Bức màn sắt

Bức màn sắt là một biên giới vật lý lẫn tư tưởng mang tính biểu tượng chia cắt châu Âu thành hai khu vực riêng rẽ từ cuối Thế chiến II vào năm 1945 đến cuối cuộc Chiến tranh lạnh vào năm 1991. Các quốc gia ở cả hai phía của Bức màn sắt đều thành lập các liên minh kinh tế và quân sự quốc tế riêng của mình: Hội đồng Tương trợ Kinh tếHiệp ước Warszawa ở phía đông với Liên Xô là thành viên quan trọng nhất, và Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây DươngCộng đồng châu Âu ở phía tây với Hoa Kỳ.

Bức màn sắt đã hình thành nên một biên giới phòng thủ giữa các quốc gia TâyĐông Âu, mà trong đó nổi bật nhất là Bức tường Berlin, trong một thời gian dài là biểu tượng của toàn bộ Bức màn sắt[1].

Thuật ngữ này do Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền của Đức Quốc xã, Joseph Goebbels, sử dụng lần đầu tiên trong một bản tuyên ngôn do ông xuất bản trong tờ báo Đức Das Reich vào tháng 2 năm 1945[2], nhưng được phổ biến nhờ công của Winston Churchill trong diễn văn "Nguồn tiếp sức cho Hòa bình" vào ngày 5 tháng 3 năm 1946[3].

Iron Curtain Final
Các nước thuộc khối Warszawa ở phía đông của Bức màn sắt được tô màu đỏ. Thành viên khối NATO về phía bên trái được tô màu xanh. Các nước trung lập về quân sự được tô màu xám. Nam Tư (tô xanh lá), dù là một nước cộng sản, vẫn độc lập với Khối phía đông. Tương tự, nước Albania cộng sản mâu thuẫn với Liên Xô vào đầu thập niên 1960, và nghiêng về phía Trung Quốc sau khi Trung-Xô chia rẽ.
Point Alpha Ostseite
Bức màn sắt tại Đức

Hình thành sự thù địch giữa Liên Xô và Phương Tây

Sự thù địch giữa Liên Xô và phương Tây từ đó dẫn đến bài diễn văn của Churchill có nhiều nguyên nhân.

Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, Pháp, Nhật Bản, Canada, Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác đã hỗ trợ cho Bạch vệ Nga chống lại những người Bolshevik trong suốt cuộc Nội chiến Nga 1918–1920, và người Xô viết vẫn chưa quên hành động này.

Trong suốt mùa hè năm 1939, sau khi tiến hành đàm phán với cả nhóm Anh-Pháp lẫn Đức về các thỏa thuận chính trị và chiến tranh đang có nguy cơ nổ ra,[4] Liên Xô và Đức đã ký một Thỏa thuận Thương mại trong đó giao thương một số loại khí tài và thiết bị dân dụng của Đức để đổi lấy nguyên liệu thô từ Liên Xô[5][6]Hiệp ước Molotov-Ribbentrop, được đặt tên theo hai bộ trưởng ngoại giao của hai nước (Molotov-Ribbentrop), trong đó có một thỏa thuận mật phân chia vùng ảnh hưởng tại Ba Lan và Đông Âu giữa hai quốc gia này[7][8]. Quân đội Liên Xô sau đó đã xâm lấn Đông Ba Lan, Latvia, Litva, bắc Rumani, Estonia và đông Phần Lan. Từ tháng 8 năm 1939 đến tháng 6 năm 1941 (khi Đức phá vỡ Hiệp ước và tiến hành xâm lược Liên Xô), mối quan hệ giữa phương Tây và Liên Xô còn rạn nứt hơn nữa khi Liên Xô và Đức tham gia trong mối quan hệ kinh tế chặt chẽ hơn với việc Liên Xô gửi cho Đức nguồn dầu lửa, cao su, măn-gan và các loại vật liệu khác để đổi lấy vũ khí, máy móc sản xuất và công nghệ của Đức.[9][10]

Sau chiến tranh, Stalin muốn bảo đảm an toàn cho biến giới phía tây của Liên Xô bằng cách thành lập các chính thể do những người cộng sản lãnh đạo dưới sự ảnh hưởng của Liên Xô tại các nước cận biên giới. Ở phương Tây, có sự phản đối sự chi phối của Liên Xô đối với các quốc gia vùng đệm, và dấy lên nỗi sợ hãi Liên Xô đang xây dựng một đế chế và có thể sẽ trở thành mối đe dọa cho họ và những lợi ích của họ. Cụ thể hơn, Churchill e ngại rằng Hoa Kỳ sẽ quay trở lại chủ nghĩa cô lập như trước chiến tranh, để mặc cho các quốc gia châu Âu đang kiệt sức vì chiến tranh sẽ không thể chống cự lại nhu cầu của Liên Xô. Tổng thống Franklin D. Roosevelt đã tuyên bố tại Hội nghị Yalta rằng sau khi nước Đức bị đánh bại, lực lượng Mỹ sẽ rút khỏi châu Âu trong vòng hai năm.[11]

Bài diễn văn Bức màn sắt

Việc sử dụng thuật ngữ "Bức màn sắt" trong bối cảnh khu vực Đông Âu đang chịu ảnh hưởng của Liên Xô không phổ biến cho đến khi Churchill dùng nó trong bài "Nguồn tiếp sức cho Hòa bình" đọc vào ngày 5 tháng 3 năm 1946, tại Đại học Westminster ở Fulton, Missouri, tạm dịch:

Từ SzczecinBaltic cho đến TriesteAdriatic một "bức màn sắt" đã chạy dọc theo Lục địa. Phía sau bức màn đó là tất cả những thủ đô của những quốc gia cổ ở Trung và Đông Âu. Warszawa, Berlin, Praha, Viên, Budapest, Beograd, BucharestSofia; tất cả những thành phố nổi tiếng này cùng dân cư sống quanh đó đang nằm trong thứ mà tôi phải gọi là quả cầu Liên Xô, và tất cả đều phải lệ thuộc, bằng cách này hay cách khác, vào không chỉ sự ảnh hưởng của Liên Xô mà còn vào sự điều khiển chặt chẽ và có khi ngày càng tăng lên từ Moskva.

Phản ứng

Thoạt đầu, nhiều quốc gia ở phương Tây chỉ trích rộng rãi bài phát biểu. Nhiều người dân phương Tây vẫn xem Liên Xô là đồng minh thân cận, trong bối cảnh Đức Quốc xãNhật Bản vừa bị đánh bại. Nhiều người cho rằng bài diễn văn của Churchill là hiếu chiến và không cần thiết. Với sự công bố các tài liệu lưu trữ của Liên Xô, một số nhà sử gia đã xem xét lại ý kiến của mình[12].

Mặc dù cụm từ này không được đón nhận nồng nhiệt vào thời điểm đó, đến khi Chiến tranh lạnh dần mạnh hơn, nó đã bắt đầu phổ biến khi nhắc đến sự chia rẽ của châu Âu. Bức màn sắt đóng vai trò giữ con người ở bên trong và ngăn cách thông tin bên ngoài, và phép ẩn dụ này cuối cùng cũng được chấp nhận rộng rãi khắp phương Tây.

Thực tế chính trị, kinh tế và quân sự

Khối phía đông

EasternBloc
Bản đồ năm 1938 với các biên giới hiện nay (màu xanh lá). Biên giới được điều chỉnh tô màu đen. Lãnh thổ CHXHCNXV Liên bang Nga sau năm 1945 màu đỏ đậm. Lãnh thổ của những nước Cộng hòa Xô viết được sáp nhập sau đó màu đỏ nhạt. Lãnh thổ quốc gia vệ tinh của Liên Xô màu hồng.

