệ và ngăn chặn các thảm hoạ tự nhiên cũng như do con người gây ra.[43] Belarus đã phát triển hợp tác với các quốc gia châu Phi, Trung Đông và châu Á. Trung Quốc và Belarus đã xây dựng các mối quan hệ thân thiện với nhau, được tăng cường thêm bởi chuyến thăm của Tổng thống Lukashenka tới Trung Quốc tháng 10 năm 2005.[44] Ngoài Cộng đồng các quốc gia độc lập, Belarus còn là thành viên của các tổ chức cấp vùng như Cộng đồng Kinh tế Âu Á và Tổ chức Hiệp ước An ninh Chung.[41] Trong các tổ chức quốc tế, Belarus là thành viên của Phong trào không liên kết[45] từ năm 1998 [46] và Belarus từng là một trong những thành viên sáng lập Liên hiệp quốc năm 1945.[47]

Quân đội

RIAN archive 1047080 Work of "Kamenyuki" frontier post on Belarus border with Poland
Lực lượng tuần tra biên giới tại rừng Białowieża, nằm giữa biên giới Ba Lan và Belarus

Thiếu tướng Andrei Ravkov đứng đầu Bộ Quốc phòng[48], và Alexander Lukashenko (tổng thống) làm Tổng tư lệnh[31]. Các lực lượng vũ trang được thành lập năm 1992 sử dụng các bộ phận của các lực lượng vũ trang cũ của Liên Xô trên lãnh thổ của nước cộng hòa mới. Việc chuyển đổi các lực lượng cũ của Liên Xô thành các lực lượng vũ trang của Belarus, được hoàn thành vào năm 1997, đã giảm số lượng binh sĩ xuống còn 30.000 và tái cấu trúc các lãnh đạo và quân đội[49].

Hầu hết quân đội Belarus là lính nghĩa vụ, phục vụ trong vòng 12 tháng nếu họ học đại học hoặc 18 tháng nếu họ không[50]. Giảm quân số Belarus trong độ tuổi tham gia đã tăng tầm quan trọng của những người lính hợp đồng, số người lên tới 12.000 người vào năm 2001[51]. Năm 2005, khoảng 1,4% tổng sản phẩm quốc nội của Belarus được dành cho chi tiêu quân sự[52] .

Belarus không bày tỏ mong muốn gia nhập NATO, nhưng đã tham gia vào Chương trình Đối tác Cá nhân từ năm 1997[53], và Belarus cung cấp hỗ trợ tiếp nhiên liệu và không phận cho sứ mệnh ISAFAfghanistan[54]. Belarus bắt đầu hợp tác với NATO khi ký văn bản tham gia vào quan hệ đối tác của họ đối với Chương trình Hòa bình vào năm 1995[55]. Tuy nhiên, Belarus không thể tham gia NATO bởi vì nó là một thành viên của Tổ chức Hiệp ước An ninh Tập thể. Căng thẳng giữa NATO và Belarus đạt đỉnh điểm sau cuộc bầu cử tổng thống tháng 3 năm 2006 tại Belarus[56].

Tử hình

Belarus là nước châu Âu duy nhất vẫn còn áp dụng án tử hình. Hoa Kỳ và Belarus là hai trong số 56 nước thành viên của Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu đã thi hành trong năm 2011[57].

Tỉnh và quận

Subdivisions of Belarus

Belarus được chia thành sáu vùng ("voblast"), được đặt tên theo các thành phố thủ phủ. Thành phố Minsk, nằm tại tỉnh Minsk, có vị thế đặc biệt trực tiếp phụ thuộc quốc gia, bởi nó không bị gộp vào trong bất kỳ một voblast nào. Phân chia hành chính thành các voblasts là di sản từ thời Xô viết. Các voblast được chia nhỏ tiếp thành các raion (thường được dịch thành "quận" hay "vùng"). Các cơ quan lập pháp địa phương (raisovet, "hội đồng quận") do người dân sống tại đó bầu ra. Các cơ quan hành pháp địa phương (hành chính quận) được chỉ định bởi các cơ quan hành pháp cấp cao hơn. Tương tự, mỗi voblast có cơ quan lập pháp của riêng mình (oblsovet), do người dân bầu ra, và một cơ quan hành pháp (voblast administration), lãnh đạo cơ quan này do Tổng thống chỉ định.

Vùng (với trung tâm hành chính tương ứng):

  1. Brest (Brest)
  2. Homiel (Gomel)
  3. Hrodna (Grodno)
  4. Mahilioŭ (Mogilev)
  5. Minsk (Minsk)
  6. Vitebsk (Vitebsk)

Đơn vị hành chính đặc biệt:

  1. Thành phố Minsk

Địa lý

Satellite image of Belarus in December 2002
Hình ảnh vệ tinh Belarus, tháng 12 năm 2002
Strusta - Majak - Brasłauski rajon - 6
Hồ Strusta

Belarus là nước nằm kín trong lục địa, khá phẳng và có những dải đất đầm lầy rộng. Những con sông và hồ chằng chịt trong nước. Đầm lầy lớn nhất là Polesie, đây cũng là một trong những đầm lầy lớn nhất châu Âu. Có 11.000 hồ tại Belarus, nhưng đa số hồ nhỏ hơn 0.5 kilômét vuông (124 acre). Ba sông chính chảy xuyên đất nước; Sông Neman, Sông Pripyat, và Sông Dnepr. Điểm cao nhất tại Belarus là Dzyarzhynskaya Hara (Đồi Dzyarzhynsk), 345 mét (1.132 ft), và điểm thấp nhất nằm trên sông Neman, 90 mét (295 ft). Belarus cùng với Ba Lan là quê hương của Belavegskaya Pushcha (Белавежская пушча) hay, theo tiếng Ba Lan là Rừng Białowieża, vùng rừng rộng lớn duy nhất còn lại của khu rừng từng một thời che phủ Đồng bằng châu Âu.

Khí hậu thay đổi từ khắc nghiệt trong mùa đông (trung bình nhiệt độ tháng một trong khoảng −8 °C(18 °F) tới −2 °C (28 °F)) tới mát và ẩm trong mùa hè (nhiệt độ trung bình 15 °C (59 °F) tới 20 °C(68 °F)). Trung bình, 15 tới 30 centimét tuyết rơi trong nước, chủ yếu ở phía đông bắc. Belarus có lượng mưa khoảng 600 tới 700 milimét với hơn 70% lượng mưa rơi trong giai đoạn nóng trong năm.[59] Vì các mô hình thời tiết, các thảm họa tự nhiên như hạn hánlũ lụt thỉnh thoảng xảy ra tại Belarus. Trong giai đoạn 1881 tới 2005, nhiệt độ trung bình tại Belarus đã tăng 1 độ Celsius, nhiệt độ tăng đáng kể trong các tháng mùa đông và mùa xuân. Từng có ý kiến rằng Belarus sẽ phải đối mặt với tình trạng tăng từ 3 đến 4 độ vào cuối thế kỷ XXI.[60]

Rừng che phủ khoảng 34% tổng diện tích, khiến các sản phẩm lâm nghiệp trở thành một trong những nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú nhất tại Belarus. Các nguồn tài nguyên tự nhiên khác tại Belarus gồm than bùn, một lượng nhỏ dầu mỏ và khí tự nhiên, đá granite, khoáng chất dolomite (đá vôi), marl, chalk, cát, sỏi, và đất sét. Khoảng một phần năm lãnh thổ, chủ yếu tại các tỉnh phía đông nam Homyel và Mahilyow, tiếp tục bị ảnh hưởng bởi phóng xạ từ thảm họa nhà máy điện hạt nhân tại Chernobyl, Ukraina năm 1986. Tuy lượng phóng xạ đã giảm từ sau thảm hoạ, đa phần diện tích này vẫn được coi là không thể ở được. Xấp xỉ 70% tổng lượng phóng xạ thoát ra từ nhà máy điện Chernobyl đã rơi xuống lãnh thổ Belarus.[61]

Belarus giáp biên giới với các nước: Latvia (phía bắc), Litva (tây bắc), Ba Lan (tây), Nga (bắc và đông) và Ukraina (nam). Từ khi rút khỏi Liên bang Xô viết, Belarus đã ký hiệp ước với Latvia và Litva phân chia ranh giới lãnh thổ giữa ba nước. Ukraina đã ký một hiệp ước tương tự với Belarus, dù việc phê chuẩn bên phía Belarus còn chưa được tiến hành.[62] Tới năm 2006, Belarus và Litva đã bắt đầu phân định biên giới.[63]

Kinh tế

Belarus und Heuwender im Einsatz
Một chiếc máy cày do Belarus sản xuất đang hoạt động trên cánh đồng.
Belarus - Annual GDP and CPI rates 2001-2013
Tăng trưởng GDP và CPI của Belarus từ năm 2001 đến năm 2013

Kinh tế Belarus chủ yếu vẫn thuộc nhà nước kiểm soát như thời Xô viết. Hơn một nửa doanh nghiệp thuộc kiểm soát nhà nước và công ty thuộc sở hữu nước ngoài chỉ chiếm dưới 4%.[64] Nước này có nền kinh tế khá ổn định, nhưng phụ thuộc nhiều vào các nguồn cung nguyên liệu, như dầu mỏ, từ đồng minh thân cận là Nga. Công nghiệpnông nghiệp chủ yếu vẫn là thủ công. Nông nghiệp phần lớn là các hợp tác xã, và những sản phẩm mũi nhọn là khoai tây và chăn nuôi gia súc.

