Bờ Biển Ngà

Cộng hòa Côte d'Ivoire (phiên âm là Cốt Đi-voa giống cách phát âm của Côte d'Ivoire trong tiếng Pháp), trong tiếng Việt thường được gọi là Bờ Biển Ngà, là một quốc gia nằm ở Tây Phi. Bờ Biển Ngà có biên giới giáp với Liberia, Guinea, Mali, Burkina Faso, và Ghana về phía tây, bắc, đông, và nằm bên cạnh Vịnh Guinea về phía nam.

Dân số của Bờ Biển Ngà năm 1998 là 15.366.672 người [7], năm 2009 là 20.617.068 người.[1]

Trước khi bị người châu Âu chiếm đóng, Bờ Biển Ngà bao gồm nhiều nước nhỏ như Gyaaman, Kong Empire, và Baoulé. Ngoài ra còn có hai vương quốc của Người Anyi, đó là IndéniéSanwi, những quốc gia đã cố gắng duy trì sự độc lập của mình trong suốt thời kì Pháp thuộc và kể cả về sau này, khi Bờ Biển Ngà đã giành được độc lập.[8] Hiệp định 1843-1844 đã buộc Bờ Biển Ngà chấp nhận sự bảo hộ của Pháp và vào năm 1883, Bờ Biển Ngà trở thành một bộ phận của hệ thống thuộc địa của Thực dân Pháp.

Bờ Biển Ngà tuyên bố độc lập vào ngày 7 tháng 8 năm 1960. Từ năm 1960 đến 1993, Bờ Biển Ngà được lãnh đạo bởi Félix Houphouët-Boigny. Trong giai đoạn này, Bờ Biển Ngà vẫn giữ mối liên kết mật thiết về kinh tế với các nước láng giềng Tây Phi cũng như các nước châu Âu, đặc biệt là Pháp. Tuy nhiên, sau giai đoạn lãnh đạo của Houphouët-Boigny, Bờ Biển Ngà đã trải qua hai cuộc đảo chính (1999 and 2001) và một cuộc nội chiến,[9] bất chấp cuộc bầu cử [10] và một hiệp định giữa chính phủ mới và nhóm nổi loạn được ký kết mang lại hòa bình cho Bờ Biển Ngà.[11] Bờ Biển Ngà là nền cộng hòa hiện thân của sức mạnh hành pháp hoàn toàn nằm trong tay của tổng thống. Thủ đô về mặt pháp lý của Bờ Biển Ngà là Yamoussoukro và thành phố lớn nhất là thành phố cảng Abidjan. Bờ Biển Ngà có 19 vùng và 81 tỉnh. Bờ Biển Ngà là thành viên của Tổ chức Hội nghị Hồi giáo, Liên minh châu Phi, Cộng đồng Pháp ngữ, Liên minh Latin, Cộng đồng Kinh tế Tây PhiKhu vực hòa bình và hợp tác Nam Đại Tây Dương.

Ngôn ngữ chính thức là tiếng Pháp nhưng Bờ Biển Ngà có rất nhiều thổ ngữ bao gồm tiếng Baoulé, tiếng Dioula, tiếng Dan, tiếng Anyin và tiếng Cebaara Senufo. Tôn giáo chính ở Bờ Biển Ngà là đạo Hồi, đạo Thiên Chúa và những tôn giáo bản địa khác.

Thông qua xuất khẩu cà phêcacao, Bờ Biển Ngà là một nền kinh tế mạnh mẽ ở Tây Phi trong những năm 60 và 70 thế kỉ XX. Tuy nhiên, trong những năm 1980, Bờ Biển Ngà đã phải trải qua khủng hoảng kinh tế, khiến cho quốc gia này trở nên rối loạn về chính trị cũng như xã hội. Kinh tế Bờ Biển Ngà trong thế kỉ XXI vẫn chủ yếu giữa vào kinh tế tiểu chủ nông nghiệp.[1]

Cộng hoà Bờ Biển Ngà / Côte d'Ivoire

Flag of Côte d'Ivoire Coat of arms of Ivory Coast
Quốc kỳ Huy hiệu
Bản đồ
Vị trí của Bờ Biển Ngà
Tiêu ngữ
Union - Discipline - Travail
(Tiếng Pháp: "Đoàn kết - Kỷ luật - Lao động")
Quốc ca
L'Abidjanaise
Hành chính
Chính phủCộng hòa tổng thống
 • Tổng thống
 • Thủ tướng
Alassane Ouattara
Amadou Gon Coulibaly
Thủ đôYamoussoukro
6°50'N 5°15'W
6°50′B 5°15′T / 6,833°B 5,25°T
Thành phố lớn nhấtAbidjan (thủ đô de facto)
Địa lý
Diện tích322.463 km² (hạng 69)
Diện tích nước1,4[1] %
Múi giờGMT (UTC+0)
Lịch sử
Độc lập
Ngày thành lậpTừ Pháp
7 tháng 8 năm 1960[2]
Ngôn ngữ chính thứcTiếng Pháp
Dân số ước lượng (2016)23.740.424[3] người (hạng 54)
Mật độ63,9 người/km² (hạng 139)
Kinh tế
GDP (PPP) (2017)Tổng số: 95,887 tỷ USD[4]
Bình quân đầu người: 3.841 USD[4]
GDP (danh nghĩa)Tổng số: 36,873 tỷ USD[4]
Bình quân đầu người: 1.477 USD[4]
HDI (2015)0,474[5] thấp (hạng 171)
Hệ số Gini (2008)41.5 [6]
Đơn vị tiền tệFranc CFA (XOF)
Thông tin khác
Tên miền Internet.ci

Từ nguyên học

Trong tiếng Pháp, Côte nghĩa là "bờ biển", d' nghĩa là "của" (tương tự 's - sở hữu cách trong tiếng Anh), Ivoire nghĩa là "ngà voi", vì thế nên trong tiếng Việt, quốc gia này được gọi là Bờ Biển Ngà và trong nhiều ngôn ngữ khác cũng mang ý nghĩa tương tự:

Vào tháng 10 năm 1985, Chính phủ nước này yêu cầu được gọi là Côte d'Ivoire trong mọi ngôn ngữ.

Mặc dù đã có quyết định của Chính phủ Côte d'Ivoire, "Bờ Biển Ngà" vẫn là tên phổ biến nhất trong tiếng Việt và Elfenbeinküste phổ biến trong tiếng Đức [1][2]. Tuy nhiên, các chính phủ sử dụng tên "Côte d'Ivoire" với lý do ngoại giao, còn cẩm nang về văn phong báo chí thường dùng tên "Bờ Biển Ngà".

Lịch sử

Thuở sơ khai

Cistones
Đá mài từ thời tiền sử celt ở Boundiali phía Bắc Bờ Biển Ngà. Ảnh được chụp tại IFAN Museum of African Arts ở Dakar, Sénégal.

Rất khó để xác định khi nào xuất hiện dấu vết đầu tiên của con người ở Bờ Biển Ngà bởi vì thời tiết ẩm ướt của Bờ Biển không cho phép lưu giữ tốt những vết tích như vậy. Tuy nhiên, sự hiện diện của các loại vũ khí thô sơ cũng như các công cụ rời rạc (đặc biệt là dấu vết của các lưỡi rìu được mài sắc trên đất sét và những gì còn sót lại của việc nấu nướng và đánh cá) chứng tỏ khả năng một số lượng lớn người đã sinh sống ở Bờ Biển Ngà là có thể trong giai đoạn Hậu đồ đá (từ năm 15.000 đến năm 10.000 trước CN),[12] hoặc ít ra là trong giai đoạn Đồ đá mới.[13]

Tuy nhiên, những cư dân đầu tiên của Bờ Biển Ngà đã để lại dấu vết chứng minh cho sự tồn tại của mình rải rác khắp nơi trên vùng đất này. Những nhà sử học đều tin rằng những cư dân đầu tiên đó đã được thay thế hoặc bij đồng hóa bởi tổ tiên của cư dân Bờ Biển Ngà hiện nay bắt đầu từ thế kỉ XVI, bao gồm người Ehotilé (Aboisso), người Kotrowou (Fresco), người Zéhiri (Grand Lahou), người Ega và người Diès (Divo).[14]

Thời kỳ thuộc địa

Côte d'Ivoire là vùng đất hấp dẫn đối với các thương gia PhápBồ Đào Nha từ thế kỷ XV. Họ đến đây để tìm kiếm ngà voi và nô lệ. Năm 1842, thực dân Pháp chiếm các vùng ven biển, thiết lập chế độ thuộc địa năm 1893 và sáp nhập vào lãnh thổ Tây Phi thuộc Pháp năm 1896. Năm 1934, Abidjan trở thành thủ đô, đất nước phát triển nhờ khai khẩn các đồn điền ca caocà phê, việc khai thác rừng được dễ dàng nhờ việc xây dựng đường sắt Abidjan-Niger kéo dài đến biên giới vùng Thượng Volta.