Trong khi thời gian Bức màn sắt tồn tại, một số quốc gia ở Đông Âu và nhiều quốc gia ở Trung Âu (ngoại trừ Tây Đức, Liechtenstein, Thụy SĩÁo) nằm sự điều khiển của Liên Xô. Liên Xô sáp nhập một vài quốc gia thành nước Cộng hòa Xô viết thuộc Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết. Nhiều nước trong số này nguyên thủy là các quốc gia do Đức Quốc xã nhượng lại trong Hiệp ước Molotov-Ribbentrop, trước khi Đức xâm lược Liên Xô. Những lãnh thổ được sáp nhập sau này còn có phía đông Ba Lan (nhập vào ba nước cộng hòa Xô viết khác nhau)[13], Latvia (trở thành CHXHCNXV Latvia)[14][14][15], Estonia (trở thành CHXHCNXV Estonia),[14][15] Litva (trở thành CHXHCNXV Litva)[14][15], một phần phía đông Phần Lan (sáp nhập vào CHXHCNXV Liên bang Nga)[16] và phía bắc Rumani (trở thành CHXHCNXV Moldavia).[17][18]

Các quốc gia khác chuyển thành các quốc gia vệ tinh của Liên Xô, như Đông Đức,[19] Cộng hòa Nhân dân Ba Lan, Cộng hòa Nhân dân Hungary,[20] Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc,[21] Cộng hòa Nhân dân Rumani và Cộng hòa Nhân dân Albania,[22] quốc gia tự tách mình ra khỏi sự ảnh hưởng của Liên Xô và hướng về Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Các quốc gia thuộc Khối phía đông hoặc là nước Cộng hòa của Liên Xô hoặc là do một chính phủ do Liên Xô dựng lên lãnh đạo, ngoại trừ Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Nam Tư, vẫn giữ được sự độc lập hoàn toàn.

Về phía đông của Bức màn sắt, nhiều quốc gia đã phát triển những liên minh kinh tế và quân sự quốc tế của riêng mình, như COMECONHiệp ước Warszawa.

Khối phía tây

Curtain germany
Bức màn sắt ở Đức (gần Witzenhausen-Heiligenstadt

Về phía tây của Bức màn sắt, các quốc gia thuộc Tây Âu, Bắc ÂuNam Âu—cùng với Áo, Tây Đức, LiechtensteinThụy Sĩ—thực hiện kinh tế thị trường. Với ngoại lệ là một thời kỳ của chủ nghĩa phát xítTây Ban NhaBồ Đào Nha và chính quyền độc tài quân sự ở Hy Lạp, những nước này đều do các chính phủ dân chủ lãnh đạo.

Phần lớn các quốc gia ở phía tây Bức mang sắt— với ngoại lệ là Thụy Sĩ, Liechtenstein, Áo, Thụy Điển, Phần LanIreland giữ trung lập—đều là đồng minh với Hoa KỳCanada trong NATO. Về mặt kinh tế, Cộng đồng châu ÂuHiệp hội Thương mại Tự do châu Âu là bản sao đối lập của COMECON, mặc dù các quốc gia trung lập trên danh nghĩa vẫn gần gũi về kinh tế với Hoa Kỳ hơn là các nước thuộc Khối Warszawa.

Chia cắt sâu hơn vào cuối thập niên 1940

Vào tháng 1 năm 1947, Truman chỉ định Tướng George Marshall làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, vứt bỏ chỉ thị 1067 của Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, biểu hiện cho Kế hoạch Morgenthau và thay thế nó bằng chỉ thị 1779, trong đó nói rằng một châu Âu thứ tự và thịnh vượng cần phải có sự đóng góp về kinh tế của một nước Đức ổn định và có năng suất."[23]. Các quan chức chính phủ đã gặp Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô Vyacheslav Molotov và những người khác để thúc đẩy một nước Đức tự cung tự cấp về mặt kinh tế, bao gồm một sự tính toán chi tiết về các nhà máy công nghiệp, sản phẩm và cơ sở hạ tầng đã bị Liên Xô đánh sập[24]. Sau sáu tuần thương lượng, Molotov đã từ chối những đòi hỏi và cuộc thảo luận phải hoãn lại[24]. Marshall cảm thấy khá chán nản sau cuộc gặp cá nhân với Stalin, người tỏ thái độ ít quan tâm đến giải pháp cho vấn đề kinh tế của Đức[24]. Hoa Kỳ kết luận rằng một giải pháp là việc không thể chờ đợi được nữa[24]. Trong bài diễn văn vào ngày 5 tháng 6 năm 1947,[25] Marshall đã thông báo một chương trình trợ giúp toàn diện từ Hoa Kỳ cho tất cả các nước châu Âu nào muốn tham gia, bao gồm cả Liên Xô và những nước ở Đông Âu, gọi là Kế hoạch Marshall.[24]

Stalin phản đối Kế hoạch Marshall. Ông đã tạo dựng một Khối phía đông làm vành đai bảo vệ các quốc gia do Liên Xô điều khiển ở biên giới phía tây của mình[26], và muốn duy trì khu vực đệm gồm các quốc gia này cùng với một nước Đức yếu ớt chịu sự điều khiển của Liên Xô[27]. Lo sợ sự thâm nhập của nền chính trị, văn hóa và kinh tế của Hoa Kỳ, Stalin cuối cùng đã cấm các quốc gia ở khối phía đông thuộc Cominform vừa mới thành lập không được chấp nhận gói cứu trợ từ Kế hoạch Marshall[24]. Tại Tiệp Khắc, nơi đã cần phải có một cuộc đảo chính vào năm 1948 do Liên Xô hậu thuẫn[28], sự tàn bạo của sự kiện này đã gây sốc đến các thế lực phương Tây nhiều hơn bất kỳ một sự kiện nào xảy ra trước đó và nhanh chóng lan truyền nỗi sợ hãi xảy ra chiến tranh và quét sạch những vết tích cuối cùng của sự phản đối Kế hoạch Marshall tại Quốc hội Hoa Kỳ[29].

Mối quan hệ càng xấu hơn nữa khi vào tháng 1 năm 1948, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cũng xuất bản một tập tài liệu có nhan đề Mối quan hệ giữa Quốc xã-Liên Xô, 1939–1941: Những tài liệu từ Kho lưu trữ của Bộ ngoại giao Đức, trong đó có chứa những tài liệu được phục hồi từ Bộ Ngoại giao Đức Quốc xã[30][31] tiết lộ những cuộc đối thoại của Liên Xô với Đức liên quan đến Hiệp ước Molotov-Ribbentrop, bao gồm giao thức bí mật phân chia Đông Âu[32][33], Thỏa thuận Thương mại Đức-Xô 1939[32][34], và những thảo luận về việc Liên Xô có khả năng trở thành Trục thứ tư[35]. Để phản pháo, một tháng sau đó, Liên Xô cho xuất bản Những xuyên tạc lịch sử, một cuốn sách do Stalin biên tập và viết lại một phần để tấn công phương Tây[30][36].

