Bờ Tây Hoa Kỳ

Bờ Tây Hoa Kỳ, bờ Tây nước Mỹ hay Tây Duyên hải Hoa Kỳ (tiếng Anh: West Coast of the United States hay "West Coast", "Western Seaboard", "Pacific Coastline") là thuật ngữ chỉ các tiểu bang duyên hải cận tây nhất của Hoa Kỳ. Thông thường nhất là chỉ California, OregonWashington, và Alaska. Hai tiểu bang ArizonaNevada, trong khi không phải là các tiểu bang duyên hải, thường được tính vào vì sự tương tự của chúng đối với Duyên hải Thái Bình Dương cũng như nền kinh tế và văn hoá của chúng có liên hệ mật thiết với California (Ví dụ như hai đại học lớn nhất của Arizona là thành viên của "Pacific-10 Conference" (Nhóm thể thao gồm 10 đại học Thái Bình Dương).

Mặc dù không thuộc Hoa Kỳ Lục địa, Hawaii có ranh giới với Thái Bình Dương và có thể được tính vào "Tây Duyên hải". Tính đến năm 2007, dân số tổng cộng của Tây Duyên hải khoảng từ 50–60 triệu, tuỳ thuộc vào tiểu bang nào được tính chung vào ước tính dân số.[1]

Tây Duyên hải đôi khi được đơn giản gọi là "the Coast" (duyên hải), một thuật từ củ được cho rằng đã từng xuất hiện ở vùng Đông Bắc Hoa Kỳ. Dựa vào sự nổi bật của vùng này về chính trị có tính tả khuynh hơn một số vùng khác của Hoa Kỳ nên thuật từ "Left Coast" (Duyên hải tả khuynh) đôi khi được dùng để chỉ vùng này.

Các thành phố duyên hải chính nằm trên Tây Duyên hải gồm có Los Angeles, California, San Diego, California, San Francisco, California, Seattle, Washington, Anchorage, Alaska, Honolulu, Hawaii, và Long Beach, California. Các thành phố lớn không nằm trên duyên hải gồm có Phoenix, Arizona; San Jose, California; Las Vegas, Nevada; Portland, Oregon; Sacramento, California; Fresno, California; Tucson, Arizona; và Oakland, California.

Lịch sử Tây Duyên hải Hoa Kỳ gồm có: con người đầu tiên đến vùng này khoảng 10 ngàn năm trước đây và sự hiện diện của người định cư, thám hiểm thuộc các nước Tây Ban Nha, Anh, México, NgaMỹ.

US map-Pacific
Các tiểu bang thể hiện màu đỏ sẫm thuộc Tây Duyên hải, các tiểu bang màu đỏ nhạt có thể hoặc không được xem như là một phần của Bờ Tây.

Tham khảo

  1. ^ United States Census Bureau, 2005 American Community Survey. Summed estimates for CA, OR, WA, AK and CA, OR, WA, AZ, NV, AK, HI
Chiến dịch Guadalcanal

Chiến dịch Guadalcanal, còn gọi là Trận Guadalcanal, và tên mã của Đồng Minh là Chiến dịch Watchtower, diễn ra từ ngày 7 tháng 8 năm 1942 đến ngày 9 tháng 2 năm 1943 trên đảo Guadalcanal và khu vực phụ cận tại quần đảo Solomon của Mặt trận Thái Bình Dương trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Việc tranh chấp diễn ra ác liệt cả trên bộ, trên biển và trên không; chiến dịch này là cuộc tấn công lớn đầu tiên của phe Đồng Minh chống lại Đế quốc Nhật Bản sau một thời gian dài phòng thủ.Vào ngày 7 tháng 8 năm 1942, lực lượng Đồng Minh, chủ yếu là Mỹ, thực hiện đổ bộ lên các đảo Guadalcanal, Tulagi, và Florida (Nggela Sule) phía Nam quần đảo Solomon với mục tiêu ngăn chặn quân Nhật sử dụng chúng làm căn cứ đe dọa con đường vận chuyển từ Mỹ đến Australia và New Zealand. Đồng Minh còn định sử dụng Guadalcanal và Tulagi như những căn cứ hỗ trợ cho chiến dịch chiếm đóng hoặc vô hiệu hóa căn cứ chủ lực của Nhật tại Rabaul trên đảo New Britain. Lực lượng Đồng Minh đã áp đảo số lượng quân Nhật phòng thủ nhỏ bé, vốn đã chiếm đóng các đảo này từ tháng 5 năm 1942, chiếm giữ Tulagi và Florida cùng một sân bay (sau này được đặt tên là Henderson) đang được xây dựng trên đảo Guadalcanal.