Các ngành công nghiệp có vị trí quan trọng trong lịch sử gồm dệt may và chế biến gỗ. Sau năm 1965, các ngành công nghiệp nặng mới xuất hiện và cơ khí máy (máy cày, tủ lạnh,...) đã tăng cường đáng kể sự phát triển của đất nước. Bên trong Liên bang Xô viết, Belarus từng là một trong những nước cộng hòa có nền công nghiệp phát triển nhất. Về kinh tế, Belarus là một thành viên của Cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS), Cộng đồng kinh tế Âu Á, và Liên minh với Nga. Ngay sau năm 1990, sản xuất công nghiệp đã rơi vào tình trạng giảm sút vì những kế hoạch tái cơ cấu theo hướng thị trường tự do tại Liên Xô cũ. Tăng trưởng kinh tế đã quay trở lại năm 1996, và vào năm 2001 Belarus là nước cộng hòa đầu tiên trong Cộng đồng các quốc gia độc lập quay trở lại mức sản xuất công nghiệp và nông nghiệp thời Liên Xô. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) năm 2005 đạt $79.13 tỷ (ước tính), hay khoảng $7.700 trên đầu người. Năm 2005, tổng sản phẩm quốc nội tăng khoảng 8-9%, với tỷ lệ lạm phát trung bình khoảng 8%. Theo Liên hiệp quốc, mức thu nhập trung bình hàng tháng đã tăng từ US$20 lên US$225 trong mười năm qua.

Hơn bốn triệu người đang ở độ tuổi lao động tại Belarus, phụ nữ hơi chiếm đa số hơn nam giới. Năm 2005, gần một phần tư dân số làm việc trong các nhà máy công nghiệp. Số lượng nhân công trong nông nghiệp, bán hàng sản xuất, hàng thương mại và giáo dục cũng khá cao. Theo các con số thống kê của chính phủ Belarus, tỷ lệ thất nghiệp khoảng 1.5% năm 2005. Tổng số người thất nghiệp là 679.000, với khoảng hai phần ba là phụ nữ. Tỷ lệ thất nghiệp đã liên tục giảm từ năm 2003, và về tổng thể nó cũng giảm so với những con số thống kê từ năm 1995.[64]

Đồng tiền tệ Belarus là đồng Rúp Belarus (BYR). Đồng tiền này được đưa vào sử dụng tháng 5 năm 1992, thay thế đồng ruble Xô viết. Đồng ruble được tái đưa ra thị trường với giá trị mới năm 2000 và đã được sử dụng từ thời điểm đó.[65] Như một phần trong kế hoạch Liên minh Nga-Belarus, đã có những cuộc thảo luận giữa hai quốc gia về một đồng tiền tệ chung tương tự đồng Euro. Theo ITAR-TASS kế hoạch này đã khiến có đề xuất ngừng sử dụng đồng ruble Belarus thay bằng đồng ruble Nga (RUB), bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 năm 2008.[66] Hệ thống ngân hàng Belarus gồm ba mươi ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước và một ngân hàng tư nhân.[67]

Kinh tế Belarus từng bị tác động bởi tình hình chính trị bên trong nhà nước cộng hoà. Sự tác động chủ yếu diễn ra dưới hình thức những lệnh trừng phạt chống lại giới lãnh đạo Belarus. Ví dụ, Liên minh châu Âu đã thông qua Quy định Hội đồng (EC) Số 765/2006 ngày 18 tháng 5 năm 2006. Quy định buộc đóng băng các khoản tiền của Tổng thống Lukashenka cùng 30 tới 35 viên chức cao cấp Belarus. Lệnh trừng phạt cũng ngăn cản sự đi lại của các vị lãnh đạo đó. Lệnh này được EU đưa ra sau khi họ tuyên bố cuộc bầu cử ngày 19 tháng 3 năm 2006 không công bằng và có sự đàn áp phe đối lập.[68]

Tính đến năm 2016, GDP của Belarus đạt 48.126 USD, đứng thứ 83 trên thế giới và đứng thứ 28 châu Âu.

Nhân khẩu

Belarus population
Thay đổi dân số Belarus, trong hàng ngàn, 1960-2010.

Đa phần dân số Belarus là người Belarus bản xứ, chiếm 81.2% tổng số dân 10.293.011 người. Người Nga là nhóm sắc tộc lớn thứ hai, chiếm 11.4% dân số. Người Ba LanNgười Ukraina chiếm 3.9% và 2.4% dân số. Các ngôn ngữ chính thức và thường được dùng tại Belarus là tiếng Ngatiếng Belarus. Tuy nhiên hiện nay có 72% dân số nước này nói tiếng Nga tại gia đình trong khi chỉ 11,9% sử dụng tiếng Belarus tại gia đình. Có 29,4% người Belarus có thể đọc hoặc nói hay viết tiếng Belarus, và 52,5% có thể viết và đọc ngôn ngữ này.[69]. Đây được cho là hậu quả của việc hạn chế sử dụng tiếng Belarus từ thời kỳ Liên Xô cũ, người dân Belarus thời đó cho rằng sử dụng ngôn ngữ của mình là "vô văn hóa" hay "ngôn ngữ quê mùa của kẻ nhà quê"[70]

Mật độ dân số khoảng 50 người trên kilômét vuông (127/dặm vuông) và 71.7% tổng dân số sống tại các khu vực đô thị. Trong số dân thành thị, 24% sống tại Minsk, thủ đô và là thành phố lớn nhất nước.[71] Tổng số dân tại Minsk xấp xỉ 1.741.400 người. Homel, với 481.000 người, là thành phố lớn thứ hai tại Belarus và là thủ phủ của Honel Oblast. Các thành phố lớn khác là Mogilev (365.100), Vitebsk (342.400), Hrodna (314.800) và Brest (298.300).[72]

Đa phần dân số, 69.7%, ở giữa độ tuổi 14 và 64. Mười sáu phần trăm dân số dưới 14 tuổi, trong khi 14.6% trên 65 tuổi. Độ tuổi trung bình của dân cư là 37. Tuổi thọ trung bình của người dân Belarus là 68.72; nam giới là 63.03 và nữ là 74.96. Tỷ lệ biết chữ tại Belarus (số lượng người từ 15 trở lên biết đọc, viết) là 99%, nam giới là 99.8% và phụ nữ là 99.3%. Tỷ lệ nam trên nữ năm 2005 được ước tính là 0.88.

Đa phần các chỉ số dân cư Belarus tương tự như các quốc gia châu Âu, đáng chú ý nhất là cả tỷ lệ tăng trưởng dân số và tỷ lệ tăng trưởng dân số tự nhiên của người bản xứ. Tăng trưởng dân số hiện tại ở mức −0.06% năm 2005, với tỷ lệ sinh là 1.43. Dân số đang ngày càng già đi, và tới năm 2050, đa số dân sẽ trên 50 tuổi.[73] Tỷ lệ di dân là +2.3 trên mỗi 1.000 người dân Belarus.

Theo tổ chức báo cáo của Tổ chức Cứu giúp Trẻ em quốc tế (so sánh 167 quốc gia), Belarus có tỷ lệ chất lượng cuộc sống cho phụ nữ và trẻ em tốt nhất trong mọi nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ. Belarus xếp hạng 16 về chất lượng cuộc sống bà mẹ, 14 về chất lượng cuộc sống phụ nữ, và 20 về chất lượng cuộc sống trẻ em. Nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ có chất lượng xếp sau là Estonia (18 cho phụ nữ), Ukraina (21/31/26) và Nga (27/34/64).[74]

Tôn giáo

Cathedral of Holy Spirit in Minsk 09
Nhà thờ Chúa Thánh Linh thuộc Chính Thống giáo ở thủ đô Minsk
Navahrudak Mosque
Thánh đường Hồi giáo Navahrudak

Theo nguồn tin chính phủ, tính đến tháng 11 năm 2011, Chính Thống giáo Đông có số tín hữu chiếm khoảng 82% dân số, với gần 1.000 nhà thờ. Mặc dù Giáo hội Chính Thống đã bị tàn phá trong Thế Chiến II và tiếp tục suy giảm cho đến đầu những năm 1980 bởi các chính sách của chính phủ cộng sản và đã trải qua một sự hồi sinh nhỏ với sự khởi đầu của công cuộc cải tổ vào ngày lễ kỷ niệm của 1.000 Kitô giáo ở Liên Xô trong năm 1988. Năm 1990, Belarus Giáo hội Chính Thống Belarus được tái lập trực thuộc Tòa Thượng phụ Moskva. Trong những năm 1990, 60% dân số tự nhận mình là tín đồ Chính Thống giáo. Giáo hội Chính Thống Belarus có một chủng viện, ba dòng tu, và một học viện thần học đã được mở ra vào năm 1995.

Ngày nay có 1.402.605 người Công giáo trong nước, khoảng 15% tổng dân số. Trong năm 1989, 05 giáo phận Công giáo chính thức, vốn đã mất kể từ Thế Chiến II và đã không có một giám mục, đã được tổ chức lại vào bao gồm 455 giáo xứ và hai Tổng giáo phận Minsk và Mahilyow. Trong những năm 1990, số liệu cho thấy dân Công giáo tại Belarus dao động từ 8 phần trăm đến 20 phần trăm; một ước tính xác định 25 phần trăm của những người Công giáo thuộc sắc tộc Ba Lan. Giáo hội Công giáo Belarus có một chủng viện và gần 400 nhà thờ ở Belarus.[76]

Trước khi chiến tranh thế giới thứ hai, số lượng tín đồ Tin Lành tại Belarus là khá thấp so với các cộng đồng Kitô hữu khác, nhưng họ đã cho thấy sự tăng trưởng đáng chú ý kể từ sau Thế Chiến II. Năm 1990, đã có hơn 350 cộng đồng Tin Lành trong nước.[77] Bao gồm: Giáo hôi Luther, Mặc Môn, Baptists và thần học Calvin.