Sau Kế hoạch Marshall, việc giới thiệu một đồng tiền mới cho Tây Đức để thay thế cho đồng Reichsmark của phát xít và việc các đảng cộng sản thua cuộc trong những cuộc bầu cử lớn, vào tháng 6 năm 1948, Liên Xô cắt đứt con đường bộ dẫn đến Berlin, khởi đầu cho việc Phong tỏa Berlin, cắt tất cả nguồn thức ăn, nước và các nguồn cung khác không phải của Liên Xô đối với khu vực Berlin không do Liên Xô kiểm soát[37]. Vì Berlin nằm trong khu vực nước Đức do Liên Xô chiếm đóng, phương thức tiếp tế duy nhất cho thành phố là ba vùng hành lang bay hạn chế[38]. Một chiến dịch tiếp tế bằng đường hàng không khổng lồ đã được Hoa Kỳ, Anh, Pháp và các nước khác khởi động, sự thành công của nó đã khiến cho Liên Xô phải dỡ bỏ lệnh phong tỏa vào tháng 5 năm 1949.

Hạn chế nhập cư

Việc nhập cư từ phía đông Bức màn sắt sang phía tây, ngoại trừ trong những tình huống đặc biệt, đều bị dừng hoàn toàn sau năm 1950. Trước năm 1950, trên 15 triệu người nhập cư vào phương tây từ các quốc gia Đông Âu do Liên Xô kiểm soát chỉ trong vòng năm năm sau Thế chiến II[39]. Tuy nhiên, việc hạn chế được thực hiện trong Chiến tranh lạnh đã ngăn hầu hết việc nhập cư Đông-Tây, với chỉ 13,3 triệu người nhập cư sang phía tây từ năm 1950 đến 1990[40]. Hơn 75% những người nhập cư từ các quốc gia Khối phía đông trong khoảng từ 1950 đến 1990 là do những thỏa thuận song phương vì "di cư sắc tộc"[40]. Khoảng 10% là những người tị nạn được phép nhập cư theo Hiệp định Geneve năm 1951[40]. Đa số người dân Liên Xô được phép rời đi trong khoảng thời gian này là sắc dân Do Thái được phép di cư vào Israel sau một loạt sự đào thoát đáng hổ thẹn vào năm 1970 khiến cho Liên Xô quản lý rất chặt việc di cư sắc tộc[41]. Sự sụp đổ Bức màn sắt đi kèm với tỷ lệ di cư Đông-Tây Âu tăng lên khủng khiếp[40].

Cách dùng xưa hơn của cụm từ

Bakom Rysslands jarnrid
Cuốn sách bằng tiếng Thụy Điển "Đằng sau bức màn sắt của Nga" năm 1923

Thuật ngữ "bức màn sắt" đã được dùng nhiều lần trước khi Churchill dùng nó trong bài diễn văn. Thuật ngữ này có nguồn gốc từ Kinh Talmud tại Babylon của người Do Thái, Tractate Sota 38b, trong đó có nhắc đến "mechitza shel barzel," hàng rào hay vật ngăn cách bằng sắt:

אפילו מחיצה של ברזל אינה מפסקת בין ישראל לאביהם שבשמים
(Thậm chí một hàng rào sắt cũng không thể chia cách [nhân dân] Israel khỏi người cha thiên thượng của họ)

Một số người cho rằng thuật ngữ này có lẽ được Hoàng hậu Elisabeth của Bỉ đặt ra sau Thế chiến I để mô tả tình thế chính trị giữa BỉĐức, vào năm 1914[42]. Một bức màn sắt, hay eiserner Vorhang, là sự phòng ngừa bắt buộc trong tất cả các rạp hát của Đức để tránh cả năng lửa có thể lan từ sân khấu đến phần còn lại của rạp hát. Những vụ cháy như vậy xảy ra khá thường xuyên vì dụng cụ trang trí rất dễ bắt lửa. Trong trường hợp có hỏa hoạn, một bức tường bằng kim loại sẽ chia tách sân khấu với rạp hát, tách biệt ngọn lửa cho lính chữa cháy làm việc. Douglas Reed đã sử dụng phép ẩn dụ này trong cuốn sách Disgrace Abounding của ông (Jonathan Cape, 1939, trang 129): "Cuộc xung đột quyết liệt [ở Nam Tư giữa lính liên hiệp Serbi và lính liên bang Croatia] đã bị sự độc tài của Đức vua che giấu nhờ một bức màn an toàn bằng sắt". Joseph Goebbels đã viết về một "bức màn sắt" trong tờ tuần báo của ông Das Reich:

Nếu dân tộc Đức buông vũ khí, người Liên Xô, theo thỏa thuận giữa Roosevelt, Churchill và Stalin, sẽ chiếm đóng toàn bộ Đông và Đông Nam châu Âu cùng với một phần lớn Đế chế. Một bức màn sắt sẽ được phủ lên vùng đất rộng lớn do Liên Xô kiểm soát này, đằng sau nó các quốc gia sẽ bị tàn sát. Báo chí Do Thái ở Luân Đôn và New York có thể sẽ ngồi vỗ tay.
"The Year 2000" (German Propaganda Archive)

Trường hợp đầu tiên được ghi lại có sử dụng thuật ngữ bức màn sắt là từ bức màn an toàn được dùng trong rạp hát và áp dụng lần đầu tiên vào biên giới của nước Nga Xô viết như một "hàng rào bất khả xâm phạm" vào năm 1920 của Ethel Snowden, trong cuốn sách Khắp nước Nga Bolshevik của bà [43]. Nó được Bộ trưởng Bộ tuyên truyền Đức, Joseph Goebbels, dùng trong Thế chiến II rồi sau đó đến Bá tước Lutz Schwerin von Krosigk vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến. Sự đề cập bằng lời một cách chủ ý lần đầu tiên về một Bức màn sắt trong bối cảnh Liên Xô là trong bài phát thanh của Bá tước Lutz Schwerin von Krosigk đến nhân dân Đức vào ngày 2 tháng 5 năm 1945:

Ở phía đông một bức màn sắt, mà đằng sau nó là những công việc phá hoại được che giấu khỏi con mắt của thế giới, đang nhanh chóng tiến tới.