Bị bất ngờ bởi đòn tấn công của Đồng Minh, phía Nhật Bản từ tháng 8 đến tháng 11 năm 1942 đã nhiều lần tìm cách chiếm lại sân bay Henderson. Ba trận chiến lớn trên bộ, năm trận hải chiến lớn, và các cuộc không chiến diễn ra liên tục hầu như hàng ngày, mà đỉnh điểm là trận Hải chiến Guadalcanal mang tính quyết định vào đầu tháng 11 năm 1942, trong đó nỗ lực cuối cùng nhằm tăng viện đủ số lượng binh lính để chiếm lại sân bay Henderson bị đánh bại. Sang tháng 12 năm 1942, phía Nhật từ bỏ mọi hy vọng tái chiếm Guadalcanal và triệt thoái các lực lượng còn lại vào ngày 7 tháng 2 năm 1943.

Chiến dịch Guadalcanal đánh dấu một chiến thắng chiến lược đáng kể nhờ phối hợp các binh chủng bởi lực lượng Đồng Minh đối với Nhật Bản tại mặt trận Thái Bình Dương. Quân Nhật đã đạt đến cao trào trong sự xâm chiếm của họ tại Thái Bình Dương, và Guadalcanal đánh dấu sự chuyển mình của Đồng Minh từ các chiến dịch phòng thủ sang tấn công chiến lược tại mặt trận này.

Jack in the Box

Jack in the Box là một chuỗi nhà hàng thức ăn nhanh của Mỹ được thành lập năm 1951 bởi Robert O. Peterson tại San Diego, California, nơi nó có trụ sở chính. Chuỗi nhà hàng này có 2.200 địa điểm, chủ yếu phục vụ Bờ Tây Hoa Kỳ và các khu vực đô thị lớn ở khu vực phía đông của Hoa Kỳ gồm Texas. Các mặt hàng thực phẩm bao gồm bánh sandwich hamburger và cheeseburger cùng với các món ăn theo chủ đề quốc tế như tacos và trứng cuộn. Công ty cũng vận hành chuỗi Qdoba Mexican Grill.

USS Arizona (BB-39)

USS Arizona (BB-39) là một thiết giáp hạm thuộc lớp Pennsylvania được chế tạo cho Hải quân Hoa Kỳ vào giữa những năm 1910. Được đặt tên nhằm tôn vinh tiểu bang thứ 48 của Hoa Kỳ vốn vừa gia nhập Liên bang, con tàu là chiếc thứ hai cũng là chiếc cuối cùng của lớp thiết giáp hạm siêu-dreadnought Pennsylvania. Cho dù được đưa vào hoạt động vào năm 1916, nó vẫn ở lại lục địa Hoa Kỳ trong suốt Chiến tranh Thế giới thứ nhất; và không lâu sau khi cuộc xung đột kết thúc, nó là một trong những con tàu hộ tống đưa Tổng thống Woodrow Wilson sang tham dự Hội nghị hòa bình Paris. Arizona được gửi sang Thổ Nhĩ Kỳ khi cuộc Chiến tranh Hy Lạp-Thổ Nhĩ Kỳ nổ ra để bảo vệ cho quyền lợi của Mỹ trong nhiều tháng. Nhiều năm sau, nó được chuyển sang Hạm đội Thái Bình Dương và ở lại đây cho đến hết quãng đời phục vụ.