Độc lập

Côte d'Ivoire giành độc lập năm 1960. Côte d'Ivoire cùng Dahomay (Bénin), NigerBurkina Faso thành lập đồng minh thuế quan năm 1959. Côte d’Ivoire là một trong những nước có nền kinh tế phát triển trong vùng châu Phi cận Sahara, đứng đầu thế giới về xuất khẩu ca cao, là một trong những nước xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới.

Houphouët-Boigny quản lý

Houphouët-Boigny trở thành Tổng thống sau khi đất nước độc lập (1960). Boigny tái đắc cử sáu lần và giữ chức này cho đến năm 1993. Lực lượng sinh viên, nông dân và thợ thuyền đã phản đối buộc Tổng thống phải hợp pháp hóa các đảng đối lập và tổ chức các cuộc bầu cử Tổng thống vào tháng 10 năm 1990. Houphouet Boigny giành thắng lợi với 81% số phiếu.

Về chính trị, Houphouët-Boigny lãnh đạo Bờ Biển Ngà với chính sách "bàn tay sắt". Một số nhận xét mềm mỏng hơn cho rằng sự lãnh đạo của ông giống với hình thái "phụ quyền-gia trưởng". Không có tự do báo chí và chỉ có một chính đảng tồn tại. Điều này được một số người chấp nhận điều này như yêu cầu tất yếu nhằm mục đích tranh thủ lá phiếu của cử tri. Houphouët-Boigny cũng bị chỉ trích bởi những vấn đề liên quan các dự án quy mô lớn. Nhiều người cho rằng việc chi hàng triệu USD để cải tạo Yamoussoukro, quê hương của Houphouët Boigny, thành thủ đô mới là vô cùng lãng phí; một số người khác thì ủng hộ tầm nhìn của ông theo hướng phát triển thành phố này thành một trung tâm hòa bình, giáo dụctôn giáo ngay giữa lòng Bờ Biển Ngà. Nhưng vào những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, suy thoái kinh té thế giới cộng với hạn hán đã tác động không nhỏ đến kinh tế Bờ Biển Ngà. Cùng với việc lạm dụng khai thác gỗ và đường bị rớt giá, nợ nước ngoài của Bờ Biển Ngà tăng lên gấp 3. Tội phạm gia tăng một cách đáng lo ngại ở Abidjan.

Vào năm 1990, hàng trăm cán bộ nhà nước và sinh viên gây bạo loạn để phản đối tình trạng tham nhũng đang hoành hành. Cuộc bạo loạn buộc chính phủ phải chuyển sang nền dân chủ đa đảng. Sức khỏe của Houphouët-Boigny ngày càng yếu và chết vào năm 1993. Ông đề cử Henri Konan Bédié là người kế nhiệm.

Bédié quản lý

Tháng 10 năm 1995, Bédié giành chiến thắng áp đảo trước phe đối lập rời rạc và thiếu tổ chức trong lần tái tranh cử. Bédié thắt chặt sự kiểm soát về chính trị, tống giam hơn 700 người ủng hộ phe đối lập. Tuy nhiên, kinh tế của Bờ Biển Ngà lại có những dấu hiệu khả quan như lạm phát giảm và chính phủ cố gắng xóa bỏ nợ nước ngoài.

Coted'Ivoire Elections2002
Kết quả bầu cử năm 2002 ở Bờ Biển Ngà

Khác với Houphouët-Boigny, người chủ trương tránh những mâu thuẫn sắc tộc và để ngỏ một số vị trí trong bộ máy hành chính cho những người nhập cư từ các nước láng giếng, Bản mẫu:Bedié chú trọng vào quan điểm "Ivority" (tiếng Pháp: Ivoirité) để loại bỏ đối thủ của ông ta Alassane Ouattara, vốn có bố mẹ là người phía bắc Bờ Biển Ngà, khỏi cuộc đua vào chiếc ghế tổng thống. Tuy nhiên, chính sách loại bỏ người nước ngoài này đã làm căng thẳng mối quan hệ giữa các sắc tộc khác nhau ở Bờ Biển Ngà, vốn từ trước đến nay có số lượng dân nhập cư chiếm phần lớn trong tổng số dân của cả nước.

Đảo chính năm 1999

Tương tự, Bédié đã loại bỏ nhiều đối thủ chính trị khỏi quân đội. Cuối năm 1999, một nhóm sĩ quan bất mãn với chính phủ đã tổ chức một cuộc đảo chính quân sự, đưa tướng Robert Guéï lên nắm quyền. Bédié bỏ trốn sang Pháp. Chính quyền mới đã giảm bớt tình hình tội phạm và tham nhũng, cùng với việc áp đặt giới nghiêm và vận động rộng khắp trên đường phố về một xã hội tiết kiệm hơn.

Gbagbo quản lý

Cuộc bầu cử tổng thống tháng 10 năm 2000 giữa hai ứng cử viên Laurent Gbagbo và Guéï diễn ra quyết liệt nhưng hòa bình. Sự kiện nổi bật tiếp theo cuộc bầu cử tổng thống được đánh dấu bằng cuộc bạo loạn của quân đội và dân chúng Bờ Biển Ngà. Cuộc bạo loạn đã khiến 180 người chết và Guéï phải nhường lại chiếc ghế cho Gbagbo. Tòa án tối cao Bờ Biển Ngà ra quyết định phế truất Alassane Ouattara vì gốc gác Burkinabé của ông ta. Hiến pháp Bờ Biển Ngà tại thời điểm đó cũng như dưới thời Guéï không cho phép người không đáp ứng đủ yêu cầu về quốc tịch đứng ra tranh cử tổng thống. Sự kiện này đã châm ngòi cho những xô xát bạo lực giữa người ủng hộ Alassane Ouattara, chủ yếu là cư dân đến từ phía bắc Bờ Biển Ngà, và cảnh sát chống bạo động ở thủ đô Yamoussoukro.

Mỗi bên đều tuyên bố thắng lợi trong cuộc bầu cử được cho là gian lận. Sự phản đối của nhân dân biến thành bạo động và buộc Tướng Guei rời khỏi nhóm quân đội nổí loạn mưu toan đảo chính. Tướng Guei và Bộ trưởng Bộ Nội vụ Doudou bị giết trong cuộc chiến giữa quân Chính phủ và phe nổi dậy. Tổng thống Laurent Gbagbo, đắc cử năm 2000, tố cáo Guei tiến hành đảo chính.

Đảo chính năm 2002

Bờ Biển Ngà vẫn còn phải đối mặt với hậu quả của cuộc khủng hoảng chính trị trong đó đỉnh điểm là vụ đảo chính năm 1999, cuộc bầu cử Tổng thống đương nhiệm Laurent Gbagbo vào năm 2000 và cuộc xung đột vũ trang năm 2002 giữa phe nổi loạn và lực lượng chính phủ. Kể từ tháng 9 năm 2002, tình hình này đã dẫn tới sự di dân ồ ạt của gần 1,7 triệu người, phá huỷ cơ sở hạ tầng kinh tế và sự rối loạn hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước.