Người Hồi giáo tại Belarus được đại diện bởi các cộng đồng nhỏ sắc tộc Tatar. Một số cộng đồng Tatar là hậu duệ của người di dân và tù nhân chiến tranh định cư ở Belarus, từ vùng Volga, sau thế kỷ XI. Năm 1997, có 23 cộng đồng Hồi giáo, trong đó có 19 cộng đồng nằm ở khu vực Tây của Belarus. Hiện Hội giáo có 9 thánh đường tại nước này.

Văn hoá

Potato pancakes
Draniki, một món bánh khoai tây truyền thống Belarus.

Trang phục truyền thống Belarus xuất phát từ giai đoạn Kievan Rus. Vì đặc điểm khí hậu, trang phục tại đây giữ ấm cho mọi người. Trang phục tại Belarus được chế tạo từ hoặc sợi lanh hay len và được trang trí các mô hình tùy theo thời kỳ, và đã gây ảnh hưởng tới các nền văn hóa lân cận: Ba Lan, Litva, Latvia, Nga và các quốc gia châu Âu khác. Mỗi vùng trong Belarus đều có kiểu thiết kế và trang trí riêng.[78] Một kiểu trang trí thường thấy trên các loại trang phục thời kỳ đầu hiện đang được dùng trên lá cờ quốc gia Belarus.[79]

Theatre opera&ballet, Minsk
Nhà hát Opera và Ballet Minsk

Ẩm thực Belarus chủ yếu gồm rau, thịt và bánh mì. Thực phẩm thường được coi là những món ăn chính tại Belarus gồm thịt lợn, cải bắp, khoai tây và bánh mì. Vì các phong cách nấu ăn truyền thống thời tiền Xô viết, thực phẩm thường được nấu chín từ từ hoặc hầm. Kiểu ăn uống thông thường nhất tại Belarus gồm bữa sáng nhẹ, hai bữa chính, và bữa tối là bữa ăn chủ yếu nhất trong ngày. Bột mì và bánh mì lúa mạch đều là món ăn thường thấy tại Belarus, nhưng lúa mạch xuất hiện nhiều hơn vì khí hậu ở đây không thích hợp lắm cho cây lúa mì. Khi đón khách, một chiếc bánh mì với muối thường được mời để tỏ lòng hiếu khách.[80] Các đồ uống cũng thường gặp tại các gia đình Belarus, chủ yếu là rượu vodka Nga nấu bằng lúa mạch và nước kvass. Kvass là kiểu nước giải khát được làm từ bánh mì xám hay bột lúa mạch ủ. Kvass cũng có thể dùng kèm với rau thái lát tạo thành món súp gọi là okroshka.[81]

Trong lịch sử, Belarus từng là quốc gia theo Nhà thờ chính thống Nga với một thiểu số nhỏ tín đồ Cơ đốc giáo, Do thái giáo và các tôn giáo khác. Người Belarus đã cải theo Nhà thờ chính thống nga sau khi Belarus bị tách khỏi Ba Lan sau sự phân chia Ba Lan. Thiểu số Cơ đốc giáo La Mã Belarus, chiếm khoảng 10% dân số sống tập trung ở vùng phía tây đất nước, đặc biệt xung quanh Hrodna, là nhóm người pha tạp giữa người Ba Lanngười Litva. Một thiểu số nhỏ (khoảng 1%) thuộc Nhà thờ Thiên chúa Hy Lạp Belarus.[82] Người Do Thái từng chiếm 10% dân số Belarus cho tới Thế Chiến II, là một trung tâm Do thái lớn tại châu Âu, nhưng trong cuộc chiến số lượng người Do Thái đã giảm sút nhiều, vì nạn đói, nạn diệt chủng, hiện chỉ còn 1% hoặc ít hơn. Tình trạng di cư từ Belarus cũng là nguyên nhân làm giảm số người Do Thái.[83] Trong Điều 16 Hiến pháp Belarus, không có tôn giáo chính thức tại nước này. Tuy nhiên, quyền tự do tín ngưỡng được đảm bảo theo cùng điều trên, các tôn giáo làm gây ảnh hưởng không tốt tới chính phủ hay trật tự xã hội quốc gia có thể bị cấm.[84] Tổ chức Đoàn kết Thiên chúa giáo Quốc tế đã báo cáo rằng một số giáo đoàn đang bị quấy rầy.[85]

Về âm nhạc, bản nhạc lớn đầu tiên do một công dân Belarus sáng tác là vở opera Faust của Radzivill cùng một số tác phẩm khác. Trong thế kỷ XVII, nhà soạn nhạc Ba Lan Stanislau Maniushka sống tại Belarus, đã sáng tác một số vở opera và thính phòng tại Minsk. Trong thời gian sống tại đây, ông đã làm việc cùng nhà thơ Belarus Vincent Dunin-Marcinkevich và sáng tác vở opera Sialianka (Người phụ nữ nông dân). Cuối thế kỷ XIX, các thành phố lớn tại Belarus đã hình thành nên các đội opera và ballet của riêng mình. Trong thời kỳ Xô viết, có tác phẩm ballet Nightingale của M. Kroshner. Sau Cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại, âm nhạc chủ yếu tập trung miêu tả sự gian khổ của người dân Belarus hay những người Belarus đã đứng lên cầm vũ khí bảo vệ quê hương. Đây cũng là giai đoạn A. Bogatyryov, tác giả vở opera "In Polesye Virgin Forest," là "người giám hộ" của những nhà soạn nhạc Belarus. Sau khi giành lại độc lập, ballet vẫn đóng một vai trò văn hóa quan trọng tại Belarus. Nhà hát Hàn lân Quốc gia Ballet, tại Minsk, đã được trao giải Benois de la Dance Prize năm 1996 với tư cách nhóm ballet hàng đầu thế giới.[86] Âm nhạc hiện đại đã trở nên quen thuộc trong dân chúng Belarus. Các nhóm nhạc rock nổi tiếng trong nước gồm NRM, Neurodubel, Ulis, Nowaje Nieba, và Krama. Nhiều nhóm nhạc Belarus đã biểu diễn tại Ba Lan và Litva, nơi số dân nói tiếng Belarus khá đông. Ba Lan cũng là nơi tổ chức festival âm nhạc Basowiszcza của Belarus.[87] Since 2004, Belarus đã gửi các ca sĩ đến cuộc thi Eurovision Song Contest.[88]

Chính phủ Belarus tài trợ nhiều festival văn hóa hàng năm: "Slavianski Bazaar in Vitebsk", "Minsk Spring", "Slavonic Theatrical Meetings", International Jazz Festival, National Harvesting Festival, "Arts for Children and Youth", the Competition of Youth Variety Show Arts, "Muses of Niesvizh", "Mir Castle", và National Festival of the Belarusian Song and Poetry. Những sự kiện này là nơi các ca sĩ, nghệ sĩ, nhà soạn nhạc, diễn viên nổi tiếng Belarus thể hiện mình. Các festival kết thúc với những buổi lễ trong đó những giải thưởng được trao để vinh danh những nhà soạn nhạc nổi tiếng Belarus. Nhiều ngày lễ quốc gia, như Ngày độc lập hay Ngày chiến thắng tập trung những đám khán giả to lớn và nhiều sự kiện trình diễn như pháo hoa và duyệt binh. Đa số các festival được tổ chức tại Vitebsk hay Minsk.[89]

Belarus có bốn Địa điểm Di sản Thế giới, hai trong số đó thuộc sở hữu chung của Belarus và nước láng giềng. Bốn địa điểm đó là Tổ hợp Lâu đài Mir; Lâu đài Niasvizh; Belovezhskaya Pushcha (chung với Ba Lan); và Struve Geodetic Arc (chung với Estonia, Phần Lan, Latvia, Litva, Na Uy, Moldova, Nga, Thụy ĐiểnUkraina).[90]

Viễn thông

Nhà độc quyền viễn thông nhà nước, Beltelecom, nắm giữ kết nối độc quyền với các nhà cung cấp dịch vụ Internet bên ngoài Belarus. Beltelecom sở hữu tất cả các kênh trục chính liên kết với Lattelecom, TEO LT, Tata Communications (trước đây là Teleglobe), Synterra, Rostelecom, Transtelekom và MTS ISP. Beltelecom là nhà khai thác duy nhất được cấp phép cung cấp dịch vụ VoIP thương mại tại Belarus[91].