Ngoài một đợt hiện đại hóa đáng kể trong những năm 1929-1931,Arizona được thường xuyên sử dụng trong các cuộc tập trận huấn luyện giữa hai cuộc thế chiến, bao gồm cuộc tập trận lớn Vấn đề hạm đội hàng năm. Khi xảy ra cuộc động đất tại Long Beach, California vào năm 1933, thủy thủ đoàn của Arizona đã tham gia cứu giúp những người sống sót. Hai năm sau, con tàu tham gia những cảnh quay trong bộ phim Here Comes the Navy của đạo diễn James Cagney theo chủ đề những rắc rối tình cảm của một thủy thủ. Đến tháng 4 năm 1941, nó cùng với phần còn lại của Hạm đội Thái Bình Dương được chuyển từ California đến Trân Châu Cảng, Hawaii, như một động thái răn đe Đế quốc Nhật Bản.

Trong cuộc tấn công nhắm vào Trân Châu Cảng mà Hải quân Nhật tung ra sáng ngày 7 tháng 12 năm 1941, Arizona bị trúng bom. Nó nổ tung và bị đánh chìm một cách bi thảm, làm thiệt mạng 1.177 sĩ quan và thủy thủ. Không giống như những con tàu khác bị đánh chìm hay hư hại vào ngày đó, xác của Arizona đã không được trục vớt lên, cho dù hải quân đã cho tháo dỡ những bộ phận của con tàu để tái sử dụng. Xác đắm của con tàu tiếp tục nằm bên dưới đáy Trân Châu Cảng và là địa điểm mà một đài tưởng niệm được xây dựng bên trên và khánh thành vào ngày 30 tháng 5 năm 1962 để tưởng nhớ những người đã hy sinh trong cuộc tấn công.

USS Chase (DD-323)

USS Chase (DD-323) là một tàu khu trục lớp Clemson được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Nó là chiếc tàu chiến đầu tiên của Hải quân Hoa Kỳ được đặt cái tên USS Chase và là chiếc duy nhất được đặt theo tên Reuben Chase (1754-1824), một sĩ quan hải quân từng tham gia cuộc Chiến tranh Cách mạng Hoa Kỳ. Chase ngừng hoạt động năm 1930 và bị tháo dỡ năm 1931 nhằm tuân thủ quy định hạn chế vũ trang của Hiệp ước Hải quân London.

USS Corry (DD-334)

USS Corry (DD-334) là một tàu khu trục lớp Clemson được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Nó là chiếc tàu chiến đầu tiên của Hải quân Hoa Kỳ được đặt theo tên Thiếu tá Hải quân William M. Corry, Jr. (1889-1920), người được tặng thưởng Huân chương Danh dự. Corry ngừng hoạt động năm 1930 và bị tháo dỡ cùng năm đó nhằm tuân thủ quy định hạn chế vũ trang của Hiệp ước Hải quân London.

USS Farquhar (DD-304)

USS Farquhar (DD-304) là một tàu khu trục lớp Clemson được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Nó là chiếc tàu chiến đầu tiên của Hải quân Hoa Kỳ được đặt theo tên Chuẩn đô đốc Norman von Heldreich Farquhar (1840-1907), người từng tham gia cuộc Nội chiến Hoa Kỳ. Farquhar ngừng hoạt động năm 1930 và bị tháo dỡ năm 1932 nhằm tuân thủ quy định hạn chế vũ trang của Hiệp ước Hải quân London.

USS Farragut (DD-300)

USS Farragut (DD-300) là một tàu khu trục lớp Clemson được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Nó là chiếc tàu chiến thứ hai của Hải quân Hoa Kỳ được đặt theo tên Chuẩn đô đốc David Glasgow Farragut (1801–1870), người tham gia cuộc Nội chiến Hoa Kỳ. Farragut ngừng hoạt động năm 1930 và bị tháo dỡ năm 1931 nhằm tuân thủ quy định hạn chế vũ trang của Hiệp ước Hải quân London.