Chính phủ thống nhất 2003

Cuộc chiến vẫn tiếp tục, ngay cả sau khi một hiệp định hòa bình do Pháp làm trung gian được ký kết tháng 1 năm 2003. Hiệp định này kêu gọi Chính phủ chia sẻ quyền lực với phe nổi dậy. Tình hình vẫn còn căng thẳng mặc dầu Tổng thống cam kết sẽ khôi phục dân chủ.

Hậu quả 2004 - 2007

Trong năm 2007, những thành tựu nổi bật cũng đã được ghi nhận trong việc tái lập các thẻ chế của nước Cộng hoà này. Đây là kết quả của việc thực hiện Thoả thuận chính trị Ouagadougou ký ngày 4 tháng 3 năm 2007 giữa các bên liên quan đến cuộc khủng hoảng. Tuy nhiên, Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc vẫn tỏ lo ngại về sự chậm trễ trong thực hiện tiến trình hoà bình tại Bờ Biển Ngà theo thoả thuân Ouagadougou. Đến nay, thời điểm dự định cuộc bầu cử Tổng thống vẫn chưa được ấn định.

Các vùng và khu hành chính

Cote d'Ivoire
Các vùng của Côte d'Ivoire

Côte d'Ivoire được chia làm 19 vùng gồm:

  1. Agnéby
  2. Bafing
  3. Bas-Sassandra
  4. Denguélé
  5. Dix-Huit Montagnes
  6. Fromager
  7. Haut-Sassandra
  8. Lacs
  9. Lagunes
  10. Marahoué
  1. Moyen-Cavally
  2. Moyen-Comoé
  3. N'zi-Comoé
  4. Savanes
  5. Sud-Bandama
  6. Sud-Comoé
  7. Vallée du Bandama
  8. Worodougou
  9. Zanzan

Các vùng này lại được chia ra làm 58 khu hành chính.

Dân số ở các thành phố lớn

Thủ đô chính thức của Bờ Biển Ngà có dân số là Yamoussoukro (295.500 người), thành phố có dân số xếp thứ 4 trong cả nước. Abidjan, với dân số 3.310.500 người, là thành phố lớn nhất của Bờ Biển Ngà, là trung tâm thương mại và ngân hàng, thủ đô de facto của quốc giai này. Đây là thành phố có đông người nói tiếng Pháp nhất ở khu vực Tây Phi.

Thành phố Dân số
Abidjan 3.310.500
Bouaké 775.300
Daloa 489.100
Yamoussoukro 295.500
Korhogo 163.400
San Pédro 151.600
Divo 134.200

Chính trị

Từ năm 1983, thủ đô chính thức của Bờ Biển Ngà là Yamoussoukro; tuy nhiên, Abidjan vẫn là trung tâm hành chính của cả nước. Hầu hết các quốc gia khác đều đặt Đại sứ quán tại Abidjan, ngoại trừ Đại sứ quán Vương quốc Anh đã chấm dứt nhiệm vụ vì những hành động bạo lực và những cuộc tấn công liên tiếp nhằm vào người châu Âu ở Bờ Biển Ngà. Người dân Bờ Biển Ngà lúc này vẫn phải chịu đựng bạo lực tiếp diễn do nội chiến. Các tổ chức quốc tế về nhân quyền đã ghi nhận Bờ Biển Ngà có những vấn đề về đối xử với dân thường bị bắt giữ của cả hai phe trong cuộc nội chiến này và sự tái trỗi dậy việc lạm dụng lao động nộ lệ trẻ em ở các đồn điền cacao. Mặc dầu chiến sự đã gần như chấm dứt vào năm 2004, nhưng Bờ Biển Ngà vẫn bị chia cắt thành hai phe, phía Bắc nằm dưới quyền kiểm soát của lực lượng "Chiến binh mới"(FN). Cuộc bầu cử tổng thống dự kiến diễn ra vào tháng 10 năm 2005 để đi đến một thỏa thuận giữa các phe phái đối địch đúng vào tháng 3 năm 2007, tuy nhiên cuộc bầu cử này vẫn bị trì hoàn nhiều lần ngay cả trong giai đoạn chuẩn bị.

Thể chế Cộng hoà Tổng thống

Các đảng phái chính trị lớn: Liên minh Dân chủ Công dân, Đảng Dân chủ Bờ Biển Ngà, Đảng Lao động Bờ Biển Ngà, Liên minh Dân chủ và Hoà bình, Mặt trận nhân dân Bờ Biển Ngà (Đảng của Tổng thống Gbagbo).

Từ khi độc lập cho đến năm 1990, Đảng Dân chủ luôn nắm quyền tại Bờ Biển Ngà. Tháng 11 năm 1990, cuộc bầu cử Quốc hội đa đảng đầu tiên được tổ chức (có 19 đảng đối lập tham gia) nhưng đảng Dân chủ của ông F.H Boigny vẫn giành đa số tuyệt đối và tiếp tục nắm quyền (148/175 ghế trong Quốc hội).

Tình hình chính trị – xã hội hiện nay

Ngày 28 tháng 11 năm 2010 đã diễn ra cuộc bầu cử Tổng thống vòng hai giữa hai ứng cử viên là ông Laurent Gbagbo, Tổng thống mãn nhiệm (lên nắm quyền từ năm 2000) và ông Alasane Ouattara, nguyên là Thủ tướng nước này. Ngày 2 tháng 12 năm 2010, Chủ tịch Ủy ban Bầu cử độc lập Bờ Biển Ngà chính thức thông báo kết quả bầu cử với việc ông Alasane Ouattara giành 54,10% số phiếu (được thế giới thừa nhận là Tổng thống) và ông Laurent Gbagbo giành 45,90% số phiếu. Tuy nhiên, Tổng thống mãn nhiệm Gbagbo đã tố cáo lực lượng phiến loạn miền Bắc nước này gian lận bầu cử và không công nhận kết quả trên. Vì vậy, bạo lực đã nổ ra giữa hai phe ủng hộ hai Tổng thống. Việc ông Gbagbo không chấp nhận thất bại đã đẩy nước này vào cuộc nội chiến với hàng nghìn người bị thiệt mạng và hàng triệu người dân phải chạy khỏi Bờ Biển Ngà. Sau 4 tháng không chịu nhượng bộ, dinh thự của ông Gbagbo đã bị quân đội của tổng thống đắc cử Alassane Ouattara tấn công hôm 11 tháng 4 và ông Gbagbo bị bắt giữ.

Địa lý

Côte d'Ivoire Map
Bản đồ của Côte d'Ivoire

Bờ Biển Ngà là một quốc gia Tây Phi hạ Sahara, bên vịnh Guinea, Đông giáp Ghana, Tây giáp LiberiaGuinea, Bắc giáp MaliBurkina Faso. Địa hình được cấu tạo bởi các vùng cao nguyên và núi ở miền Tây; vùng Tây Bắc thoải dần về phía Nam gồm các vùng đồng bằng trầm tích và vùng duyên hải, bờ biển thấp và nhiều cát. Phía Nam chịu ảnh hưởng khí hậu xích đạo tạo điều kiện thích hợp cho các vùng rừng rậm phát triển và chuyển dần sang các khu rừng thưa và các đồng cỏ nhiệt đới ở phía Bắc.

Kinh tế

Việc duy trì mối liên hệ chặt chẽ với Pháp sau khi giành độc lập từ năm 1960, tính đa dạng trong xuất khẩu nông nghiệp cũng như việc khuyến khích đầu tư của nước ngoài là những nhân tố chủ yếu của kinh tế Bờ Biển Ngà. Trong những năm trở lại đây, Bờ Biển Ngà phải đối mặt với sự rớt giá và cạnh tranh mạnh mẽ của cà phêca cao trên thị trường nông sản thế giới. Chính điều này cùng với tham nhũng trong nước cao khiến cho cuộc sống cũng như xuất khẩu của người nông dân ngày càng trở nên khó khăn hơn.

Bờ Biển Ngà là một nước có tài nguyên phong phú, đặc biệt có nhiều kim cương, măng gansắt.