Chú thích

  1. ^ Freedom! - TIME
  2. ^ A New Look at the Iron Curtain, Ignace Feuerlicht, American Speech, Vol. 30, No. 3 (Oct., 1955), p. 186–189.
  3. ^ “Sinews of Peace”. Truy cập 26 tháng 9 năm 2015.
  4. ^ Shirer 1990, tr. 515–40
  5. ^ Shirer 1990, tr. 668
  6. ^ Ericson 1999, tr. 57
  7. ^ Day, Alan J.; East, Roger; Thomas, Richard. A Political and Economic Dictionary of Eastern Europe, p. 405.
  8. ^ “Stalin offered troops to stop Hitler”. London: NDTV. Press Trust of India. Ngày 19 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2009.
  9. ^ Ericson, Edward E. (1999), Feeding the German Eagle: Soviet Economic Aid to Nazi Germany, 1933–1941, Greenwood Publishing Group, tr. 1–210, ISBN 0275963373
  10. ^ Shirer, William L. (1990), The Rise and Fall of the Third Reich: A History of Nazi Germany, Simon and Schuster, tr. 598–610, ISBN 0671728687
  11. ^ Antony Beevor Berlin: The building of the berlin wall', p80
  12. ^ John Lewis Gaddis We Now Know 1997
  13. ^ Roberts 2006, tr. 43
  14. ^ a ă â b Wettig 2008, tr. 21
  15. ^ a ă â Senn, Alfred Erich, Lithuania 1940: revolution from above, Amsterdam, New York, Rodopi, 2007 ISBN 978-90-420-2225-6
  16. ^ Kennedy-Pipe, Caroline, Stalin's Cold War, New York: Manchester University Press, 1995, ISBN 0-7190-4201-1
  17. ^ Roberts 2006, tr. 55
  18. ^ Shirer 1990, tr. 794
  19. ^ Wettig 2008, tr. 96-100
  20. ^ Granville, Johanna, The First Domino: International Decision Making during the Hungarian Crisis of 1956, Texas A&M University Press, 2004. ISBN 1-58544-298-4
  21. ^ Grenville 2005, tr. 370-71
  22. ^ Cook 2001, tr. 17
  23. ^ Beschloss 2003, tr. 277
  24. ^ a ă â b c d Miller 2000, tr. 16
  25. ^ Marshall, George C, The Marshal Plan Speech, 5 tháng 6 năm 1947
  26. ^ Miller 2000, tr. 10
  27. ^ Miller 2000, tr. 11
  28. ^ Airbridge to Berlin, "Eye of the Storm" chapter
  29. ^ Miller 2000, tr. 19
  30. ^ a ă Henig 2005, tr. 67
  31. ^ Department of State 1948, tr. preface
  32. ^ a ă Roberts 2002, tr. 97
  33. ^ Department of State 1948, tr. 78
  34. ^ Department of State 1948, tr. 32-77
  35. ^ Churchill 1953, tr. 512-524
  36. ^ Roberts 2002, tr. 96
  37. ^ Miller 2000, tr. 25-31
  38. ^ Miller 2000, tr. 6-7
  39. ^ Böcker 1998, tr. 207
  40. ^ a ă â b Böcker 1998, tr. 209
  41. ^ Krasnov 1985, tr. 1&126
  42. ^ L'Album de la Guerre - Ed. L'Illustration - Paris - 1923 - p. 33 - Queen Elisabeth to author Pierre Loti in 1915
  43. ^ Cohen, J. M. and M. J. (1996). New Penguin Dictionary of Quotations. Penguin Books. tr. 726. ISBN 0-14-051244-6.

Tham khảo

  • Beschloss, Michael R (2003), The Conquerors: Roosevelt, Truman and the Destruction of Hitler's Germany, 1941-1945, Simon and Schuster, ISBN 0743260856
  • Böcker, Anita (1998), Regulation of Migration: International Experiences, Het Spinhuis, ISBN 9055890952
  • Churchill, Winston (1953), The Second World War, Houghton Mifflin Harcourt, ISBN 0395410568
  • Cook, Bernard A. (2001), Europe Since 1945: An Encyclopedia, Taylor & Francis, ISBN 0815340575
  • Ericson, Edward E. (1999), Feeding the German Eagle: Soviet Economic Aid to Nazi Germany, 1933–1941, Greenwood Publishing Group, ISBN 0275963373
  • Grenville, John Ashley Soames (2005), A History of the World from the 20th to the 21st Century, Routledge, ISBN 0415289548
  • Grenville, John Ashley Soames & Bernard Wasserstein (2001), The Major International Treaties of the Twentieth Century: A History and Guide with Texts, Taylor & Francis, ISBN 041523798X
  • Henig, Ruth Beatrice (2005), The Origins of the Second World War, 1933-41, Routledge, ISBN 0415332621
  • Krasnov, Vladislav (1985), Soviet Defectors: The KGB Wanted List, Hoover Press, ISBN 0817982310
  • Miller, Roger Gene (2000), To Save a City: The Berlin Airlift, 1948-1949, Texas A&M University Press, ISBN 0890969671
  • Roberts, Geoffrey (2006), Stalin's Wars: From World War to Cold War, 1939–1953, Yale University Press, ISBN 0300112041
  • Roberts, Geoffrey (2002), Stalin, the Pact with Nazi Germany, and the Origins of Postwar Soviet Diplomatic Historiography, vol. 4
  • Shirer, William L. (1990), The Rise and Fall of the Third Reich: A History of Nazi Germany, Simon and Schuster, ISBN 0671728687
  • Soviet Information Bureau (1948), Viết tại Moscow, Falsifiers of History (Historical Survey), Foreign Languages Publishing House, 272848
  • Department of State (1948), Nazi-Soviet Relations, 1939–1941: Documents from the Archives of The German Foreign Office, Department of State, <http://www.ibiblio.org/pha/nsr/nsr-preface.html>
  • Wettig, Gerhard (2008), Stalin and the Cold War in Europe, Rowman & Littlefield, ISBN 0742555429

Liên kết ngoài

5 tháng 3

Ngày 5 tháng 3 là ngày thứ 64 (65 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 301 ngày trong năm.

Anne Applebaum

Anne Elizabeth Applebaum (sinh ngày 25 tháng 7 năm 1964) là một nhà báo người Hoa Kỳ và Ba Lan, một tác giả đã đoạt giải Pulitzer mà viết rất nhiều về đề tài chủ nghĩa Cộng sản và sự phát triển của xã hội dân sự ở Trung và Đông Âu. Bà Applebaum đã từng là biên tập viên tờ The Economist, và thành viên ban biên tập của tờ The Washington Post (2002–2006). Chồng bà là nguyên bộ trưởng bộ ngoại giao Ba Lan Radosław Sikorski.

== Thời kỳ đầuApplebaum sinh tại Washington, D.C. Cha mẹ cô là Harvey M. Applebaum ==

Bức màn tre

Bức màn tre là một uyển ngữ thời chiến tranh Lạnh cho sự phân chia ranh giới giữa các quốc gia cộng sản và các quốc gia tư bản hoặc phi cộng sản ở Đông Á, đặc biệt là Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc. Cụm từ này thi thoảng được dùng để chỉ khu phi quân sự Triều Tiên chia cắt Triều Tiên và Hàn Quốc hoặc đường biên giới ở Đông Nam Á ngăn cách chủ nghĩa cộng sản và phương Tây.

Trong thời kỳ cách mạng văn hóa, chính quyền Trung Quốc đã ra lệnh hạn chế đi lại qua những ranh giới này, cấm đi vào hoặc ra khỏi quốc gia mà không có sự cho phép rõ ràng từ chính quyền Trung Quốc. Nhiều người tị nạn khi cố gắng đi đến các nước tư bản đã không thể trốn thoát theo cách băng qua "bức màn" này. Thi thoảng khi sự kiểm soát được nới lỏng, đã có nhiều làn sóng người tị nạn vào Hong Kong khi đó còn là thuộc địa của Anh.

Thuật ngữ "bức màn tre" ít được sử dụng hơn cụm từ "bức màn sắt" một phần bởi

trong khi "bức màn sắt" gần như cố định trong hơn 40 năm thì "bức màn tre" thay đổi liên tục. Đây cũng là một sự mô tả kém chính xác về tình hình chính trị của châu Á vì không có sự cố kết bên trong Khối cộng sản Đông Á mà cuối cùng đã gây ra chia rẽ Trung-Xô; chính quyền cộng sản Mông Cổ, Việt Nam và sau đó là Lào ủng hộ Liên Xô trong khi chế độ Pol Pot của Campuchia lại trung thành với Trung Quốc. Không lâu sau chiến tranh Triều Tiên, Bắc Triều Tiên tuyên bố không ngả theo bất cứ bên nào. Tuy vẫn từ chối đứng về một bên nhưng Triều Tiên ngày nay đi theo một hướng khác bằng cách tuyên bố đoàn kết với cả Trung Quốc và Nga.