USS Kennedy (DD-306)

USS Kennedy (DD-306) là một tàu khu trục lớp Clemson được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Hoa Kỳ mang cái tên USS Kennedy, và là chiếc thứ hai được đặt theo tên Bộ trưởng Hải quân John P. Kennedy (1795-1870). Kennedy ngừng hoạt động năm 1930 và bị tháo dỡ năm 1932 nhằm tuân thủ quy định hạn chế vũ trang của Hiệp ước Hải quân London.

USS Kidder (DD-319)

USS Kidder (DD-319) là một tàu khu trục lớp Clemson được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Hoa Kỳ được đặt theo tên Đại úy Thủy quân Lục chiến Hugh Kidder (1897-1918), người tử trận trong Thế Chiến I. Kidder ngừng hoạt động và bị tháo dỡ năm 1930 nhằm tuân thủ quy định hạn chế vũ trang của Hiệp ước Hải quân London

USS Macdonough (DD-331)

USS Macdonough (DD-331) là một tàu khu trục lớp Clemson được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Nó là chiếc tàu chiến thứ hai của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên theo Thiếu tướng Hải quân Thomas Macdonough (1783-1825), người tham gia cuộc Chiến tranh 1812. Macdonough ngừng hoạt động năm 1930 và bị tháo dỡ cuối năm đó nhằm tuân thủ quy định hạn chế vũ trang của Hiệp ước Hải quân London.

USS McKee (DD-87)

USS McKee (DD–87) là một tàu khu trục thuộc lớp Wickes của Hải quân Hoa Kỳ trong giai đoạn Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Nó là chiếc tàu chiến thứ hai của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên theo vị sĩ quan Hải quân Hugh W. McKee.

USS Melvin (DD-335)

USS Melvin (DD-335) là một tàu khu trục lớp Clemson được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Nó là chiếc tàu chiến đầu tiên của Hải quân Hoa Kỳ được đặt theo tên Trung úy Hải quân John T. Melvin (1887-1917), sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ đầu tiên tử trận trong Thế Chiến I. Melvin ngừng hoạt động năm 1930 và bị tháo dỡ năm 1931 nhằm tuân thủ quy định hạn chế vũ trang của Hiệp ước Hải quân London.

USS Mervine (DD-322)

USS Mervine (DD-322) là một tàu khu trục lớp Clemson được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Nó là chiếc tàu chiến đầu tiên của Hải quân Hoa Kỳ được đặt theo tên Chuẩn đô đốc William Mervine (1791-1868), người tham gia cuộc Chiến tranh 1812, Chiến tranh Mexico-Hoa Kỳ và cuộc Nội chiến Hoa Kỳ. Mervine ngừng hoạt động năm 1930 và bị tháo dỡ năm 1931 nhằm tuân thủ quy định hạn chế vũ trang của Hiệp ước Hải quân London

USS Missouri (BB-63)

USS Missouri (BB-63) (tên lóng "Mighty Mo" hay "Big Mo") là một thiết giáp hạm thuộc lớp Iowa của Hải quân Hoa Kỳ và là chiếc tàu chiến thứ tư của Hải quân Mỹ mang cái tên này nhằm tôn vinh tiểu bang Missouri. Missouri là chiếc thiết giáp hạm cuối cùng mà Hoa Kỳ chế tạo, và là địa điểm ký kết văn kiện đầu hàng vô điều kiện của Đế quốc Nhật Bản, chấm dứt Chiến tranh thế giới thứ hai.