Ngành công nghiệp, nông nghiệp của Côte d'Ivoire phát triển khá cân đối. Bờ Biển Ngà là nhà xuất khẩu hàng đầu thế giới về ca cao và từ vài năm nay nước này còn có thêm nguồn thu xuất khẩu từ dầu lửa ngoài khơi. Tuy nhiên thu nhập của Côte d'Ivoire vẫn dựa chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp (70% dân số sống bằng nghề nông). Bên cạnh đó nền công nghiệp của Bờ Biển Ngà cũng khá phát triển như: công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng dệt, da, hoá chất, khai khoáng, sản phẩm gỗ, sửa chữa và đóng tàu.

Về ngoại thương, năm 2010, kim ngạch xuất khẩu của Bờ Biển Ngà đạt 10,25 tỷ USD với các sản phẩm ca cao, cà phê, gỗ, dầu lửa, bông, chuối, dứa, dầu cọ, . Các đối tác xuất khẩu chính gồm Hà Lan 13.92%, Pháp 10.75%, Mỹ 7.79%, Đức 7.2%, Nigeria 6.99%, Ghana 5.56%. Năm 2010, kim ngạch nhập khẩu của Bờ Biển Ngà đạt 7 tỷ USD với các mặt hàng chính là dầu thô, máy móc trang thiết bị, lương thực, thực phẩm. Do sản xuất lúa trong nước chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân nên mỗi năm, Bờ Biển Ngà phải mua khoảng 900.000 tấn gạo.

Các đối tác nhập khẩu chính gồm Nigeria 20.75%, Pháp 14.19%, Trung Quốc 7.18%, Thái Lan 5.09%.

Mặc dù trải qua gần 1 thập kỷ bất ổn chính trị nhưng Bờ Biển Ngà vẫn được xem là một trong những nền kinh tế hàng đầu khu vực Tây Phi. Với vị trí địa lý chiến lược, nguồn tài nguyên thiên nhiên, nông nghiệp, lâm nghiệp phong phú, nước này tiếp tục duy trì vai trò là nhà cung cấp hàng hoá và dịch vụ chính cho các nước láng giềng như Guinea, Mali, Burkina Faso… Cảng biển Abidjan và tuyến đường sắt nối Abidjan với thủ đô Ouagadouro (Burkina Faso) vẫn là tuyến đường xuất nhập cảnh ưu tiên, nhất là đối với những nước nằm sâu trong lục địa, mang lại nguồn thu ngoại tệ quan trọng cho ngân sách quốc gia.

GDP: 23,18 tỷ USD (2009)

Tỷ lệ tăng trưởng GDP: 3,8% (2009)

GDP bình quân đầu người: 1.100 USD (2009)

Dân số

Ivorian woman
Một phụ nữ Bờ Biển Ngà

77% dân số là người Bờ Biển Ngà, bao gồm nhiều dân tộc va nhóm ngôn ngữ khác nhau. Ở Bờ Biền Ngà có khoảng 65 ngôn ngữ. Phổ biến nhất là tiếng Dyula, được dùng trong giao dịch buôn bán và những người Hồi giáo.

Tiếng Pháp, ngôn ngữ chính thức của Bờ Biển Ngà, được giảng dạy trong trường học và là ngôn ngữ được sử dụng giữa các nhóm dân tộc khác nhau. Bờ Biển Ngà có 3 nhóm tôn giáo chính đó là đạo Hồi, đạo Thiên Chúa và những người theo thuyết vật linh.[1] Là một quốc gia có kinh tế ổn định ở khu vực Tây Phi nên Bờ Biển Ngà thu hút đến 3,4 triệu lao động đến từ các nước láng giềng như Liveria, Burkina Faso và Guinea, chiếm tới 20% dân số của Bờ Biển Ngà. Hơn 2/3 trong số những lao động này là người Hồi Giáo.

4% dân số Bờ Biển Ngà không phải là người gốc Phi. Họ là người Pháp,[16] Liban,[17] Việt NamTây Ban Nha.

Văn hóa

Văn học, nghệ thuật truyền thống và tượng hình, các công trình kiến trúc

Văn học Bờ Biển Nga rất đa dạng và phong phú từ phong cách cho đến những câu thành ngữ, tục ngữ có nguồn gốc tương đối vững chắc từ việc biên tập cho đến các tác giả có uy tín. Trong số những tác giả nổi tiếng, có thể kể đến Bernard Dadié, phóng viên, nhà văn, nhà soạn kịch, tiểu thuyết gia và cũng là nhà thơ đã thống trị văn đàn Bờ Biển Ngà ngay từ những năm 30 hay là Aké Loba (với L'Étudiant noir, 1960) và Ahmadou Kourouma (với Les Soleils des indépendances, 1968) đã nhận được giải thưởng Prix du Livre Inter vào năm 1998 cho tác phẩm mà đã trở thành kinh điển đối với văn học châu Phi En attendant le vote des bêtes sauvages[18].

Nét đặc trưng của nghệ thuật Bờ Biển Ngà xuất hiện trong nhiều vật dụng hàng ngày bằng các chất liệu đa dạng. Nghệ thuật này có mặt trên khắp đất nước, là minh chứng cho phong cách sống ở quốc gia này. Ví dụ như việc đan thúng, điêu khắc, chạm khắc gỗ, tạc tượng đã sử dụng rất nhiều chất liệu như gỗ, đồng, mây và tre...

Maske
Một kiểu mặt nạ truyền thống của Bờ Biển Ngà

Mặt nạ Dan, Baoulés, Gouros, Guérés và Bétés rất nổi tiếng ở Bờ Biển Ngà. Ngoài ra, nghề dệt tiếng tăm của những người Baoulés và những người Sénoufos đã trở thành bộ môn nghệ thuật hội họa trên nền vải. Những bức tượng nhỏ bằng đồng vốn xưa kia dùng để cân vàng nay lại được dùng làm vật trang trí, nhất là trong văn hóa Akan. Tuy nhiên, tất cả người dân Bờ Biển Ngà đều chia sẻ với nhau những vũ điệu truyền thống trên âm thanh của những nhạc cụ phổ biến như (tam-tams, balafon). Một số vũ điệu còn nổi tiếng khắp cả đất nước như: Temate của Facobly, Gouessesso và Danané, Boloye của vùng sénoufo, Zaouli của vùng gouro. Cũng nên nhắc đến những đồ sành sứ thủ công được chế tác bởi phụ nữ Bờ Biển Ngà, trong số đó nổi tiếng nhất là đồ sành sứ Katiola.

Di sản văn hóa này có sẵn và rất dồi dào. Rất nhiều tác phẩm truyền thống (đặc biệt là điêu khắc) được bày bán cho khách du lịch dừng chân ở các thành phố nghỉ mát nổi tiếng như Grand-Bassam hay Assinie. Một số khác còn được trưng bày trong các phòng triển lãm nghệ thuật hoặc tại viện bảo tàng văn hóa ở Abidjan.

Một số họa sĩ như Gilbert G. Groud và Michel Kodjo thường xuyên có những tác phẩm giá trị trong khi đó, mảng truyện tranh thuộc về Zohoré Lassane, họa sĩ phác thảo và cũng là người sáng lập ra tờ nhật báo hài hước và châm biếm Gbich !.

Có thể thấy ở Bờ Biển Ngà sự đa dạng trong những công trình lịch sử. Grand-Bassam, kinh đô đầu tiên của Bờ Biển Ngà chính là nơi tọa lạc của Dinh tổng trấn (Palais de Gouverneur), nơi đầu tiên chính quyền thuộc địa Pháp đặt trụ sở. Dinh thự này được sơ tác ở Pháp sau đó được xây dựng và hoàn thiện tại chính Bờ Biển Ngà vào năm 1983. Thành phố Grand-Bassam còn có khá nhiều công trình kiến trúc tuyệt đẹp theo lối kiến trúc thuộc địa kết hợp với chất liệu xây dựng bản địa như tòa nhà Varlet hay tòa nhà Ganamet thuộc về những thương gia giàu có.