Mối quan hệ được cải thiện giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong giai đoạn sau của chiến tranh Lạnh đã khiến cho thuật ngữ này ít nhiều trở nên lỗi thời, trừ khi nó dùng để nói về bán đảo Triều Tiên hoặc sự phân cắt giữa các đồng minh của Mỹ và của Liên Xô ở Đông Nam Á. Ngày nay, khu phi quân sự giữa Hàn Quốc và Triều Tiên được gọi là DMZ. "Bức màn tre" thường được sử dụng hơn để nói đến tình trạng đóng cửa biên giới và kinh tế của Myanmar.

Chiến tranh Lạnh

Chiến tranh Lạnh (1946–1989) là tình trạng tiếp nối xung đột chính trị, căng thẳng quân sự, và cạnh tranh kinh tế tồn tại sau Thế chiến II (1939–1945), chủ yếu giữa Liên bang Xô viết và các quốc gia đồng minh của họ, với các cường quốc thuộc thế giới phương Tây, gồm cả Hoa Kỳ. Dù các lực lượng tham gia chủ yếu không bao giờ chính thức xung đột, họ đã thể hiện sự xung đột thông qua các liên minh quân sự, những cuộc triển khai lực lượng quy ước chiến lược, một cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân, tình báo, chiến tranh ủy nhiệm, tuyên truyền, và cạnh tranh kỹ thuật, như cuộc chạy đua không gian.

Dù là các đồng minh chống lại Phe Trục, Liên Xô, Hoa Kỳ, Anh Quốc và Pháp đã không đồng thuận trong và sau Thế chiến II, đặc biệt về việc thiết lập thế giới thời hậu chiến. Khi cuộc chiến kết thúc, họ chiếm hầu hết châu Âu, với việc Hoa Kỳ và Liên Xô là các lực lượng quân sự mạnh nhất.

Liên Xô lập ra Khối Đông Âu với các quốc gia Đông Âu mà họ giải phóng, sáp nhập một số trở thành Các nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết và duy trì các quốc gia khác như nước đồng minh của mình, một số nước trong số đó sau này được củng cố vào Khối Hiệp ước Warsaw (1955–1991). Hoa Kỳ và một số quốc gia Tây Âu thì lập ra chính sách ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản như là chính sách ngoại giao chủ yếu của họ, và lập ra các liên minh (ví dụ NATO, 1949) cho mục đích đó.

Nhiều quốc gia trong số đó cũng tham gia vào kế hoạch tái thiết châu Âu, đặc biệt là Tây Đức, vốn bị Liên Xô phản đối. Ở những nơi khác, tại Mỹ Latinh và Đông Nam Á, Liên Xô ủng hộ các cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, nhưng bị nhiều nước phương tây ủng hộ chủ nghĩa thực dân phản đối; một số nước tìm cách hạ thấp dập tắt các phong trào đòi độc lập này, với những kết quả khác nhau. Một số nước liên kết với NATO và Khối hiệp ước Warsaw, tuy thế các khối của những quốc gia không liên kết cũng xuất hiện.

Cuộc chiến tranh Lạnh có đặc điểm ở những giai đoạn khá yên tĩnh và những giai đoạn căng thẳng lên cao trong quan hệ quốc tế – cuộc Phong toả Berlin (1948–1949), Chiến tranh Triều Tiên (1950–1953), Khủng hoảng Berlin 1961, các cuộc Xung đột Ả Rập-Israel (1948-1982), các cuộc Chiến tranh Đông Dương (1945–1975), Khủng hoảng tên lửa Cuba (1962), Chiến tranh Xô viết tại Afghanistan (1979–1989), và những cuộc tập trận Able Archer 83 của NATO vào tháng 11 năm 1983. Cả hai phía đã tìm cách làm giảm các căng thẳng chính trị và tránh một cuộc tấn công quân sự trực tiếp, vốn dường như sẽ dẫn tới một sự tiêu diệt có đảm bảo từ hai phía với các loại vũ khí hạt nhân.

Trong thập niên 1980, Hoa Kỳ tăng cường sức ép ngoại giao, quân sự và kinh tế chống lại Liên Xô, vốn đang ở tình trạng trì trệ kinh tế. Sau đó, Tổng thống Liên Xô Mikhail Gorbachev đưa ra những cuộc cải cách perestroika ("tái cơ cấu" 1987) và glasnost ("mở cửa", khoảng năm 1985). Liên bang Xô viết sụp đổ năm 1991, khiến Hoa Kỳ còn lại là cường quốc quân sự có vị thế thống trị. Nhà nước kế thừa Liên Xô là Liên bang Nga vẫn có sức mạnh khoa học kỹ thuật và quân sự đáng gờm, nhưng không đủ mạnh về kinh tế như Liên Xô trước đây. Tuy nhiên, tới đầu thế kỷ XXI, một cường quốc khác là Trung Quốc ngày càng trở nên mạnh mẽ về kinh tế, khoa học, quân sự và được dự báo sẽ sớm trở thành một đối thủ mới cạnh tranh toàn diện với Mỹ.

Chiến trường châu Âu (Thế chiến thứ hai)

Chiến trường châu Âu là cuộc tranh chấp vũ trang rộng lớn, trải khắp châu Âu trong Chiến tranh thế giới thứ hai giữa hai phe: quân đội phe Trục (phần lớn là Đức Quốc xã, Phát xít Ý) và quân đội Đồng Minh (phần lớn là Anh Quốc, Hoa Kỳ, Pháp và Liên Xô) - khởi đầu từ khi Đức tấn công Ba Lan ngày 1 tháng 9 năm 1939 cho đến khi Đức đầu hàng vô điều kiện ngày 8 tháng 5 năm 1945.

Chiến trường châu Âu được chia làm ba mặt trận: Mặt trận phía đông - giữa Đức và Liên Xô; Mặt trận phía tây - giữa Đức và Anh, Pháp, và Hoa Kỳ; và Mặt trận Địa Trung Hải - giữa Đức, Ý và Anh, Úc, New Zealand.

Chó cảnh Nga

Chó cảnh Nga (còn được gọi là Chó sục cảnh Nga và ở Nga là Chó cảnh Russkiy, Chó Toychik, tiếng Nga: Русский той, Тойчик) là một giống chó có kích thước rất nhỏ được nuôi ở Nga có nguồn gốc từ Chó sục cảnh Anh. Giống chó này có hai loại lông: lông mịn và lông dài. Sự đa dạng về lớp lông khiến giống chó có lông mịn bao phủ trước đây được gọi là Chó sục cảnh Nga và giống chó có một lớp lông dài được gọi với cái tên Chó sục cảnh lông dài Moscow. Cả hai đã được gộp lại dưới cùng tên Chó sục cảnh Nga vào năm 1988 và cụm "Chó sục" đã bị loại khỏi tên khi giống được thêm vào năm 2006 vào danh sách giống chính thức được đăng ký với Fédération Cynologique Internationale và đã được đăng ký bởi Tổ chức Chăm sóc Động vật Nuôi của Câu lạc bộ Chăm sóc Chó Hoa Kỳ từ năm 2008, được phép cạnh tranh trong các sự kiện do AKC tổ chức kể từ năm 2010. Tiêu chuẩn giống chính thức đầu tiên của hai giống này được viết vào năm 1966 ở Nga.Loài này gần như bị xóa sổ hai lần; đầu tiên vào những năm 1920 với sự gia tăng của chủ nghĩa Cộng sản do sự liên kết truyền thống của chó cảnh với tầng lớp quý tộc và một lần nữa vào những năm 1990, với lý do là dòng giống ngoại lai sau sự sụp đổ của Bức màn sắt. Loại chó có bộ lông mịn là loại cũ hơn và loại lông dài đầu tiên xuất hiện vào năm 1958.