Tham khảo

  1. ^ Prime Minister of the Republic of Belarus
  2. ^ Bản mẫu:Belarus Constitution
  3. ^ “Demographic situation in 2015”. Belarus Statistical Office. 27 tháng 1 năm 2016. Bản gốc lưu trữ 3 tháng 2 năm 2016. Truy cập 27 tháng 1 năm 2016.
  4. ^ a ă â b “Belarus”. International Monetary Fund. 2017.
  5. ^ “2015 Human Development Report” (PDF). United Nations Development Programme. 2014. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2015.
  6. ^ “Distribution of family income – Gini index”. GINI index. Worldbank. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2014.
  7. ^ “Icann Адобрыла Заяўку Беларусі На Дэлегаванне Дамена Першага Ўзроўню З Падтрымкай Алфавітаў Нацыянальных Моў.Бел”. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2014.
  8. ^ UN Statistics Division (ngày 1 tháng 4 năm 2010). “Standard Country and Area Codes Classifications (M49)”. United Nations Organization. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2010.
  9. ^ “Belarus: Window of Opportunity (see Table 15, page 66)” (PDF). United Nations.
  10. ^ Genealogy of Halychyna/Eastern Galicia - An Understanding of the Terms 'Ruthenia' and 'Ruthenians'. Truy cập 19 tháng 3 2007.
  11. ^ Pravapis.org Why is Russia White? Authored by Ales Biely. Xuất bản 2000. Truy cập 22 tháng 3 2007.
  12. ^ Pravapis.org Uses and spellings of the word Belarusian. Truy cập 8 tháng 3 2006
  13. ^ CIA World Factbook. Belarus - Government. Xuất bản 17 tháng 3 2007. Truy cập 22 tháng 3 2007.
  14. ^ “The 21 Names of Belarus”. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2006.
  15. ^ “Kievan Rus”. The Columbia Encyclopedia. 2001-2005 http://www.bartleby.com/65/ki/KievanRu.html. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp); |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  16. ^ University of Washington - The Grand Duchy of Lithuania by Cheryl Renshaw. Xuất bản on 5 tháng 6 năm 2002. Truy cập 18 tháng 3 năm 2007.
  17. ^ Ministry of Foreign Affairs Guide to Belarus 2000 - History and Culture. Xuất bản 2000. Truy cập 22 tháng 3 năm 2007.
  18. ^ Permanent Mission of Belarus to the United Nations. History of Belarus> Truy cập 22 tháng 3 năm 2007.
  19. ^ World History at KMLA History of Poland - Dynastic Union under the Jagiellonian Dynasty. Xuất bản 2000, cập nhật in 2004. Truy cập 22 tháng 3 năm 2007.
  20. ^ Rice University The Russo-Polish Historical Confrontation. Authored by Andrzej Nowak. Xuất bản tháng 1 năm 1997. Truy cập 22 tháng 3 năm 2007.
  21. ^ Virtual Guide of Belarus History of Belarus. Xuất bản by Vladimir Novik in 1994. Truy cập 22 tháng 3 năm 2007.
  22. ^ University of Central Florida - History of Belarus. Truy cập 18 tháng 3 năm 2007.
  23. ^ Molotov-Ribbentrop Pact Secret Provisions - Avalon Project, Yale Law School. Xuất bản 1996. Truy cập 18 tháng 3 năm 2007.
  24. ^ Country Studies - Belarus - World War II. United States Library of Congress, published 1995.
  25. ^ a ă “Country Studies - Belarus - Stalin and Russification”. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2006.
  26. ^ “iExplore - Belarus History and Culture”. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2006.
  27. ^ “Country Studies - Belarus - Perestroika”. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2006.
  28. ^ “Belarus Backgrounder”. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2006.
  29. ^ a ă â Country Studies Belarus - Prelude to Independence. Library of Congress. Truy cập 21 tháng 3 năm 2007.
  30. ^ ZEIT-Artikel In Stalinchens Reich Die Zeit, 17.12.2010
  31. ^ a ă â Constitution of the Republic of Belarus Chapter 3 - The President, Parliament,Government, the Courts. Xuất bản 1994, amended 1995 and 2004. Truy cập 22 tháng 3 năm 2007.
  32. ^ “OSCE Report on the tháng 10 năm 2004 parliamentary elections” (PDF). Tháng 12 năm 2004. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2007.
  33. ^ “Belarus rally marred by arrests”. BBC News. 2 tháng 3 năm 2006. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2006.
  34. ^ “Profile: Alexander Lukashenko”. BBC News. 20 tháng 3 năm 2006. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2006.
  35. ^ “Belarus suspended from the Council of Europe”. Ngày 17 tháng 1 năm 1997. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2006.
  36. ^ “Human Rights Watch”. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2006.
  37. ^ Amnesty International 2006 Report - Belarus (summary). Xuất bản 2006.
  38. ^ Embassy of the Republic of Belarus in the United Kingdom. Use of capital punishment in Belarus. Xuất bản 2006. Truy cập 05 tháng 5 năm 2007.
  39. ^ “Opening Statement by Dr. Condoleezza Rice, Senate Foreign Relations Committee” (PDF). 18 tháng 1 năm 2005. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2006.
  40. ^ “At-a-glance: 'Outposts of tyranny'. BBC News. 19 tháng 1 năm 2005. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2006.
  41. ^ a ă Ministry of Foreign Affairs Foreign Policy history and goals. Truy cập 21 tháng 3 năm 2007.
  42. ^ United States Embassy in Minsk, Belarus FY97 Report on US Assistance to Belarus. Truy cập 21 tháng 3 năm 2007.
  43. ^ Ministry of Foreign Affairs Belarus - United States Relations. Xuất bản 2005. Truy cập 21 tháng 3 năm 2007.
  44. ^ Xinhua News Agency China, Belarus agree to upgrade economic ties. Written by Letian Pan. Xuất bản 06 tháng 12 năm 2005. Truy cập 21 tháng 3 năm 2007.
  45. ^ Non-Alignment Movement List of Member States. Updated in 2002. Truy cập 21 tháng 3 năm 2007.
  46. ^ Ministry of Foreign Affairs Interview with Foreign Minister Sergei Martynov. Xuất bản by BelTA in 2006. Truy cập 21 tháng 3 năm 2007.
  47. ^ United Nations Growth in United Nations membership, 1945-nay. Xuất bản 2004, chỉnh sửa 2006. Truy cập 21 tháng 3 năm 2007.
  48. ^ “Leaders”. Ministry of Defence of the Republic of Belarus. 2015. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2015.
  49. ^ “History” (bằng tiếng Russian). Ministry of Defense of the Republic of Belarus. 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2007. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  50. ^ Routledge, IISS Military Balance 2007, pp. 158–59
  51. ^ Bykovsky, Pavel; Alexander Vasilevich (tháng 5 năm 2001). “Military Development and the Armed Forces of Belarus”. Moscow Defense Brief. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2007.
  52. ^ “Belarus – Military”. The World Factbook. Central Intelligence Agency. 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2007.
  53. ^ “Belarus and NATO”. Ministry of Foreign Affairs of the Republic of Belarus. 2002. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2007.
  54. ^ “North Atlantic Treaty Organization”. The Ministry of Foreign Affairs of the Republic of Belarus. 2009. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2010.
  55. ^ “NATO Council adopted individual partnership program with Belarus”. The Ministry of Foreign Affairs of the Republic of Belarus. 11 tháng 3 năm 2002. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2010.
  56. ^ Laurie Walker (21 tháng 11 năm 2010). “Nato and Belarus: partnership, past tensions and future possibilities”. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2010.
  57. ^ Death sentences and executions in 2011 Lưu trữ 23 June 2014 tại Wayback Machine. Amnesty International March 2012
  58. ^ Official 2009 census results
  59. ^ Library of Congress Country Studies Belarus - Climate. Truy cập 13 tháng 7 năm 2007.
  60. ^ Belarus Tourist Climate of Belarus. Truy cập 13 tháng 7 năm 2007.
  61. ^ Rainsford, Sarah (ngày 26 tháng 4 năm 2005). “Belarus cursed by Chernobyl”. BBC News. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2006.
  62. ^ Border Demarcation History. State Border Guard Committee of the Republic of Belarus. Xuất bản 2006. Truy cập 18 tháng 3 năm 2007.
  63. ^ Border Demarcation. State Border Guard Committee of the Republic of Belarus. Xuất bản 2006. Truy cập 18 tháng 3 năm 2007.
  64. ^ a ă Ministry of Statistics and Analysis Labor Statistics in Belarus. Xuất bản 2005. Truy cập 18 tháng 3 năm 2007.
  65. ^ National Bank of the Republic of Belarus History of the Belarusian Ruble. Truy cập 18 tháng 3 năm 2007.
  66. ^ “Russia-Belarus Union to have common currency starting from 2008”. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2006.
  67. ^ Heritage Foundation's Index of Economic Freedom - Belarus. Truy cập 18 tháng 3 năm 2007.
  68. ^ Radio Free Europe/Radio Liberty EU Sanctions on Belarus. Xuất bản 2006. Truy cập 18 tháng 3 năm 2007.
  69. ^ “Tres de cada cuatro bielorrusos emplean en su vida cotidiana el ruso (Three of every four Belarusians use Russian in their daily lives)” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2009. According to results announced today from an investigation by The Center for Information and Analysis of the Presidency of Belarus... [f]or 72% of the population, Russian in the primary language used in everyday life... According to the study, only 11.9% of inhabitants primarily speaks Belarusian, while the rest uses a mix of Russian and Belarusian. 29.4%... speaks, reads, and writes in Belorusian, while 52.5% only speaks and reads it... [O]ne in ten does not understand Belorusian [at all]. (quote translated)
  70. ^ The BSSR counterpart of the USSR law "On strengthening of ties of school with real life and on further development of the popular education in USSR" (1958), adopted in 1959, along with introduction of the mandatory 8-year school education, made it possible for the parents of pupils to opt for non-mandatory studying of the "second language of teaching," which would be Belarusian in Russian language school and vice versa. However, e.g., in 1955/1956 schooling year there had been 95% of schools with Russian as the primary language of teaching, and 5% with Belarusian as the primary language of teaching. [StStank 1962]
  71. ^ “CIA World Factbook (2005) - Belarus - People”. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2007.
  72. ^ World Gazette Largest Cities of Belarus (2007). Xuất bản 2007. Truy cập 19 tháng 3 năm 2007.
  73. ^ “Population Pyramid Summary for Belarus”. US Census Bureau. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2006.
  74. ^ “State Of The Worlds Mothers 2006” (PDF). Save The Children. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2006.
  75. ^ “Religion and denominations in the Republic of Belarus” (PDF). Ministry of Foreign Affairs of the Republic of Belarus. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2013.
  76. ^ “Religion, Belarus”. Truy cập 27 tháng 10 năm 2015.
  77. ^ Jan Zaprudnik and Helen Fedor. "Religion." Belarus (Country Study). Federal Research Division, Library of Congress; Helen Fedor, ed. June 1995.
  78. ^ Virtual Guide to Belarus Belarusian traditional clothing. Truy cập March, 21, 2007.
  79. ^ Flags of the World Belarus - Ornament. Xuất bản 26 tháng 11 năm 2006. Truy cập 21 tháng 3 năm 2007.
  80. ^ Canadian Citizenship and Immigration - Cultures Profile Project - Eating the Belarusian Way. Xuất bản 1998. Truy cập 21 tháng 3 năm 2007.
  81. ^ University of Nebraska-Lincoln - Institute of Agriculture and National Resources. Situation and Outlook - People and Their Diets. Xuất bản tháng 4 năm 2000. Truy cập 21 tháng 3 năm 2007.
  82. ^ Library of Congress Country Studies Belarus - Religion. Truy cập 9 tháng 7 năm 2007.
  83. ^ Minsk Jewish Campus Jewish Belarus. Truy cập 9 tháng 7 năm 2007.
  84. ^ Webportal of the President of the Republic of Belarus Section One of the Constitution. Xuất bản 1994, chỉnh sửa 1996. Truy cập 06 tháng 6 năm 2007.
  85. ^ Christian Solidarity Worldwide Country Information - Belarus. Truy cập 9 tháng 7 năm 2007.
  86. ^ Virtual Guide to Belarus - Classical Music of Belarus. Truy cập 21 tháng 3 năm 2007.
  87. ^ Freemuse Blacklisted bands play in Poland. Xuất bản on 17 tháng 3 năm 2006. Truy cập 18 tháng 3 năm 2007.
  88. ^ National State Teleradiocompany Page on the 2004 Belarusian entry to the Eurovision Song Contest. Xuất bản 2004. Truy cập 18 tháng 3 năm 2007.
  89. ^ “Belarusian National Culture”. Embassy of the Republic of Belarus in the United States of America. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2006.
  90. ^ “Belarus - UNESCO World Heritage Centre”. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2006.
  91. ^ "ONI Country Profile: Belarus", OpenNet Initiative, 18 November 2010