Abidjan, đại giáo đường Saint-Paul là một công trình kiến trúc rất đặc biệt có 2 mặt được làm hoàn toàn bằng kính theo dấu ấn của những người truyền giáo ở châu Phi. Ở Yamoussoukro, Nhà thờ Đức Bà hòa bình được khánh thành bởi Giáo hoàng Jean-Paul II vào năm 1990. Nhà thờ này cũng là phiên bản của Nhà thờ lớn Saint-Pierre ở Roma và có thể đón tiếp 18000 đứng trong điện. Hơn nữa, đó được coi là một trong những kiến trúc tôn giáo lớn nhất trên thế giới về chiều cao và diện tích.[19][20] Người ta đã tiêu tốn khoảng 300 triệu USD để xây dựng côn trình kiến trúc này [21]. Bên cạnh đó, còn phải nhắc đến tòa nhà của Quỹ hòa bình Félix Houphouët-Boigny nổi tiếng.

Ở phía Bắc đất nước, những kiến trúc Hồi giáo theo phong cách Sudan xuất hiện từ thời kì đế chế Mali ở thế kỷ XIV cũng rất đáng chú ý. Theo các chuyên gia, đáng kể nhất trong số đó là nhà thờ Kaouara (tỉnh Ouangolodougou), nhà thờ Tengréla, nhà thờ Kouto, nhà thờ Nambira, hai nhà thờ khác ở Kong đều mang giá trị văn hóa, kiến trúc, lịch sử nhất định.[22].

Thể thao, truyền thông, giải trí

Người dân Bờ Biển Ngà rất ưa thích thể thao. Từ các sân golf ở Abidjan, Yamoussoukro và San-Pédro, Bờ Biển Ngà có thể tổ chức những cuộc thi đấu golf 9 lỗ hoặc 18 lỗ. Hằng năm, giải đấu golf quốc tế mở rộng mang tên Félix Houphouët Boigny vẫn diễn ra đều đặn ở Bờ Biển Ngà với sự tham gia của nhiều vận động viên chuyên nghiệp.

Những vùng phá và biển tạo cho Bờ Biển Ngà cơ hội phát triển nhiều môn thể thao dưới nước như lặn, lướt ván, đua thuyền buồm, canoe-kayak và bóng chuyền bãi biển. Đua ngựa và đua xe cũng rất phổ biến ở Bờ Biển Ngà. Bên cạnh đó còn có bóng ném, bóng rổ, bóng chuyền, bóng bầu dục, điền kinh và quần vợt.

Tuy nhiên, bóng đá luôn là môn thể thao số một ở Bờ Biển Ngà. Bóng đá thu hút nhiều người dân tham gia tập luyện, kể cả những khu vực hẻo lánh nhất của đất nước. Mỗi thành phố, thậm chí là mỗi khu phố đều tổ chức một giải đấu bóng đá riêng.

Liên đoàn bóng đá Bờ Biển Ngà đã tổ chức và đưa vào thi đấu giải bóng đá cấp quốc gia Bờ Biển Ngà. Trong giải đấu này, hai đội bóng là Africa Sports National và ASEC Mimosas luôn tỏ ra vượt trội so với các đội bóng còn lại. Rất nhiều cầu thủ Bờ Biển Ngà đang phát triển sự nghiệp ở nước ngoài trong những đội bóng danh giá nhất thế giới. Chính những cầu thủ thi đấu ở nước ngoài này là nguồn lực chính cho đội tuyển bóng đá quốc gia Bờ Biển Ngà ở các giải đấu quốc tế.

Trong quá khứ, với sự dẫn dắt của những cầu thủ như Ben Badi, Gadji Celi et Alain Gouaméné, bóng đá Bờ Biển Ngà đã đạt được những thành công nhất định. Đến thế hệ của Didier Drogba, Bờ Biển Ngà lần đầu tiên đã góp mặt tại vòng chung kết World Cup 2006.

Masqstatuet
Mặt nạ và những bức tượng nhỏ được bày bán trong một khu chợ

Trong lĩnh vực truyền thông, Bờ Biển Ngà có đầy đủ các cơ quan phụ trách nghe nhìn, báo viết, kể cả các cơ quan quản lý chuyên nghiệp tuân theo sự điều hành của Ủy ban quốc gia về báo chí mà sau này là Hội đồng báo chí quốc gia (CNP), Hội đồng nghe nhìn quốc gia (CNCA) và một tổ chức tự quản giám sát đạo đức và tự do báo chí (OLPED).

Từ năm 1991, truyền thông của Bờ Biển Ngà được điều chỉnh bởi đạo luật số 91-1034 [23] · [24] · [25] về hoạt động báo chí chuyên nghiệp. Đài phát thanh truyền hình Bờ Biển Ngà (RTI) thuộc về nhà nước, được hỗ trợ tài chính nhờ tiền bản quyền, quảng cáo và các nguồn ủng hộ khác. Bao gồm 2 kênh truyền hình và 2 trạm phát thanh: La Première, TV2 - kênh giải trí phát sóng trong khu vực bán kính 200 km ở Abidjan, Radio Côte d'Ivoire, Fréquence 2 - kênh giải trí, Radio Jam, kênh radio tư nhân đầu tiên của Bờ Biển Ngà; Africahit Music TV.

Nhiều đầu báo khác nhau phần lớn đều tập trung ở Abidjan. Ngoài Tập đoàn báo buổi sáng Bác Ái (Groupe Fraternité Matin) với khoảng 25000 ấn bản mỗi ngày, 15 đầu báo khác đều do các công ty tư nhân nắm giữ.

Cizaouli
Mặt nạ Zaouli trong một vũ điệu lễ hội ở Bờ Biển Ngà

Âm nhạc của Bờ Biển Ngà pha trộn nhiều trào lưu khác nhau, trong đó có thể kể đến những nhạc sĩ tiên phong như Ziglibithy, Gbégbé, Lékiné hay nhóm những nhạc sĩ thuộc thế hệ thứ hai (Zouglou, Zoblazo, Mapouka,Youssoumba...) và nhóm nhạc sĩ thuộc trào lưu hiện đại (Coupé-décalé). Âm nhạc Bờ Biển Ngà là sự kết hợp của nhiều điệu nhạc khiêu vũ.

Hài kịch rất được ưa chuộng ở Bờ Biển Ngà, đặc biệt là tác phẩm trào phúng của Digbeu Cravate, Zoumana, Adjé Daniel, Gbi de Fer, Jimmy Danger, Doh Kanon, Adrienne Koutouan, Marie Louise Asseu, Adama Dahico, Bamba Bakary, duo Zongo và Tao sản xuất, biểu diễn trên sân khấu và truyền hình.

Năm 2004, với sự phát triển của công nghệ kĩ thuật số, điện ảnh Bờ Biển Ngà đã cho ra đời hàng loạt bộ phim như Coupé-décalé (Fadiga de Milano đạo diễn) hay Le Bijou du sergent Digbeu [26] của Alex Kouassi, Signature của Alain Guikou hay là Un homme pour deux sœurs của Marie-Louise Asseu. Tính cho đến thời điểm hiện tại, trung bình cứ 3 tháng lại có một bộ phim được xuất xưởng. Những bộ phim này còn nhiều yếu kém về kĩ thuật (do hình ảnh hoặc âm thanh) nhưng sự hữu ích của công nghệ kĩ thuật số thật sự đã tạo ra bước ngoặt cho điện ảnh Bờ Biển Ngà.

Festival về nghệ thuật châu Phi Marché des arts du spectacle africain - MASA được tổ chức lần đầu tiên vào năm 1993 bởi Tổ chức Pháp ngữ, đến tháng 3 năm 1998 đã nhanh chóng trở thành một chương trình có tính chất quốc tế nhằm phát triển những nghệ thuật hiện có tại châu Phi. Chương trình này là một dự án nghệ thuật liên quốc gia của châu Phi bao gồm một hội chợ về nghệ thuật trình diễn, một diễn đàn của những người làm nghệ thuật và một festival diễn ra hai năm một lần ở Abidjan.[27].