Missouri được đặt hàng vào năm 1940 và được đưa vào hoạt động vào tháng 6 năm 1944. Tại Mặt trận Thái Bình Dương trong Chiến tranh thế giới thứ hai, nó tham gia các trận đánh Iwo Jima và Okinawa cũng như nả đạn pháo xuống các hòn đảo chính quốc Nhật Bản. Sau Thế Chiến, Missouri tham gia chiến tranh Triều Tiên từ năm 1950 đến năm 1953. Nó được cho ngừng hoạt động vào năm 1955 và được đưa về hạm đội dự bị Hải quân Mỹ, nhưng sau đó được đưa trở lại hoạt động và được hiện đại hóa vào năm 1984 như một phần của kế hoạch 600 tàu chiến Hải quân thời Tổng thống Ronald Reagan, và đã tham gia chiến đấu năm 1991 trong cuộc chiến tranh Vùng Vịnh.

Missouri nhận được tổng cộng mười một ngôi sao chiến đấu cho các hoạt động trong Chiến tranh thế giới thứ hai, chiến tranh Triều Tiên và chiến tranh Vùng Vịnh, và cuối cùng được cho ngừng hoạt động vào ngày 31 tháng 3 năm 1992, nhưng vẫn được giữ lại trong Đăng bạ Hải quân cho đến khi tên nó được gạch bỏ vào tháng 1 năm 1995. Đến năm 1998 nó được trao tặng cho hiệp hội "USS Missouri Memorial Association" và trở thành một tàu bảo tàng tại Trân Châu Cảng, Hawaii.

USS Montgomery (DD-121)

USS Montgomery (DD–121) là một tàu khu trục thuộc lớp Wickes của Hải quân Hoa Kỳ trong giai đoạn Chiến tranh Thế giới thứ nhất, sau cải biến thành một tàu rải mìn hạng nhẹ với ký hiệu lườn DM-17. Nó là chiếc tàu chiến thứ năm của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên theo Thiếu tướng Richard Montgomery (1738-1775), người tử trận trong cuộc Chiến tranh Cách mạng Hoa Kỳ.

USS Mullany (DD-325)

USS Mullany (DD-325) là một tàu khu trục lớp Clemson được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Nó là chiếc tàu chiến đầu tiên của Hải quân Hoa Kỳ được đặt theo tên Chuẩn đô đốc James Robert Madison Mullany (1818-1887), người tham gia cuộc Chiến tranh Mexico-Hoa Kỳ và cuộc Nội chiến Hoa Kỳ. Mullany ngừng hoạt động năm 1930 và bị tháo dỡ năm 1931 nhằm tuân thủ quy định hạn chế vũ trang của Hiệp ước Hải quân London

USS Reno (DD-303)

USS Reno (DD-303) là một tàu khu trục lớp Clemson được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Nó là chiếc tàu chiến đầu tiên của Hải quân Hoa Kỳ được đặt theo tên Thiếu tá Hải quân Walter E. Reno (1881-1917), người từng phục vụ trong Thế Chiến I và thiệt mạng do tai nạn va chạm với một tàu vận tải Anh. Reno ngừng hoạt động năm 1930 và bị tháo dỡ năm 1931 nhằm tuân thủ quy định hạn chế vũ trang của Hiệp ước Hải quân London.

USS Stribling (DD-96)

USS Stribling (DD-96) là một tàu khu trục thuộc lớp Wickes của Hải quân Hoa Kỳ trong giai đoạn Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Nó là chiếc tàu chiến đầu tiên của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên theo Chuẩn đô đốc Cornelius Stribling (1796-1880).

USS Thatcher (DD-162)

USS Thatcher (DD–162) là một tàu khu trục thuộc lớp Wickes của Hải quân Hoa Kỳ trong giai đoạn Chiến tranh Thế giới thứ nhất, sau được chuyển cho Hải quân Hoàng gia Canada và tiếp tục phục vụ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai như là chiếc HMCS Niagara (I-57). Nó là chiếc tàu chiến đầu tiên của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên theo Chuẩn đô đốc Henry K. Thatcher (1806–1880).

4 Vùng
Đông Bắc
Trung Tây
Nam
Tây
Vùng khác

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.