Liên kết ngoài

Truyền thông

Website chính phủ

Thông tin/Văn hoá

.by

.by là tên miền Internet quốc gia (ccTLD) dành cho Belarus. Nó được quản lý bởi Trung tâm An toàn Thông tin Nhà nước của Tổng thống Cộng hòa Belarus (tiếng Nga: Государственный центр безопасности информации при Президенте Республики Беларусь). Mã "by" bắt nguồn từ một cách đánh vần tên Belarus – Byelorussia (Bạch Nga) – được sử dụng vào thời kỳ thuộc Liên Xô.

Boeing 747

Boeing 747, thường được gọi với biệt danh "Jumbo Jet", là một trong những loại máy bay dễ nhận biết trên thế giới, và là máy bay phản lực dân dụng thương mại cỡ lớn thân rộng đầu tiên được sản xuất. Loại máy bay này được đơn vị Commercial Airplane của Boeing tại Hoa Kỳ sản xuất. Phiên bản đầu tiên của Boeing 747 có kích thước gấp 2,5 lần Boeing 707, một trong những máy bay thương mại lớn của thập niên 1960. Từ chuyến bay thương mại đầu tiên năm 1970, Boeing 747 giữ kỷ lục về sức chứa hành khách lớn nhất trong 37 năm cho đến khi nó bị đối thủ là Airbus A380 vượt mặt.

Máy bay Boeing 747 sử dụng 4 động cơ trên cấu hình hai tầng trong phần thân được dùng ở phiên bản chở khách, chở hàng hay ở các phiên bản khác. Phần hình bướu của 747 nằm phía trên sàn ngăn, tạo điều kiện cho các phiên bản chở hàng có thể nhận hàng qua cửa lớn phía mũi máy bay. Phần bướu trong đa số các phiên bản chở khách là phần đặt chỗ ngồi bổ sung.

Phiên bản mới đang hoạt động của 747, 747-400 là một trong những loại máy bay dân dụng cỡ lớn nhanh nhất đang hoạt động trong các hãng hàng không với tốc độ đạt Mach 0,85 (567 mph hay 913 km/h), tầm bay liên lục địa là 7.260 hải lý (8.350 dặm hay 13.450 km). Phiên bản chở khách 747-400 có thể chở 416 khách với ba hạng ghế hoặc 524 khách với bố trí cho hai hạng ghế ngồi.

Sau khi đã bán được 400 chiếc, có những lúc 747 bị cho là lỗi thời do sự phát triển của những máy bay dân dụng siêu thanh nhưng thực tế, tổng số sản xuất ở con số 1.000 chiếc vào năm 1993 đã vượt quá sức tưởng tượng của những người chỉ trích. Tính đến tháng 4-2008, có 1.402 chiếc 747 được chế tạo với 122 cấu hình khác nhau. Phiên bản mới nhất của loại 747 là 747-8, được lên kế hoạch đi vào hoạt động vào năm 2009.

Bảng mã IOC

Ủy ban Olympic Quốc tế (IOC) sử dụng ba ký tự tiêu biểu cho mã quốc gia và chùm ký tự này sẽ đại diện cho các vận động viên trong các kì Đại hội Olympic. Mỗi chùm ký tự đại diện cho Ủy ban Olympic của các quốc gia; nhưng cũng có thể trong các sự kiện quá khứ nó được dùng để đại diện cho liên hiệp các quốc gia hay tập thể cá nhân không đại diện cho bất kì một quốc gia nào.

Bảng mã này có một vài điểm khác biệt so với bảng chuẩn ISO 3166-1 alpha-3. Trong một số tổ chức thể thao khác, chẳng hạn FIFA hay Liên đoàn Thịnh vượng chung Anh, dùng ký hiệu giống với bảng này.

Chính sách thị thực của Belarus

Du khách đến Belarus phải xin thị thực từ một trong những phái bộ ngoại giao của Belarus trừ khi họ đến từ một trong những quốc gia được miễn thị thực hoặc thị thực của họ đã được phê duyệt từ trước để lấy tại cửa khẩu.

Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Byelorussia

Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết Byelorussia (tiếng Belarus: Беларуская Савецкая Сацыялістычная Рэспубліка, tiếng Nga: Белору́сская Сове́тская Социалисти́ческая Респу́блика, viết tắt БССР, Bielorusskaja Sovietskaja Socialistitchieskaja Riespublika, BSSR hoặc đôi khi Byelorussia còn gọi là Belorussia) là một trong mười lăm nước cộng hòa của Liên Xô. Nó là một trong bốn thành viên sáng lập nên Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết vào năm 1922, cùng với Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Ukraina, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Ngoại Kavkaz, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga. Nước Cộng hòa Xô viết, cùng với CHXHCNXV Ukraina và Liên Xô, là thành viên sáng lập nên Tổ chức Liên Hiệp Quốc vào năm 1945.

Nước cộng hòa Xô viết trên vùng đất Belarus đã tuyên bố thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 1919, nhưng phải mất một năm sau để xác lập tình trạng. Byelorussia cũng là một trong những nước Cộng hòa Xô viết bị Phát xít Đức chiếm đóng trong thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai. Cộng hòa Xô viết kết thúc vào năm 1991 và đất nước sau đó đổi tên thành "Cộng hòa Belarus" như ngày nay.

FC Dinamo Minsk

FC Dinamo Minsk (tiếng Belarus: ФК Дынама Мінск, FK Dynama Minsk; tiếng Nga: ФК Динамо Минск) là câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp có trụ sở tại thủ đô Minsk, Belarus.

Câu lạc bộ được thành lập vào năm 1927 là một phần của Câu lạc bộ Thể thao Dynamo của Liên Xô. Kể từ khi Belarus giành được độc lập, câu lạc bộ tham dự Giải bóng đá Ngoại hạng Belarus, đã giành được 7 danh hiệu vô địch quốc gia và 3 danh hiệu Cúp quốc gia Belarus.

Dinamo chơi trận sân nhà của họ tại sân vận động Traktor có sức chứa 16,500 chỗ ngồi. Dinamo là đội bóng Belarus thứ hai, sau BATE Borisov tới được vòng bảng UEFA Europa League (2014–15 và 2015–16).