Cầu Glienicke

Cầu Glienicke (tiếng Đức: Glienicker Brücke) bắc qua sông Havel, nối Berlin với Potsdam được giới truyền thông gọi là "cầu gián điệp" vì Liên Xô và Mỹ ba lần dùng cầu này để trao đổi điệp viên bị bắt.

10 tháng 2 năm 1962: Liên Xô đổi đại úy Francis Powers (phi công máy bay Lockheed U-2, bị bắn rơi ở Sverlovsk) lấy đại tá FBI Rudolf Abel.

11 tháng 6 năm 1985: Liên Xô đổi 23 điệp viên CIA lấy 4 điệp viên KGB.

11 tháng 2 năm 1986: Liên Xô đổi Anatoly Borisovich Sharansky (và 3 người khác) lấy Hana Koecher (và 4 người khác).

Khối phía Đông

Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, thuật ngữ Khối phía đông (hay Khối Xô Viết) đã được dùng để chỉ Liên Xô và các đồng minh của mình ở Trung và Đông Âu (Bulgaria, Tiệp Khắc, Đông Đức, Hungary, Ba Lan, Româniavà - đến đầu thập niên 1960 - Albania).

Tên gọi "Khối phía đông" cũng đã được sử dụng để gọi chung tên của các quốc gia thành viên của Hiệp ước Warszawa (một liên minh quân sự do Liên Xô lãnh đạo) hoặc của tổ chức Comecon (Hội đồng Tương trợ Kinh tế) (một tổ chức kinh tế quốc tế của các nhà nước cộng sản). Các đồng minh của Liên Xô bên ngoài Đông Âu như Mông Cổ và thường là Cuba, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Bắc Triều Tiên đôi khi được bao gồm trong Khối phía đông.

Các thuật ngữ Khối phía đông và Liên Xô đôi khi bị nhầm lẫn. Dù Liên Xô đã có nhiều ảnh hưởng kinh tế và chính trị lên các đồng minh của Khối phía đông, các quốc gia khác trong Khối phía đông chưa bao giờ là một nước cộng hòa thành viên của Liên Xô.

Kế hoạch Marshall

Kế hoạch Marshall (Marshall Plan) là một kế hoạch trọng yếu của Hoa Kỳ nhằm tái thiết và thiết lập một nền móng vững chắc hơn cho các quốc gia Tây Âu, đẩy lùi chủ nghĩa cộng sản sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Mang tên chính thức "Kế hoạch phục hưng châu Âu" (European Recovery Program - ERP), nhưng Kế hoạch Marshall thường được gọi theo tên của Ngoại trưởng Mỹ George Marshall, người đã khởi xướng và ban hành kế hoạch. Kế hoạch Marshall là thành quả lao động của các quan chức Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, trong đó ghi nhận sự đóng góp đặc biệt của William L. Clayton và George F. Kennan.

Kế hoạch tái thiết được phát triển tại cuộc họp mặt của các quốc gia Châu Âu ngày 12 tháng 7 năm 1947. Kế hoạch Marshall đề ra việc viện trợ tương đương cho Liên Xô và đồng minh của họ, nhưng không được chấp nhận. Kế hoạch được thực thi trong vòng 4 năm, kể từ tháng 7 năm 1947. Trong thời gian đó, có khoảng 17 tỷ đô la Mỹ viện trợ kinh tế và hỗ trợ kỹ thuật để giúp khôi phục các quốc gia châu Âu tham gia Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế - OECD. Nhiều quốc gia châu Âu đã nhận được viện trợ trước khi có Kế hoạch Marshall, kể từ năm 1945, cùng với các điều kiện chính trị kèm theo.

Kế hoạch Marshall cũng là một phần trong kế hoạch chính trị của Mỹ nhằm tăng cường ảnh hưởng đối với các nước Đồng minh Tây Âu và chống lại Liên Xô, cũng như để tạo thuận lợi cho việc kinh doanh của các Tập đoàn xuyên quốc gia Mỹ tại Tây Âu. Để phục vụ mục đích này, Mỹ đã viện trợ kinh tế cho cả chính quyền phát xít Tây Ban Nha, cũng như viện trợ chiến phí cho thực dân Pháp, thực dân Hà Lan quay trở lại xâm chiếm Đông Nam Á. Cho tới khi kết thúc dự án, nền kinh tế của các quốc gia nằm trong Kế hoạch, ngoại trừ Tây Đức, đã phát triển vượt mức trước chiến tranh.

Trong vòng hai thập kỷ tiếp đó, nhiều vùng ở Tây Âu tiếp tục đạt được mức tăng trưởng chưa từng có trước đó. Kế hoạch Marshall cũng được xem là một trong các thành tố của quá trình hội nhập châu Âu, vì nó xóa bỏ hàng rào thuế quan và thiết lập các cơ quan điều phối kinh tế tầm cỡ lục địa.

Trong những năm gần đây, các sử gia đặt câu hỏi về cả động cơ bên trong cũng như tính hiệu quả chung của Kế hoạch Marshall. Một số sử gia cho rằng hiệu quả của Kế hoạch Marshall thực tế là từ chính sách laissez-faire (tạm dịch: thả nổi) cho phép thị trường tự bình ổn qua sự phát triển kinh tế. Người ta cho rằng Tổ chức Cứu trợ và Phục hồi của Liên Hiệp Quốc, vốn giúp hàng triệu người tị nạn từ năm 1944 tới 1947, cũng giúp đặt nền móng cho sự phục hồi châu Âu thời hậu chiến.

Niedersachsen

Niedersachsen hay Hạ Saxon (tiếng Anh: Lower Saxony) là một bang nằm trong vùng tây-bắc của nước Cộng hòa Liên bang Đức. Đây là bang có diện tích lớn thứ hai (sau bang Bayern) và có số dân nhiều thứ tư nước Đức. Thủ phủ của bang là thành phố Hannover. Trong tiếng Đức, người dân của bang Niedersachsen cũng được gọi là Niedersachsen.

Sân bay Arłamów

Sân bay Arłamów (tiếng Ba Lan: Lotnisko Krajna) (IATA: N/A, ICAO: EPAR) là một sân bay của chính phủ cũ nằm ở cực đông nam của Ba Lan (gần biên giới Ukraine), ở gmina Bircza.

Sân bay được xây dựng vào cuối những năm 1970 trong vùng lân cận của một khu phức hợp giải trí bí mật, sang trọng có tên Arłamów. Khu phức hợp độc quyền, được bảo vệ cao này nằm ở giữa một khu vực rừng rậm, tiếp cận một cách khó khăn. Vì nó rất phổ biến với các đại diện chính của chính phủ Cộng sản Ba Lan, việc tiếp cận dễ dàng với các cơ sở ở đó là rất cần thiết. Đó là lý do tại sao ý tưởng xây dựng một sân bay gần đó xuất hiện.