Faya Flow là cuộc thi hip hop lớn nhất ở Bờ Biển Ngà. Được tổ chức bởi Hiệp hội Tuổi trẻ Hip hop Năng động (JACH, đọc là "jack") từ năm 2005, cuộc thi này nhằm mục đích thông qua hip hop tìm kiếm, phát hiện và giúp đỡ những tài năng ca hát và văn nghệ cho Bờ Biển Ngà.

Tham khảo

  1. ^ a ă â b “Côte d'Ivoire”. The World Factbook. CIA Directorate of Intelligence. Ngày 24 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2008.
  2. ^ Bờ Biển Ngà
  3. ^ “Côte d'Ivoire”. The World Factbook. CIA Directorate of Intelligence. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2017.
  4. ^ a ă â b “Côte d'Ivoire”. International Monetary Fund.
  5. ^ “2016 Human Development Report” (PDF). United Nations Development Programme. 2016. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2017.
  6. ^ “Gini Index”. World Bank. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2011.
  7. ^ (tiếng Pháp) Premiers résultats définitifs du RGPH-98 (Recensement Général de la Population et de l’Habitation de 1998), Abidjan: Institut National de la Statistique, Bureau Technique Permanent du Recensement, 2002.
  8. ^ Library of Congress Country Studies, Library of Congress, Tháng 11 năm 1988, truy cập 11 tháng 4 năm 2009
  9. ^ (tiếng Pháp) Loi n° 2000-513 du 1er août 2000 portant Constitution de la République de Côte d’Ivoire[[Thể loại:Bài viết có văn bản tiếng Pháp]]” (PDF), Journal Officiel de la République de Côte d’Ivoire 42 (30), 3 tháng 8 năm 2000: 529–538, truy cập 7 tháng 8 năm 2008 Tựa đề URL chứa liên kết wiki (trợ giúp).
  10. ^ Background Note: Cote d'Ivoire[[Thể loại:Bài viết có văn bản tiếng Pháp]], United States Department of State, Tháng 7 năm 2008, truy cập 7 tháng 8 năm 2008 Tựa đề URL chứa liên kết wiki (trợ giúp).
  11. ^ (tiếng Pháp) Accord politique de Ouagadougou, Presidency of the Republic of Côte d'Ivoire, 4 tháng 3 năm 2007, truy cập 7 tháng 8 năm 2008
  12. ^ Guédé, François Yiodé (1995), “Contribution à l'étude du paléolithique de la Côte d'Ivoire: État des connaissances”, Journal des africanistes 65 (2): 79–91, ISSN 0399-0346, doi:10.3406/jafr.1995.2432.
  13. ^ Rougerie 1978, tr. 246.
  14. ^ Kipré 1992, tr. 15–16.
  15. ^ “Cote d'Ivoire”. International Religious Freedom Report for 2015. United States Department of State. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2017.
  16. ^ “Ivory Coast – The Economy”. Countrystudies.us. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2010.
  17. ^ “Ivory Coast – The Levantine Community”. Countrystudies.us. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2010.
  18. ^ Littérature africaine
  19. ^ “Rezo”. Truy cập 22 tháng 10 năm 2015.
  20. ^ [http://www.abidjan.net/cotedivoire/basilique/basilique4.htm “La C�te d'Ivoire sur Internet:: R�ligion”]. Truy cập 22 tháng 10 năm 2015.
  21. ^ “Findings:”. Truy cập 22 tháng 10 năm 2015.
  22. ^ “Mosquées de style soudanais du Nord ivoirien (site en série)”. Truy cập 22 tháng 10 năm 2015.
  23. ^ (tiếng Pháp) Loi n°91-1033 du 31 décembre 1991 portant régime juridique de la presse, Journal Officiel de la République de Côte d'Ivoire, n° 2 du 9 janvier 1992
  24. ^ (tiếng Pháp) loi n° 91-1034 du 31 décembre 1991 portant statut des journalistes professionnels, Journal officiel de la République de Côte d'Ivoire, n° 2 du 9 janvier 1992
  25. ^ (tiếng Pháp) loi n°91-1001 du 27 décembre 1991 fixant le régime de la communication audiovisuelle, Journal Officiel de la République de Côte d'Ivoire, n° 2 du 9 janvier 1992
  26. ^ “lematindabidjan.com”. Truy cập 22 tháng 10 năm 2015.
  27. ^ (tiếng Pháp) “Présentation du Masa”. site du Masa. Truy cập 27 avril 2008. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)

Liên kết ngoài

Chính phủ
Thông tin chung
Tin tức
Du lịch
Khác
.ci

.ci là tên miền Internet cấp quốc gia (ccTLD) dành cho Bờ biển Ngà (Côte d'Ivoire)

Abidjan

Abidjan là thành phố nằm ở Đông Nam của Bờ Biển Ngà, là thủ đô trên thực tế, cảng chính và là thành phố lớn nhất quốc gia này. Thành phố được xây dựng trên một khu vực hội tụ nhiều đảo, bán đảo được nối với nhau bằng cầu ở Phá Ébrié. Cảng hiện nay của thành phố được mở cửa năm 1950 khi Kênh đào Vridi cắt qua một bãi cát cửa sông, nối vùng phá khá sâu được bao bọc với Vịnh Guinée và Đại Tây Dương. Cảng này xuất khẩu cà phê, cacao, chuối, dứa, các sản phẩm cá và dầu cọ. Thành phố có các ngành công nghiệp: lắp ráp radio, xe ô tô, dệt may, sản phẩm thịt, quần áo, thực phẩm, chất dẻo, cao su, sản phẩm dầu mỏ. Du lịch cũng là một ngành ngày càng có tầm quan trọng. Thành phố này là một trục trung tâm của hệ thống đường bộ quốc gia và là ga cuối của Tuyến đường sắt Abidjan-Niger kéo dài đến phía Bắc đến Burkina Faso.

Abidjan là một thành phố lớn và hiện đại với các công viên, các đại lộ rộng rãi. Abidjan là một ngôi làng nhỏ năm 1904, khi nó trở thành một điểm cuối của tuyến đường sắt đi vào trong lục địa nhưng nó không có cảng và phát triển chậm. Năm 1934, nó kế tục Bingerville làm thủ đô của thuộc địa Bờ Biển Ngà thuộc Pháp, một vị thế nó đã giữ sau khi thuộc địa này giành được độc lập năm 1960. Dù Yamoussoukro đã được chọn làm thủ đô hành chính năm 1983, Abidjan vẫn là trung tâm của cuộc sống thương mại và văn hóa của Bờ Biển Ngà.

Bảng mã IOC

Ủy ban Olympic Quốc tế (IOC) sử dụng ba ký tự tiêu biểu cho mã quốc gia và chùm ký tự này sẽ đại diện cho các vận động viên trong các kì Đại hội Olympic. Mỗi chùm ký tự đại diện cho Ủy ban Olympic của các quốc gia; nhưng cũng có thể trong các sự kiện quá khứ nó được dùng để đại diện cho liên hiệp các quốc gia hay tập thể cá nhân không đại diện cho bất kì một quốc gia nào.

Bảng mã này có một vài điểm khác biệt so với bảng chuẩn ISO 3166-1 alpha-3. Trong một số tổ chức thể thao khác, chẳng hạn FIFA hay Liên đoàn Thịnh vượng chung Anh, dùng ký hiệu giống với bảng này.

Bờ Biển Ngà tại Thế vận hội

Bờ Biển Ngà (cũng được biết tới là Cốt Đi-voa) đã liên tục gửi các vận động viên (VĐV) tới các kỳ Thế vận hội Mùa hè kể từ năm 1964, trừ đại hội năm 1980. Quốc gia này lần đầu tiên đạt thành tích tại Olympic với tấm huy chương bạc nội dung chạy 400 mét (nam) ở Thế vận hội Mùa hè 1984. Vào năm 2016, Bờ Biển Ngà cũng đã giành được 1 huy chương vàng và 1 huy chương đồng môn Taekwondo. Nước này chưa từng tham gia tranh tài tại Thế vận hội Mùa đông.

Chính sách thị thực của Bờ Biển Ngà

Du khách đến Bờ Biển Ngà phải xin thị thực từ một trong những phái bộ ngoại giao Côte d'Ivoire trừ khi họ đến từ một trong những quốc gia được miễn thị thực. Tất cả du khách phải sở hữu hộ chiếu có hiệu lực 6 tháng.