Georgi Konstantinovich Zhukov

Georgi Konstantinovich Zhukov (tiếng Nga: Георгий Константинович Жуков, đọc là Ghê-oóc-ghi Can-xtan-chi-nô-vích Giu-cốp; 1 tháng 12 năm 1896 – 18 tháng 6 năm 1974) là danh tướng trong quân đội Liên Xô. Trong rất nhiều tướng lĩnh nổi danh thế giới trong Chiến tranh thế giới thứ hai, G.K. Zhukov được xếp đầu bảng về số lượng trận thắng nhiều và quy mô lớn, được nhiều người công nhận về tài năng chỉ đạo chiến dịch và chiến lược. Những chiến tích của ông đã trở thành những đóng góp rất lớn vào kho tàng di sản kiến thức quân sự nhân loại. Nó không những có ảnh hưởng lớn về lý luận quân sự của Liên Xô mà cũng có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển của lý luận quân sự thế giới.Theo nhận định của Nguyên soái A. M. Vasilevsky, G. K. Zhukov là một trong những nhà cầm quân lỗi lạc của nền quân sự Xô Viết. Trong cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại của Liên bang Xô viết, ông đã giữ các chức vụ Tư lệnh Phương diện quân Dự bị, Tư lệnh Phương diện quân Tây, Tư lệnh Phương diện quân Beloussia 1, Tổng tham mưu trưởng quân đội Liên Xô, Thứ trưởng Bộ dân ủy Quốc phòng kiêm Phó Tổng tư lệnh tối cao quân đội Liên Xô, Ủy viên Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Hầu hết các nhà lãnh đạo quân sự nổi tiếng thế giới cùng thời với ông như Thống chế Anh Sir Bernard Law Montgomery, Thống tướng Hoa Kỳ Dwight David Eisenhower, Thống chế Pháp Jean de Lattre de Tassigny đều công nhận tên tuổi của ông đã gắn liền với hầu hết các chiến thắng lớn trong cuộc chiến như Trận Moskva (1941), Trận Stalingrad, Trận Kursk, Chiến dịch Bagration, Chiến dịch Visla-Oder và Chiến dịch Berlin. Trong giai đoạn sau chiến tranh, ông giữ các chức vụ Tổng tư lệnh quân đội Liên Xô tại nước Đức, tư lệnh các quân khu Odessa và Ural. Sau khi lãnh tụ tối cao I. V. Stalin qua đời, ông được gọi về Moskva và được bổ nhiệm chức vụ Thứ trưởng thứ nhất Bộ Quốc phòng Liên Xô. Trong thời gian từ năm 1955 đến năm 1957, ông giữ chức vụ Ủy viên trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Liên Xô. Năm 1957, trong thời gian đang đi thăm Nam Tư, ông bị đưa ra khỏi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Năm 1958, ông bị miễn nhiệm tất cả các chức vụ trong quân đội.

Liên đoàn bóng đá Belarus

Liên đoàn bóng đá Belarus là tổ chức quản lý, điều hành các hoạt động bóng đá ở Belarus. Liên đoàn quản lý đội tuyển bóng đá quốc gia nam và nữ, tổ chức các giải bóng đá như vô địch quốc gia và cúp quốc gia. Liên đoàn bóng đá Belarus gia nhập FIFA năm 1992 và UEFA năm 1993.

Minsk

Minsk (tiếng Belarus: Мінск, phát âm [mʲinsk]; tiếng Nga: Минск, [mʲinsk]) là thủ đô và thành phố lớn nhất của Belarus, nằm trên dòng chảy hai con sông Svislach và Nyamiha. Đóng vai trò thủ đô, Minsk có địa vị hành chính đặc biệt, vừa là thủ phủ của vùng Minsk (voblast) và raion (huyện) Minsk. Tính đến năm 2013, nó có dân số 2.002.600 người. Minsk cũng là trung tâm hành chính sở Cộng đồng các Quốc gia Độc lập (CIS).

Những ghi chép cổ nhất nhắc đến Minsk có niên đại từ thế kỷ XVI (1067), khí nó là một phần của Công quốc Polotsk. Năm 1242, Minsk sáp nhập vào Đại Công quốc Litva. Nó được ban cho đặc quyền thị trấn năm 1499.

Năm 1569, nơi đây trở thành thủ phủ của Województwo Minsk, Thịnh vượng chung Ba Lan-Litva. Minsk bị sáp nhập vào đế quốc Nga năm 1793, sau đợt phân chia Ba Lan lần II. Từ 1919 đến 1991, sau Cách mạng Tháng Mười, Minsk là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Byelorussia, Liên Xô.

Métro Paris

Métro Paris (hay gọi là Métro de Paris hoặc Métro parisien) là hệ thống tàu điện ngầm phục vụ thành phố và vùng đô thị Paris. Tính cho đến năm 2007, hệ thống này có 16 tuyến, phần lớn chạy ngầm dưới đất, với tổng chiều dài 213 km. Métro Paris là một trong những biểu tượng của thủ đô nước Pháp, đặc trưng bởi mạng lưới các tuyến dày đặc, mật độ sử dụng cao và các bến tàu điện ngầm được trang trí theo phong cách Art nouveau.

Tuyến tàu điện ngầm đầu tiên của thành phố Paris được khánh thành nhân dịp Triển lãm thế giới 1900. Trong suốt những thập niên đầu thế kỷ 20, hệ thống Métro Paris phát triển mạnh mẽ, cho đến khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Sau một giai đoạn hoạt động trầm lắng trong "những thập niên của ô tô" (décennies voitures, 1950-1970), nhiều tuyến tàu điện ngầm đã tiếp tục được kéo dài ra vùng ngoại ô thành phố. Trong nội ô, các tuyến và trạm đã trở nên dày đặc đã khiến một thời gian dài Métro Paris không có thêm tuyến mới. Cho tới tận tháng 10 năm 1998, tuyến số 14, mới nhất của Métro Paris, được khánh thành. Khác với các tuyến trước đó, tuyến 14 được tự động hóa hoàn toàn.

Hiện nay hệ thống Métro Paris phục vụ việc đi lại cho khoảng 4,5 triệu lượt người mỗi ngày. Vào năm 2005, Métro Paris có tổng cộng 1,365 tỷ lượt hành khách. Tổng số Métro Paris có 298 bến, trong đó có 62 bến giao từ 2 tuyến trở lên. Về lượng hành khách vận chuyển, Métro Paris đứng thứ 4 thế giới sau các hệ thống tàu điện ngầm ở Moskva, Tokyo và Thành phố Mexico. Tính tổng chiều dài các tuyến, Métro Paris xếp thứ 7 thế giới sau các hệ thống tàu điện ngầm London, New York, Seoul, Tokyo, Moskva và Madrid. Tuy vậy tính về tổng số bến tàu điện ngầm thì Métro Paris xếp thứ 3 thế giới, chỉ sau Hệ thống tàu điện ngầm Thành phố New York và Tàu điện ngầm Seoul.

Métro Paris là một phần của mạng lưới giao thông công cộng của Paris và vùng Île-de-France, gồm các hệ thống đường sắt RER, Transilien, tàu điện và các xe buýt. Công ty chịu trách nhiệm vận hành Métro Paris là RATP, Công ty quản lý giao thông công cộng Paris. RATP cũng là công ty quản lý một phần hệ thống RER cùng toàn bộ xe buýt Paris, một phần các xe buýt ngoại ô và 3 trên 4 tuyến tàu điện của Île-de-France. Tài chính của Métro Paris được STIF quản lý, cũng là đơn vị chịu trách nhiệm quy hoạch và phát triển hệ thống giao thông công cộng của vùng Île-de-France.

Thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh (vẫn thường được gọi với tên cũ là Sài Gòn) là thành phố lớn nhất Việt Nam, đồng thời cũng là một trong những trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa và giáo dục quan trọng nhất của Việt Nam. Hiện nay, Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố trực thuộc trung ương được xếp loại đô thị đặc biệt của Việt Nam, cùng với thủ đô Hà Nội.

Năm 2018, Thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị hành chính Việt Nam xếp thứ nhất về Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP), xếp thứ nhất về GRDP bình quân đầu người, đứng thứ 24 về tốc độ tăng trưởng GRDP. GRDP đạt 1.331.440 tỉ Đồng (tương ứng với 52,92 tỉ USD), GRDP bình quân đầu người đạt 154,84 triệu đồng (tương ứng với 6.725 USD), tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 8,30%.

Vùng đất này ban đầu được gọi là Prey Nokor theo tiếng Khmer của người dân bản địa. Tên gọi này có nghĩa là "thành trong rừng". Vì sự sụp đổ của đế chế Khmer, vùng Nam Bộ trở thành đất vô chủ, về sau đã sáp nhập vào Đại Việt nhờ công cuộc khai phá miền Nam của chúa Nguyễn. Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh cho lập phủ Gia Định, đánh dấu sự ra đời thành phố. Khi Pháp vào Đông Dương, để phục vụ công cuộc khai thác thuộc địa, thành phố Sài Gòn được thành lập và nhanh chóng phát triển, trở thành một trong hai đô thị quan trọng nhất Việt Nam. Sài Gòn cũng là thủ đô của Liên bang Đông Dương giai đoạn 1887–1901 (về sau, Pháp chuyển thủ đô Liên bang Đông Dương ra Hà Nội). Năm 1949, Sài Gòn trở thành thủ đô của Quốc gia Việt Nam, một chế độ do thực dân Pháp thành lập trong thời kỳ tái chiếm Việt Nam, và sau này là thủ đô của Việt Nam Cộng hòa (chế độ kế tục Quốc gia Việt Nam trong thời kỳ Mỹ đổ quân vào Việt Nam). Kể từ đó, thành phố này trở thành một trong những đô thị quan trọng nhất của miền Nam Việt Nam. Sau khi Việt Nam Cộng hòa sụp đổ trong sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, quân Mỹ rút lui hoàn toàn và lãnh thổ Việt Nam được thống nhất. Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội nước Việt Nam thống nhất quyết định đổi tên Sài Gòn thành Thành phố Hồ Chí Minh, theo tên vị Chủ tịch nước đầu tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay bao gồm 19 quận và 5 huyện, tổng diện tích 2.095,06 km². Theo kết quả điều tra dân số chính thức vào thời điểm ngày 1 tháng 4 năm 2009, thì dân số thành phố là 7.162.864 người (chiếm 8,34% dân số Việt Nam), mật độ dân số trung bình 3.419 người/km². Đến năm 2019, dân số thành phố tăng lên 8.993.082 người và cũng là nơi có mật độ dân số cao nhất Việt Nam. Tuy nhiên, nếu tính những người cư trú không đăng ký thì dân số thực tế của thành phố này năm 2018 là gần 14 triệu người. Giữ vai trò quan trọng bậc nhất trong nền kinh tế Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 21,3% tổng sản phẩm (GDP) và 29,38% tổng thu ngân sách của cả nước. Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một đầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam và Đông Nam Á, bao gồm cả đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường không. Vào năm 2007, thành phố đón khoảng 3 triệu khách du lịch quốc tế, tức 70% lượng khách vào Việt Nam. Các lĩnh vực giáo dục, truyền thông, thể thao, giải trí, Thành phố Hồ Chí Minh đều giữ vai trò quan trọng bậc nhất.