Tìm một nơi thích hợp cho sân bay không phải là một nhiệm vụ dễ dàng, vì địa hình xung quanh là đồi núi và rừng rậm. Cuối cùng, các kỹ sư đã tìm thấy một cao nguyên trong khuôn viên của ngôi làng Krajna bị chiến tranh tàn phá, cách 10 km về phía Tây Bắc của Arłamów. Một đường băng bê tông / bitum dài 1193 m và rộng 35 m đã được xây dựng, do đó cho phép các quan chức của đảng và chính phủ hạ cánh an toàn với máy bay cánh quạt và máy bay phản lực nhỏ. Vì khu phức hợp Arłamów cũng đã tiếp đón những vị khách quốc tế đặc biệt đến những chiếc máy bay phản lực lớn, thay vào đó họ đã bay đến Sân bay Rzeszów- Jinationka và sau đó được đưa tới Arłamów.

Bên cạnh đường băng, một thang lên máy bay đã được chế tạo, nhưng không cần thiết bị đầu cuối nào, các quan chức đến ngay lập tức được xe limousine đón và đưa về khách sạn.

Kể từ sự sụp đổ của Bức màn sắt, Arłamów và sân bay đều bị giải thể. Trong những năm gần đây, khu phức hợp đã mở cửa trở lại như một điểm thu hút khách du lịch, nhưng việc sử dụng sân bay vẫn chưa được hồi sinh. Sân bay Arłamów vẫn còn đó và trong tình trạng khá tốt, nhưng nó không được duy trì cũng như không được giám sát. Nó đôi khi được sử dụng cho hàng không thể thao và các chuyến bay du lịch truyền thống, nhưng việc hạ cánh được thực hiện là rất rủi ro. Thường xuyên hơn, đường băng bị chiếm bởi những người lái xe tốc độ.

Hướng của đường băng là 16/34 ở độ cao 441 mét. Địa điểm của sân bay thường được gọi là odzinka Górna, Krajna, Trójca hoặc omna (theo tên của những ngôi làng gần đó).

Thảm sát Katyn

Thảm sát Katyn, cũng được gọi là vụ Thảm sát rừng Katyn (tiếng Ba Lan: Zbrodnia katyńska, mord Katyński, 'Tội ác Katyń'; tiếng Nga: Катынский расстрел Katynskij ra'sstrel 'Xử bắn Katyn'), được cho là một cuộc xử bắn hàng loạt những tù binh Ba Lan do Bộ Dân ủy Nội vụ (NKVD), cảnh sát mật Liên xô, thực hiện vào tháng 4 và tháng 5 năm 1940, khởi đầu từ đề xuất của L. P. Beriya đề nghị xử bắn tất cả các sĩ quan Ba Lan, ngày 5 tháng 3 năm 1940. Tài liệu chính thức này đã được Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô, gồm cả lãnh đạo I. V. Stalin, ký và đóng dấu. Số tù binh bị xử bắn được ước tính khoảng 22.000 người, với con số thấp hơn là 21.768 người.Các tù binh bị xử bắn tại Rừng Katyn Nga, các trại tù Kalinin, Kharkiv và những nơi khác. Trong tổng số người bị xử bắn, khoảng 8.000 là các sĩ quan Ba Lan bị bắt làm tù binh trong cuộc tấn công Ba Lan của Liên Xô năm 1939, 6.000 người khác là các sĩ quan cảnh sát, số còn lại là những người thuộc giới trí thức Ba Lan bị bắt giữ vì bị kết tội là các thành phần "gián điệp, sen đầm, địa chủ, những kẻ phá hoại, chủ nhà máy, luật sư, viên chức và thầy tu".

Chính phủ Đức Quốc xã đã thông báo việc phát hiện những ngôi mộ tập thể ở rừng Katyn năm 1943. Khi Chính phủ Ba Lan lưu vong tại Luân Đôn yêu cầu Chữ thập đỏ quốc tế điều tra, Stalin ngay lập tức chấm dứt quan hệ ngoại giao với chính phủ này. Liên Xô tuyên bố các nạn nhân đã bị phát xít Đức giết hại, và tiếp tục phủ nhận trách nhiệm với các vụ xử bắn cho tới năm 1990, khi tổng thống Gorbachev chính thức thừa nhận và lên án việc xử bắn tù binh của NKVD, cũng như sự từ chối sau đó của chính phủ Liên Xô.Ngày 7 tháng 4 năm 2010, Thủ tướng Nga Vladimir Putin đã đến đặt vòng hoa tại đài tưởng niệm dành cho các nạn nhân của vụ xử bắn Katyn. Trong bài phát biểu tại buổi lễ tưởng niệm, Putin tuyên bố rằng vụ thảm sát Katyn là một "tội ác không thể biện minh bằng bất cứ cách nào". Cũng trong bài phát biểu, ông Putin cho rằng Stalin đã ra lệnh thực hiện vụ xử bắn như một cách để trả thù cho 32.000 tù binh Hồng quân đã chết vì đói khát và dịch bệnh trong những trại giam của Ba Lan trong cuộc chiến năm 1919-1921.. Theo một cuộc khảo sát năm 2009, 54% số người Nga được hỏi không biết một chút gì về sự kiện này, và đa số người dân Nga không muốn chính phủ Nga đưa ra lời xin lỗi Trong tháng 11 năm 2010, Quốc hội Nga đã chính thức thông qua một tuyên bố quy kết trách nhiệm cho Stalin và các viên chức Liên Xô khác đã đích thân ra lệnh cho vụ xử bắn.

Tây Âu

Tây Âu là một khái niệm chính trị – xã hội xuất hiện trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh để chỉ khu vực của châu Âu, nằm kề các nước thuộc khối Warszawa và Nam Tư về phía tây. Đây là hệ thống chính trị và kinh tế đối lập với Đông Âu, vốn là khu vực chịu ảnh hưởng của Liên Xô từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Thuật ngữ này được dùng khi đề cập đến yếu tố kinh tế, chính trị, lịch sử hơn là nói về sự phân cách đất đai cụ thể. Các quốc gia trung lập được xác định theo bản chất bộ máy chính trị.

Ranh giới văn hóa và tôn giáo giữa Tây Âu và Đông Âu xen phủ lẫn nhau, không đơn giản phân định một cách chính xác bởi những biến động lịch sử.

Verona

Verona (phát âm tiếng Ý: [veˈroːna] (); Venetian: Verona hoặc Veròna) là một thành phố nằm bên bờ sông Adige, thuộc tỉnh Verona, vùng Veneto, bắc Ý. Thành phố có dân số 258.108 người và là một trong bảy thủ phủ của tỉnh này. Verona là đô thị lớn thứ hai trong vùng và thứ ba của đông bắc Ý. Thành phố đô thị của Verona có diện tích 1.426 km2 (550,58 sq mi) và dân số 714.274 người. Đây là một trong những điểm du lịch chính ở bắc Ý nhờ di sản nghệ thuật của nó, chương trình hội chợ, vở opera, đấu trường Verona, nhà hát vòng tròn cổ đại được xây dựng bởi những người La Mã.

Hai trong số những vở kịch nổi tiếng của William Shakespeare lấy bối cảnh ở Verona, đó là Romeo và Juliet và Hai quý ông của Verona. Không biết Shakespeare đã từng đến thăm Verona hay nước Ý hay chưa nhưng những vở kịch của ông đã thu hút nhiều du khách đến thăm Verona và các thành phố lân cận. Verona đã được tuyên bố là di sản thế giới của UNESCO vì cấu trúc đô thị và kiến trúc.