Cúp bóng đá châu Phi

Cúp bóng đá châu Phi (tiếng Pháp: Coupe d'Afrique des Nations, viết tắt: CAN; tiếng Anh: African Nation's Cup) là cúp bóng đá giữa các quốc gia châu Phi do Liên đoàn bóng đá châu Phi (CAF) tổ chức. Giải lần đầu tiên được tổ chức năm 1957 chỉ với 3 đội bóng. Từ năm 1968, giải chính thức được tổ chức 2 năm một lần. Từ năm 2013, giải được chuyển sang tổ chức vào các năm lẻ để tránh trùng với Giải vô địch bóng đá thế giới. Như vậy lần thứ hai giải được tổ chức vào hai năm liên tiếp (2012 và 2013, sau lần đầu tiên vào 50 năm trước đó).

Đội bóng đoạt nhiều chức vô địch nhất là đội tuyển Ai Cập với 7 lần bước lên ngôi cao nhất vào các năm 1957, 1959, 1986, 1998, 2006, 2008 và 2010.

Cúp bóng đá châu Phi 1984

Cúp bóng đá châu Phi 1984 là Cúp bóng đá châu Phi lần thứ 14, được tổ chức tại Bờ Biển Ngà. Đây là lần đầu tiên Bờ Biển Ngà đăng cai Cúp bóng đá châu Phi. Số đội tham dự giải là 36, nhiều hơn giải trước đó 1 đội. Thể thức thi đấu không đổi. Vòng chung kết gồm 8 đội chia làm 2 bảng, mỗi bảng 4 đội. Hai đội tuyển đứng đầu mỗi bảng vào đá bán kết, đội thắng ở bán kết vào đá chung kết, đội thua dự trận trận tranh giải ba. Cameroon lần đầu tiên giành chức vô địch sau khi thắng Nigeria 3-1 ở chung kết. Còn Nigeria trở thành đội đương kim vô địch thứ bảy bị loại ngay từ vòng bảng (sau CHDC Congo là vào các năm 1970, 1976 cùng với Sudan 1972, Maroc 1978, Ghana 1980 và Nigeria 1982). Ngoài ra, Bờ Biển Ngà trở thành đội chủ nhà thứ hai bị loại ngay từ vòng bảng (sau Ethiopia 1976).

Cúp bóng đá châu Phi 1992

Cúp bóng đá châu Phi 1992 là Cúp bóng đá châu Phi lần thứ 18, được tổ chức tại Sénégal. Đây là lần đầu tiên Sénégal đăng cai Cúp bóng đá châu Phi. Với sự phát triển của bóng đá châu Phi, lần đầu tiên vòng chung kết của giải có 12 đội tham dự, tăng so với các giải trước 4 đội. Số đội tham dự giải là 37, nhiều hơn giải trước đó 2 đội. Thể thức thi đấu thay đổi so với các giải trước. Vòng loại không thi đấu loại trực tiếp mà chia bảng thi đấu vòng tròn 2 lượt. Vòng chung kết gồm 12 đội chia làm 4 bảng, mỗi bảng 3 đội. Hai đội tuyển đứng đầu mỗi bảng (tổng cộng 8 đội) vào đá tứ kết, đội thắng ở tứ kết vào đá bán kết, đội thắng ở bán kết vào đá chung kết, đội thua bán kết dự trận trận tranh giải ba. Bờ Biển Ngà lần đầu tiên giành chức vô địch sau khi thắng Ghana 11–10 trên chấm sút luân lưu sau trận chung kết không bàn thắng. Còn Algérie trở thành đội đương kim vô địch thứ mười bị loại ngay từ vòng bảng (sau CHDC Congo là vào các năm 1970, 1976, Ghana là vào các năm 1980, 1984 cùng với Sudan 1972, Maroc 1978, Nigeria 1982, Ai Cập 1988 và Cameroon 1990).

Danh sách các câu lạc bộ bóng đá ở Bờ Biển Ngà

Đây là danh sách các câu lạc bộ bóng đá ở Bờ Biển Ngà.

Về danh sách đầy đủ, xem Thể loại:Câu lạc bộ bóng đá Bờ Biển Ngà

Didier Drogba

Didier Drogba, tên đầy đủ là Didier Yves Drogba Tébily (sinh ngày 11 tháng 3 năm 1978), là cựu cầu thủ bóng đá người Bờ Biển Ngà hiện đã giải nghệ. Với biệt danh "Voi rừng", anh là cầu thủ bóng đá Bờ Biển Ngà xuất sắc nhất mọi thời đại.

Anh là vua phá lưới Premier League mùa bóng 2006-07 với 20 bàn thắng và mùa bóng 2009-2010 với 29 bàn thắng, và là Cầu thủ xuất sắc nhất châu Phi hai năm 2006 và 2009.

Là một trong những tiền đạo trung phong xuất sắc nhất thế giới, anh có đầy đủ phẩm chất của một tiền đạo siêu sao: khả năng càn lướt, thể lực dồi dào, bản năng săn bàn và quyết đoán. Anh nổi tiếng với khả năng vô địch trong tranh chấp tay đôi và dứt điểm không cần nhìn khung thành đối phương.

Phần lớn thời gian sự nghiệp đỉnh cao của Drogba là tại CLB Chelsea, tại Chelsea anh được coi như một biểu tượng lớn và được bình chọn là tiền đạo xuất sắc nhất lịch sử CLB. Đặc biệt trong trận đấu cuối cùng của anh cho Chelsea, trận chung kết UEFA Champions League 2012 với Bayern Munich, anh đóng vai như người hùng khi đánh đầu cân bằng tỉ số 1-1 cho Chelsea trong những phút cuối hiệp hai, sau hai hiệp phụ hòa nhau, Chelsea đánh bại Bayern Munich bằng loạt đá luân lưu, Drogba là người thực hiện thành công lượt đá cuối và lần đầu tiên cùng CLB Chelsea đăng quang giải đấu danh giá UEFA Champions League.

Drogba cũng rất nổi tiếng bởi những hoạt động xã hội. Tại quê nhà Bờ Biển Ngà, anh được người dân tôn vinh như người hùng khi đứng ra nỗ lực kêu gọi hòa bình, chấm dứt nội chiến trên quê hương vào năm 2006 để tập trung vào World Cup đang diễn ra. Các phe xung đột đều tự nguyện bỏ vũ khí khi Drogba kêu gọi hòa bình. Anh bỏ tiền ra xây nhiều bệnh viện, trường học và viện trợ nhân đạo cho đất nước Bờ Biển Ngà và được nhân dân, chính phủ vô cùng mến mộ.

Drogba được các nhà chuyên môn tại châu Phi đánh giá là top 3 "Cầu thủ châu Phi Vĩ đại nhất mọi Thời đại" khi vượt qua những Abedi Pele, Jay-jay Okocha, Nwankwo Kanu, Roger Milla. Didier Drogba xếp thứ 3, George Weah giành giải Nhì, Samuel Eto'o giành giải Nhất trong cuộc bầu chọn này.Tạp chí uy tín Time (Mỹ) bầu chọn Drogba là một trong "100 người có ảnh hưởng nhất thế giới năm 2010". Đáng chú ý, cựu tiền đạo The Blues được tạp chí Time bầu chọn trong danh mục "người hùng" (25 người) bên cạnh cựu Tổng thống Mỹ Clinton, ngôi sao điện ảnh Lý Liên Kiệt hay danh hài Ben Stiller.

Emmanuel Eboué

Emmanuel Eboué (sinh ngày 4 tháng 6 năm 1983) là một cựu cầu thủ bóng đá Bờ Biển Ngà. Vị trí sở trường của anh là hậu vệ phải nhưng anh cũng thường xuyên được dùng ở vị trí tiền vệ cánh phải.