Tuy vậy, Thành phố Hồ Chí Minh đang phải đối diện với những vấn đề của một đô thị lớn có dân số tăng quá nhanh. Trong nội ô thành phố, đường sá trở nên quá tải, thường xuyên ùn tắc. Hệ thống giao thông công cộng kém hiệu quả. Môi trường thành phố cũng đang bị ô nhiễm do phương tiện giao thông, các công trường xây dựng và công nghiệp sản xuất. Triều cường gây ngập sâu ở một vài quận cũng là vấn đề nan giải của thành phố này.

Thảm họa Chernobyl

Thảm hoạ Chernobyl là một vụ tại nạn hạt nhân xảy ra vào ngày 26 tháng 4 năm 1986 khi nhà máy điện hạt nhân Chernobyl ở Pripyat, Ukraina (khi ấy còn là một phần của Liên bang Xô viết) bị nổ. Đây được coi là vụ tai nạn hạt nhân trầm trọng nhất trong lịch sử năng lượng hạt nhân. Do không có tường chắn, đám mây bụi phóng xạ tung lên từ nhà máy lan rộng ra nhiều vùng phía tây Liên bang Xô viết, Đông và Tây Âu, Scandinavie, Anh quốc, và đông Hoa Kỳ. Nhiều vùng rộng lớn thuộc Ukraina, Belarus và Nga bị ô nhiễm nghiêm trọng, dẫn tới việc phải sơ tán và tái định cư cho hơn 336.000 người. Khoảng 60% đám mây phóng xạ đã rơi xuống Belarus. Theo bản báo cáo năm 2006 của TORCH, một nửa lượng phóng xạ đã rơi xuống bên ngoài lãnh thổ ba nước cộng hoà Xô viết Thảm hoạ này phát ra lượng phóng xạ lớn gấp bốn trăm lần so với quả bom nguyên tử được ném xuống Hiroshima.

Vụ tai nạn làm dấy lên những lo ngại về sự an toàn trong ngành công nghiệp năng lượng hạt nhân Xô viết, làm đình trệ sự phát triển của ngành này trong nhiều năm, đồng thời buộc chính phủ Xô viết phải công bố một số thông tin. Các quốc gia: Nga, Ukraina, Belarus, ngày nay là các quốc gia độc lập, đã phải chịu chi phí cho nhiều chiến dịch khử độc và chăm sóc sức khoẻ cho những người bị ảnh hưởng từ vụ Chernobyl. Rất khó để kiểm kê chính xác số người đã thiệt mạng trong tai nạn này, bởi vì sự che đậy thông tin thời Xô viết gây khó khăn cho việc truy ra những nạn nhân. Danh sách này không đầy đủ, và chính quyền Xô viết sau đó đã cấm các bác sĩ được ghi chữ "phóng xạ" trong giấy chứng tử . Tuy nhiên, đa số những căn bệnh nguy hiểm về lâu dài có thể dự đoán trước như ung thư, trên thực tế vẫn chưa xảy ra, và sẽ rất khó để gắn nó có nguyên nhân trực tiếp với vụ tai nạn. Những ước tính và những con số đưa ra khác nhau rất xa. Một bản báo cáo năm 2005 do Hội nghị Chernobyl, dưới quyền lãnh đạo của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), đưa ra cho rằng có 56 người chết ngay lập tức; 47 công nhân và 9 trẻ em vì ung thư tuyến giáp, và ước tính rằng có khoảng 9.000 người, trong số gần 6.6 triệu, cuối cùng sẽ chết vì một loại bệnh ung thư nào đó. Riêng tổ chức Hoà bình xanh ước tính tổng số người chết là 93.000, nhưng đã ghi trong bản báo cáo của họ rằng "Những con số được đưa ra gần đây nhất cho thấy rằng chỉ riêng ở Belarus, Nga và Ukraina vụ tai nạn có thể đã dẫn tới cái chết thêm của khoảng 200.000 người trong giai đoạn từ 1990 đến 2004."

Thảm sát Katyn

Thảm sát Katyn, cũng được gọi là vụ Thảm sát rừng Katyn (tiếng Ba Lan: Zbrodnia katyńska, mord Katyński, 'Tội ác Katyń'; tiếng Nga: Катынский расстрел Katynskij ra'sstrel 'Xử bắn Katyn'), được cho là một cuộc xử bắn hàng loạt những tù binh Ba Lan do Bộ Dân ủy Nội vụ (NKVD), cảnh sát mật Liên xô, thực hiện vào tháng 4 và tháng 5 năm 1940, khởi đầu từ đề xuất của L. P. Beriya đề nghị xử bắn tất cả các sĩ quan Ba Lan, ngày 5 tháng 3 năm 1940. Tài liệu chính thức này đã được Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô, gồm cả lãnh đạo I. V. Stalin, ký và đóng dấu. Số tù binh bị xử bắn được ước tính khoảng 22.000 người, với con số thấp hơn là 21.768 người.Các tù binh bị xử bắn tại Rừng Katyn Nga, các trại tù Kalinin, Kharkiv và những nơi khác. Trong tổng số người bị xử bắn, khoảng 8.000 là các sĩ quan Ba Lan bị bắt làm tù binh trong cuộc tấn công Ba Lan của Liên Xô năm 1939, 6.000 người khác là các sĩ quan cảnh sát, số còn lại là những người thuộc giới trí thức Ba Lan bị bắt giữ vì bị kết tội là các thành phần "gián điệp, sen đầm, địa chủ, những kẻ phá hoại, chủ nhà máy, luật sư, viên chức và thầy tu".

Chính phủ Đức Quốc xã đã thông báo việc phát hiện những ngôi mộ tập thể ở rừng Katyn năm 1943. Khi Chính phủ Ba Lan lưu vong tại Luân Đôn yêu cầu Chữ thập đỏ quốc tế điều tra, Stalin ngay lập tức chấm dứt quan hệ ngoại giao với chính phủ này. Liên Xô tuyên bố các nạn nhân đã bị phát xít Đức giết hại, và tiếp tục phủ nhận trách nhiệm với các vụ xử bắn cho tới năm 1990, khi tổng thống Gorbachev chính thức thừa nhận và lên án việc xử bắn tù binh của NKVD, cũng như sự từ chối sau đó của chính phủ Liên Xô.Ngày 7 tháng 4 năm 2010, Thủ tướng Nga Vladimir Putin đã đến đặt vòng hoa tại đài tưởng niệm dành cho các nạn nhân của vụ xử bắn Katyn. Trong bài phát biểu tại buổi lễ tưởng niệm, Putin tuyên bố rằng vụ thảm sát Katyn là một "tội ác không thể biện minh bằng bất cứ cách nào". Cũng trong bài phát biểu, ông Putin cho rằng Stalin đã ra lệnh thực hiện vụ xử bắn như một cách để trả thù cho 32.000 tù binh Hồng quân đã chết vì đói khát và dịch bệnh trong những trại giam của Ba Lan trong cuộc chiến năm 1919-1921.. Theo một cuộc khảo sát năm 2009, 54% số người Nga được hỏi không biết một chút gì về sự kiện này, và đa số người dân Nga không muốn chính phủ Nga đưa ra lời xin lỗi Trong tháng 11 năm 2010, Quốc hội Nga đã chính thức thông qua một tuyên bố quy kết trách nhiệm cho Stalin và các viên chức Liên Xô khác đã đích thân ra lệnh cho vụ xử bắn.

Tiếng Ba Lan

Tiếng Ba Lan (język polski, polszczyzna) là ngôn ngữ chính thức của Ba Lan. Đây là nhánh miền Tây của nhóm ngôn ngữ gốc Slav và là ngôn ngữ được nói nhiều nhất trong nhánh.

Tiếng Belarus

Tiếng Belarus (беларуская мова bielaruskaja mova [bʲelaˈruskaja ˈmova]) là ngôn ngữ đồng chính thức của Belarus (cùng với tiếng Nga), và được nói ở một số quốc gia khác, chủ yếu là Nga, Ukraina, và Ba Lan.Tiếng Belarus là một ngôn ngữ Đông Slav và chia sẻ nhiều đặc điểm ngữ pháp và từ vựng với các ngôn ngữ khác chung nhóm. Ở chừng mực nào đó, người nói tiếng Nga hay tiếng Ukraina và người nói tiếng Belarus có thể thông hiểu lẫn nhau. Tiếng Belarus cổ (thế kỷ 14-17) là một hậu duệ của tiếng Đông Slav cổ (thế kỷ 10-13).