Walter Ulbricht

Walter Ernst Paul Ulbricht

Walter Ulbricht Ernst Paul (30 tháng 6 năm 1893 - ngày 01 tháng 8 năm 1973) là một chính trị gia cộng sản Đức. Ulbricht đã đóng một vai trò hàng đầu trong việc lập ra Đảng Cộng sản Đức thời Weimar và sau này (trải qua các năm Đức Quốc xã cai trị sống lưu vong ở Pháp và Liên Xô) trong việc phát triển sớm và thành lập Đông Đức (Cộng hòa Dân chủ Đức). Là bí thư đầu tiên của Đảng Thống nhất Xã hội chủ nghĩa 1950-1971, ông là người ra quyết định hàng đầu ở Đông Đức. Từ cái chết của Chủ tịch Wilhelm Pieck năm 1960, ông cũng là người đứng đầu nhà nước Đông Đức cho đến khi qua đời vào năm 1973.

Áo

Áo (tiếng Đức: Österreich [ˈøːstɐˌʁaɪç] ( nghe)), tên chính thức là Cộng hòa Áo (tiếng Đức: Republik Österreich, nghe ), là một cộng hòa liên bang và quốc gia không giáp biển với hơn 8,7 triệu người dân tại Trung Âu. Nó tiếp giáp với Cộng hòa Séc và Đức về phía bắc, Hungary và Slovakia về phía đông, Slovenia và Ý về phía nam, và Thụy Sĩ và Liechtenstein về phía tây. Lãnh thổ của Áo bao phủ diện tích 83.879 km2 (32.386 sq mi). Địa hình rất nhiều núi, nằm trong dãy Anpơ; chỉ 32% của quốc gia nằm dưới 500 m (1.640 ft), và điểm cao nhất là 3.798 m (12.461 ft). Phần lớn dân số nói phương ngữ Bavaria của tiếng Đức làm tiếng bản địa, và tiếng Đức trong dạng tiêu chuẩn là ngôn ngữ chính thức của quốc gia này. Các ngôn ngữ chính thức khác là tiếng Hungaria, tiếng Burgenland Croatia, và tiếng Slovenia.

Đông Berlin

Đông Berlin là tên của phần phía đông thành phố Berlin từ năm 1949 đến 1990. Đây là khu vực do quân đội Xô viết quản lý từ năm 1945, các khu vực do Anh, Pháp và Hoa Kỳ quản lý hình thành phần Tây Berlin và thực chất là một phần lãnh thổ của Tây Đức. Đông Berlin là thủ đô của Cộng hòa Dân chủ Đức (CHDC Đức - một cựu quốc gia đã sáp nhập vào Tây Đức). Berlin bị chia cắt chính thức bằng bức tường Berlin từ ngày 13 tháng 8 năm 1961 đến ngày 9 tháng 11 năm 1989. Chính phủ CHDC Đức chỉ đơn giản gọi phần Đông Berlin là Berlin hoặc "thủ đô Berlin của CHDC Đức".

Các cường quốc phương Tây là Anh, Pháp và Hoa Kỳ chưa từng thừa nhận quyền quản lý của chính phủ Đông Đức đối với phần Đông Berlin. Theo văn bản chính thức của Hiệp định Potsdam thì Đông Berlin nằm dưới sự quản lý của Liên Xô. Trên thực tế, chỉ huy quân sự các cường quốc phương Tây phản đối sự hiện diện của quân đội CHDC Đức ở Đông Berlin, đặc biệt là những dịp duyệt binh. Dầu vậy, cuối cùng thì họ vẫn phải đặt các sứ quán ở Đông Berlin trong thập kỷ 1970 cho dù không thừa nhận nó là thủ đô của Đông Đức. Trong các hiệp định liên quan đến Đông Đức, họ sử dụng từ "nơi đặt chính phủ" để chỉ Đông Berlin.

Ngày 3 tháng 10 năm 1990, Tây Đức và Đông Đức hợp nhất, Đông Berlin chính thức sáp nhập với phần Tây Berlin, trở thành thủ đô của nước Đức thống nhất.

Đông Âu

Đông Âu hoặc Khối Đông Âu là một khái niệm chính trị – xã hội chủ yếu bị ảnh hưởng bởi Chiến tranh Lạnh, là yếu tố chính tạo ra biên giới của nó. Biên giới của nó được củng cố hữu hiệu trong các giai đoạn cuối của Chiến tranh thế giới thứ hai (sau Hội nghị Yalta) và bao trùm tất cả các quốc gia nằm dưới quyền ảnh hưởng và kiểm soát của Liên Xô, liên kết bởi các liên minh – liên minh quân sự (Khối Warszawa) và liên minh kinh tế (Khối SEV hay còn gọi là Hội đồng Tương trợ Kinh tế). Vì các quốc gia này theo chế độ cộng sản và nằm ở phía đông của châu Âu, với ranh giới là dãy Ural và Kavkaz nên chúng được sắp xếp một cách tự nhiên thành các quốc gia Đông Âu.

Tuy nhiên, định nghĩa này đã dần lỗi thời sau những biến động to lớn ở Đông Âu và Liên Xô trong những năm 1988–1991, khi mà Đông Đức đã sáp nhập với Tây Đức qua cuộc thống nhất nước Đức, và trở thành một phần của Tây Âu. Khối Đông Âu đã bị tan vỡ và cùng theo với sự tan vỡ này, các liên minh trên tuyên bố tự giải thể.

Theo cách sử dụng và nhận thức thông thường, Đông Âu trước đây (và bây giờ theo quy mô hẹp hơn) khác với Tây Âu vì những dị biệt về văn hoá, chính trị và kinh tế, biên giới của nó có chút liên quan tới yếu tố địa lý. Dãy núi Ural là biên giới địa lý rõ ràng của Đông Âu, Đông Âu nằm ở phía tây dãy Ural. Tuy nhiên đối với Phương Tây, biên giới tôn giáo và văn hóa giữa Đông và Tây Âu có sự nằm chồng lên nhau đáng kể và quan trọng nhất là sự thay đổi bất thường trong lịch sử khiến việc hiểu về nó một cách chính xác gặp phải đôi chút khó khăn.

Đông Âu gồm có:

Lãnh thổ châu Âu của Nga, một quốc gia xuyên lục địa.

Các quốc gia Baltic:

Estonia

Latvia

Litva.

Phần lớn các nước Balkan, trừ Hy Lạp được xem là một phần của Tây Âu, và lãnh thổ châu Âu của Thổ Nhĩ Kỳ thường thì không tính vào.

Slovenia

Croatia

Bosna và Hercegovina

Serbia

Montenegro

Macedonia

Albania

Bulgaria

Các quốc gia khác:

Ba Lan

Cộng hòa Séc

Slovakia

Hungary

Belarus

Ukraina

România

Moldova.

Đức tại Thế vận hội Mùa đông 2006

Đức tham dự Thế vận hội Mùa đông 2006, và Ủy ban Quốc gia Thế vận hội Đức (Nationales Olympisches Komitee für Deutschland) có tất cả 162 vận động viên tham dự. Nước này có vận động viên tham dự cả 15 bộ môn trong Thế vận hội Mùa đông. Nằm ở trong Bức Màn Sắt, Đông Đức đoạt số huy chương vàng cao nhất tại Thế vận hội Mùa đông 1984. Sau khi tái thống nhất, Đức giành vị trí đứng đầu toàn đoàn tại các Thế vận hội Mùa đông 1998 và 2002 cùng với 12 huy chương vàng.

Thập niên 1940
Thập niên 1950
Thập niên 1960
Thập niên 1970
Thập niên 1980
Thập niên 1990
Xem thêm
Tổ chức
Chạy đua
Ý thức hệ
Tuyên truyền
Chính sách ngoại giao

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.