Khởi đầu sự nghiệp ở ASEC Mimosas, anh tới châu Âu để thi đấu cho Beveren của Bỉ năm 2002. Anh dành phần lớn sự nghiệp của mình, từ 2005 tới 2011, tại Arsenal của Giải bóng đá Ngoại hạng Anh, thi đấu 214 trận – trong đó có trận Chung kết UEFA Champions League 2006 – và ghi 10 bàn. Anh chuyển tới Galatasaray, và giành năm chức vô địch quốc gia. Sau khi rời đội bóng Thổ Nhĩ Kỳ năm 2015, anh có trong danh sách thi đấu của Sunderland trước khi bị FIFA cấm thi đấu vì không trả lương cho người đại diện.

Eboué khoác áo Đội tuyển bóng đá quốc gia Bờ Biển Ngà từ năm 2004 tới 2013, có 79 trận ra sân. Anh tham dự năm giải đấu Cúp bóng đá châu Phi và hai Giải vô địch bóng đá thế giới.

Eric Bailly

Eric Bertrand Bailly (phát âm tiếng Pháp: [eʁik bɛʁ.tʁɑ̃ baji]; sinh ngày 12 tháng 4 năm 1994) là cầu thủ bóng đá người Bờ Biển Ngà chơi ở vị trí hậu vệ cho câu lạc bộ bóng đá Manchester United.

Khởi nghiệp bóng đá tại Tây Ban Nha trong màu áo câu lạc bộ Espanyol, anh chuyển đến Villarreal với mức giá 5.7 triệu bảng Anh vào ngày 29 tháng 1 năm 2015 và 18 tháng sau đó chuyển đến Manchester United.

Bailly ra mắt đội tuyển Bờ Biển Ngà năm 2015 và cùng đội tuyển đoạt chức vô địch Cúp bóng đá châu Phi 2015.

Kolo Touré

Kolo Abib Touré (sinh ngày 19 tháng 3 năm 1981) là một cựu cầu thủ và huấn luyện viên bóng đá Bờ Biển Ngà. Anh từng thi đấu ở vị trí trung vệ cho Arsenal, Manchester City, Liverpool, Celtic và Đội tuyển bóng đá quốc gia Bờ Biển Ngà. Anh hiện là thành viên ban huấn luyện đội tuyển Bờ Biển Ngà.

Sau khi bắt đầu sự nghiệp ở ASEC Mimosas, Touré chuyển đến Arsenal năm 2002, có 326 trận cho câu lạc bộ và là một phần của đội hình bất bại mùa 2003-04. Vào năm 2009, anh chuyển tới Manchester City, nơi anh tái hợp người em trai Yaya Touré, giúp City đoạt chức vô địch Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 2011-12, lần đầu tiên sau 44 năm. Anh là một trong số ít cầu thủ vô địch Ngoại hạng Anh trong màu áo hai câu lạc bộ. Vào năm 2013 Touré chuyển tới Liverpool. Anh kết thúc sự nghiệp ở Celtic.

Touré là thành viên của Đội tuyển bóng đá quốc gia Bờ Biển Ngà từ năm 2000 tới 2015 với 120 trận ra sân. Anh cùng đội tuyển tham dự Giải vô địch bóng đá thế giới 2006, 2010 và 2014. Touré cũng tham dự bảy kỳ Cúp bóng đá châu Phi từ 2002 tới 2015, giàn ngôi á quân năm 2006 và 2012, và vô địch Cúp bóng đá châu Phi 2015.

Liên đoàn bóng đá Bờ Biển Ngà

Liên đoàn bóng đá Bờ Biển Ngà là tổ chức quản lý, điều hành các hoạt động bóng đá ở Bờ Biển Ngà. Liên đoàn quản lý đội tuyển bóng đá quốc gia Bờ Biển Ngà, tổ chức các giải bóng đá như vô địch quốc gia và cúp quốc gia. Hiệp hội bóng đá Bờ Biển Ngà gia nhập CAF năm 1960 và FIFA năm 1961.

Serge Aurier

Serge Alain Stéphane Aurier (tiếng Pháp: [sɛʁʒ oʁje]; sinh ngày 24 tháng 12 năm 1992) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Bờ Biển Ngà, chơi ở vị trí hậu vệ phải cho câu lạc bộ Premier League Tottenham Hotspur và đội tuyển quốc gia Bờ Biển Ngà.

Aurier chuyển đến Pháp khi còn nhỏ và chơi cho Lens, Toulouse và Paris Saint-Germain, giành được 11 danh hiệu lớn cuối cùng. Anh có tổng cộng 169 lần ra sân ở Ligue 1 và hai lần được xướng tên trong Đội hình của năm. Năm 2017, anh gia nhập Tottenham với mức phí khoảng 23 triệu bảng.

Anh ra mắt quốc tế cho Bờ Biển Ngà năm 2013 và đã ra sân hơn 40 trận với vai trò đội trưởng. Anh đại diện cho quốc gia tại FIFA World Cup 2014 và hai giải đấu Cúp bóng đá châu Phi, vô địch năm 2015.

Yamoussoukro

Yamoussoukro là thủ đô của Bờ Biển Ngà. Thành phố này có 200.659 dân vào thời điểm năm 2005, cách Abidjan 240 km về phía bắc. Tổng diện tích là 3.500 km². Tổng thống Houphouët-Boigny đã tuyên bố Yamoussoukro làm thủ đô quốc gia này năm 1983. Thành phố đã nhanh chóng phát triển hạ tầng và tiện ích công cộng. Do nền kinh tế Bờ Biển Ngà giảm sút kể từ đầu thập niên 1980, công cuộc xây dựng thành phố này để làm thủ đô bị trì hoãn và hiện vẫn chưa hoàn thiện để chuyển chính phủ đến. Abidjan vẫn là nơi đóng các cơ quan chính quyền.

Yaya Touré

Gnégnéri Yaya Touré (sinh ngày 13 tháng 5 năm 1983) là một tiền vệ bóng đá người Bờ Biển Ngà hiện đang chơi cho câu lạc bộ Thanh Đảo Hoàng Hải ở giải Hạng Nhất Trung Quốc. Anh là một tiền vệ lùi với tố chất mạnh mẽ, không ngại va chạm. Anh là cầu thủ người Bờ Biển Ngà đầu tiên chơi cho Barcelona. Anh là em trai của Kolo Touré. Yaya cũng có một người em trai tên Ibrahim Touré nhưng đã qua đời.

Đội tuyển bóng đá bãi biển quốc gia Bờ Biển Ngà

Đội tuyển bóng đá bãi biển quốc gia Bờ Biển Ngà đại diện Bờ Biển Ngà ở các giải thi đấu bóng đá bãi biển quốc tế và được điều hành bởi FIF, cơ quan quản lý bóng đá ở Bờ Biển Ngà.

Đội tuyển bóng đá quốc gia Bờ Biển Ngà

Đội tuyển bóng đá quốc gia Bờ Biển Ngà (tiếng Pháp: Équipe de Côte d'Ivoire de football), có biệt danh là "Les Éléphants", là đội tuyển của Liên đoàn bóng đá Bờ Biển Ngà và đại diện cho Bờ Biển Ngà trên bình diện quốc tế.

Trận thi đấu quốc tế đầu tiên của đội tuyển Bờ Biển Ngà là trận gặp đội tuyển Dahomey vào năm 1960. Bờ Biển Ngà là một trong những đội bóng mạnh nhất ở châu Phi. Thành tích tốt nhất của đội cho đến nay là 2 chức vô địch bóng đá châu Phi giành được vào các năm 1992 và 2015, vị trí thứ tư của cúp Nhà vua Fahd 1992 cùng với tấm huy chương đồng của đại hội Thể thao toàn châu Phi 1965. Đội đã từng tham dự 3 kỳ World Cup vào các năm 2006, 2010 và 2014, tuy nhiên đều không vượt qua được vòng bảng.

Quốc gia có chủ quyền
Bộ phận của
quốc gia có chủ quyền
Lãnh thổ phụ thuộc
Chủ quyền không rõ
Thành viên
Quan sát viên
Quốc gia thành viên và quan sát viên của Cộng đồng Pháp ngữ
Thành viên
Quan sát viên

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.