Theo thống kê 1999, tiếng Belarus là "ngôn ngữ nói tại nhà" của chừng 3.686.000 công dân Belarus (36,7% dân số). Khoảng 6.984.000 (85,6%) người Belarus báo cáo rằng đây là "tiếng mẹ đẻ" của họ. Những người khác cho rằng có 6.715.000 tại Belarus và 9.081.102 trên toàn cầu. Theo thống kê do chính phủ Belarus thực hiện năm 2009, 72% người Belarus nói tiếng Nga tại nhà, nhưng chỉ 11,9% người Belerus nói tiếng Belarus tại nhà. 29,4% người Belarus biết viết, nói và đọc tiếng Belarus, 52,5% chỉ biết đọc và nói.

Victoria Azarenka

Victoria Azarenka (tiếng Belarus: Вікторыя Фёдараўна Азаранка; sinh ngày 31 tháng 7 năm 1989) là tay vợt nữ người Belarus. Cô từng là tay vợt số 1 thế giới và hiện đang là tay vợt hạng 14 trên bảng xếp hạng WTA, tính tới ngày 1 tháng 2 năm 2016.

Victoria Azarenka giành danh hiệu đơn giải Úc Mở rộng 2012, trở thành tay vợt đầu tiên của Belarus vô địch một giải Grand Slam. Với chiến thắng này cô trở thành tay vợt đầu tiên từ vị trí thứ 3 vượt lên vị trí số 1 thế giới mà không phải qua vị trí thứ 2. Năm 2013, Azarenka bảo vệ thành công danh hiệu tại Úc Mở rộng sau chiến thắng trước Li Na. Cô từng giành danh hiệu đôi nữ Grand Slam giải Mỹ Mở rộng với Max Mirnyi năm 2007 và đôi nam nữ giải Pháp Mở rộng với Bob Bryan năm 2008, vào chung kết nội dung đôi nữ Pháp Mở rộng năm 2009 với tay vợt người Nga Elena Vesnina và vào bán kết giải đấu này vào năm 2013.

Wayne Rooney

Wayne Mark Rooney (sinh ngày 24 tháng 10 năm 1985) là một cầu thủ bóng đá người Anh hiện đang chơi ở vị trí Tiền vệ tấn công cho câu lạc bộ D.C. United tại Giải bóng đá nhà nghề Mỹ MLS cũng như từng thi đấu cho đội tuyển Anh ở các trận đấu cấp độ quốc tế. Trước đây vị trí thi đấu của anh là trung phong hoặc hộ công tuy nhiên hiện nay anh thường thi đấu ở hàng tiền vệ. Rooney là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất cho Manchester United trong lịch sử câu lạc bộ (253 bàn) và đội tuyển Anh (53 bàn). Anh đã ghi 208 bàn tại Giải bóng đá Ngoại hạng Anh, chỉ sau Alan Shearer (260 bàn).

Rooney bắt đầu sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp của mình với câu lạc bộ Everton vào năm 2002 và bàn thắng đầu tiên của Rooney vào lưới Arsenal khiến anh trở thành cầu thủ ghi bàn trẻ nhất trong lịch sử Premier League vào thời điểm đó. Anh nhanh chóng trở thành một phần của đội bóng và thi đấu hai mùa giải ở câu lạc bộ vùng Merseyside.

Trước khi bắt đầu mùa giải 2004-05, anh chuyển tới Manchester United với mức phí chuyển nhượng là 25,6 triệu bảng và trở thành một thành viên chủ chốt của đội một United. Kể từ đó, anh đã giành được Cúp ngoại hạng Anh năm lần, một danh hiệu UEFA Champions League mùa giải 2007-08, ba Cúp Liên Đoàn và hai cúp FA cùng câu lạc bộ. Cá nhân anh cũng được trao giải Cầu thủ xuất sắc nhất năm của Hiệp hội Nhà báo Bóng đá Anh, Cầu thủ xuất sắc nhất năm của Hiệp hội Cầu thủ Chuyên nghiệp Anh và Cầu thủ xuất sắc nhất mùa giải của Barclays trong cùng một mùa giải 2009-2010.

Rooney được gọi vào đội tuyển Anh lần đầu tiên vào năm 2003 và tại UEFA Euro 2004, anh có một thời gian ngắn trở thành cầu thủ ghi bàn trẻ nhất qua các kì giải đấu và cũng là cầu thủ thứ hai dưới 20 tuổi được gọi vào đội tuyển. Rooney thường xuyên được chọn để thi đấu cho đội tuyển Anh và đã có mặt tại FIFA World Cup 2006 và 2010. Tuy nhiên cả hai đều là những giải đấu đáng quên đối với anh khi Rooney không ghi được bàn thắng nào và đội tuyển Anh chỉ có thành tích cao nhất là vào đến tứ kết năm 2006.

Anh và người bạn gái từ thuở nhỏ Coleen Rooney đã cưới nhau vào năm 2008 và có con trai đầu lòng là Kai Rooney vào năm 2009.

Xêsi

Xêsi (tiếng Latinh: caesius) là một nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn có ký hiệu Cs và số nguyên tử bằng 55. Nó là một kim loại kiềm mềm, màu vàng ngà, và với điểm nóng chảy là 28 °C (83 °F) khiến cho nó trở thành một trong các kim loại ở dạng lỏng tại hay gần nhiệt độ phòng. Xêsi là một kim loại kiềm, có tính chất vật lý và hóa học giống với rubidi, kali; là kim loại hoạt động mạnh, có khả năng tự cháy, phản ứng với nước thậm chí ở nhiệt độ −116 °C (−177 °F). Nó là nguyên tố có độ âm điện thấp thứ hai sau franxi, và chỉ có một đồng vị bền là xêsi-133. Xêsi được khai thác trong mỏ chủ yếu từ khoáng chất pollucit, trong khi các đồng vị phóng xạ khác, đặc biệt là xêsi-137 - một sản phẩm phân hạch hạt nhân, được tách ra từ chất thải của các lò phản ứng hạt nhân.

Nhà hóa học người Đức Robert Bunsen và nhà vật lý học Gustav Kirchhoff đã phát hiện ra xêsi năm 1860 bằng một phương pháp mới được phát triển là "quang phổ phát xạ nung bằng ngọn lửa". Các ứng dụng quy mô nhỏ đầu tiên của xêsi là "chất bắt giữ" trong ống chân không và trong tế bào quang điện. Năm 1967, dựa trên nguyên lý của Einstein về sự không đổi của tốc độ ánh sáng trong vũ trụ, Ủy ban Quốc tế về Cân đo đã tách biệt hệ đếm 2 sóng riêng biệt từ quang phổ phát xạ của xêsi-133 để đồng định nghĩa giây và mét trong hệ SI. Từ đó xêsi được ứng dụng rộng rãi trong các đồng hồ nguyên tử độ chính xác cao.

Từ thập niên 1990, ứng dụng của nguyên tố này trên quy mô lớn nhất là xêsi format trong dung dịch khoan. Nó có nhiều ứng dụng trong kỹ thuật điện, điện tử, và hóa học. Đồng vị phóng xạ xêsi-137 có chu kỳ bán rã khoảng 30 năm và được sử dụng trong y học, thiết bị đo công nghiệp và thủy văn. Mặc dù nguyên tố chỉ có độ độc tính trung bình, nó là vật liệu nguy hại ở dạng kim loại và các đồng vị phóng xạ của nó ảnh hưởng đến sức khỏe cao nếu được phóng thích ra môi trường.

Đội tuyển bóng đá quốc gia Belarus

Đội tuyển bóng đá quốc gia Belarus là đội tuyển cấp quốc gia của Belarus do Liên đoàn bóng đá Belarus quản lý. Sau sự sụp đổ của Liên Xô, Belarus có trận đấu đầu tiên gặp Litva vào 20 tháng 7 năm 1992. Trước đó, các cầu thủ ưu tú của Belarus chơi trong màu áo Liên Xô.

Vùng của Belarus
Tên vùng Thủ phủ Tiếng Belarus Dân số (2009)[58] Diện tích (km²) Mật độ Tỷ lệ phần trăm người Belarus
Belarus Minsk Беларусь 9,503,807 207,617.26 46.55 100.00%
1 Minsk Мінск 1,836,808 305.50 7144.92 18.91%
2 Vùng Brest Brest Брэсцкая 1,401,177 32,790.68 43.69 14.82%
3 Vùng Gomel Gomel Гомельская 1,440,718 40,361.66 36.25 15.14%
4 Vùng Grodno Grodno Гродзенская 1,072,381 25,118.07 44.11 11.40%
5 Vùng Mogilev Mogilev Магілёўская 1,099,074 29,079.01 38.73 11.61%
6 Vùng Minsk Minsk Мінская 1,422,528 39,912.35 36.17 15.03%
7 Vùng Vitebsk Vitebsk Вiцебская 1,230,821 40,049.99 31.55 13.08%
Các quốc gia có chủ quyền và lãnh thổ phụ thuộc tại Châu Âu
Quốc gia
có chủ quyền
Thành viên và Quan sát viên Phong trào không liên kết
Thành viên
Quan sát viên

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.