Bỉ

Bỉ, tên chính thức là Vương quốc Bỉ, là một quốc gia có chủ quyền tại Tây Âu. Bỉ có biên giới với Pháp, Hà Lan, Đức, Luxembourg, và có bờ biển ven biển Bắc. Đây là một quốc gia có diện tích nhỏ, mật độ dân số cao, dân số khoảng 11 triệu người. Bỉ thuộc cả hai vùng văn hoá châu Âu German và châu Âu Latinh, với hai nhóm ngôn ngữ chính: Tiếng Hà Lan hầu hết được nói tại cộng đồng người Vlaanderen, đây là bản ngữ của 59% dân số; tiếng Pháp hầu hết được nói trong cư dân vùng Wallonie và là bản ngữ của khoảng 40% dân số; ngoài ra có khoảng 1% dân số là người nói tiếng Đức.

Về mặt lịch sử, Bỉ nằm tại một khu vực được gọi là Các vùng đất thấp (Nederlanden), lớn hơn một chút so với liên minh Benelux hiện nay. Khu vực này được gọi là Belgica trong tiếng Latinh theo tên tỉnh Gallia Belgica của La Mã (Roma). Từ cuối thời Trung cổ cho đến thế kỷ XVII, khu vực Bỉ là một trung tâm thương nghiệp và văn hoá thịnh vượng và có tính chất thế giới. Từ thế kỷ XVI cho đến khi Bỉ độc lập từ Hà Lan bằng Cách mạng Bỉ vào năm 1830, khu vực này trở thành chiến trường giữa các cường quốc chính tại châu Âu, do đó được mệnh danh là "Chiến trường của châu Âu",[5] danh tiếng này được củng cố trong hai thế chiến của thế kỷ XX.

Ngày nay, Bỉ theo chế độ quân chủ lập hiến liên bang, có một hệ thống nghị viện. Quốc gia này được chia thành ba vùng và ba cộng đồng tồn tại cạnh nhau. Hai vùng lớn nhất là Vlaanderen tại miền bắc có cư dân nói tiếng Hà Lan, và Wallonie tại miền nam có hầu hết dân chúng nói tiếng Pháp. Vùng Thủ đô Bruxelles có quy chế song ngữ chính thức, và được vùng Vlaanderen bao quanh.[6] Cộng đồng nói tiếng Đức nằm tại miền đông Wallonie.[7][8] Các xung đột về đa dạng ngôn ngữ và chính trị liên quan tại Bỉ được phản ánh trong lịch sử chính trị và hệ thống quản lý phức tạp tại đây, với sáu chính quyền khác nhau.[9][10]

Bỉ tham gia cách mạng công nghiệp[11][12], và trong thế kỷ XX từng sở hữu một số thuộc địa tại châu Phi.[13] Nửa sau thế kỷ XX có dấu ấn là gia tăng căng thẳng giữa các công dân nói tiếng Hà Lan và nói tiếng Pháp, được thúc đẩy do khác biệt về ngôn ngữ và văn hoá cũng như phát triển kinh tế không đồng đều của Vlaanderen và Wallonie. Sự đối lập liên tục này dẫn đến một vài cải cách sâu rộng, kết quả là chuyển đổi Bỉ từ một nhà nước đơn nhất sang nhà nước liên bang trong giai đoạn từ 1970 đến 1993. Bất chấp các cải cách này, căng thẳng giữa các nhóm vẫn tồn tại; chủ nghĩa ly khai có quy mô đáng kể tại Bỉ, đặc biệt là trong cộng đồng Vlaanderen; tồn tại pháp luật về ngôn ngữ gây tranh luận trong các khu tự quản đa ngôn ngữ.[14]

Bỉ là một trong sáu quốc gia sáng lập của Liên minh châu Âu, và là nơi đặt trụ sở của Ủy ban châu Âu, Hội đồng Liên minh châu Âu, Hội đồng châu ÂuNghị viện châu Âu và nhiều tổ chức quốc tế lớn khác. Bỉ cũng là một thành viên sáng lập của Khu vực đồng euro, NATO, OECDWTO, và là bộ phận của Liên minh Benelux và Khu vực Schengen. Bỉ là một quốc gia phát triển, có kinh tế thu nhập cao với trình độ tiên tiến, và được phân loại là "rất cao" trong chỉ số phát triển con người.

Vương quốc Bỉ

Flag of Belgium Great coat of arms of Belgium
Quốc kỳ [nb 1] Huy hiệu
Bản đồ
Vị trí của Bỉ
Vị trí Bỉ (xanh) trên thế giới
Vị trí của Bỉ
Vị trí của Bỉ (xanh đậm)

– ở châu Âu (xanh nhạt & xám đậm)
– trong EU (xanh nhạt)

Tiêu ngữ
Tiếng Hà Lan: Eendracht maakt macht
Tiếng Pháp: L'union fait la force
Tiếng Đức: Einigkeit gibt Stärke
("Đoàn kết tạo nên sức mạnh")
Quốc ca
Brabançonne

Hành chính
Chính phủQuân chủ lập hiến
VuaPhilippe
Thủ tướngCharles Michel
Thủ đôBrussel/Bruxelles[nb 2]
50°51′B 4°21′Đ / 50,85°B 4,35°Đ
Thành phố lớn nhấtBrussel/Bruxelles
Địa lý
Diện tích30.528 km² (hạng 136)
Diện tích nước6,4 %
Múi giờCET (UTC+1); mùa hè: CEST (UTC+2)
Lịch sử
Độc lập từ Hà Lan
4 tháng 10 năm 1830Tuyên bố
Ngày 19 tháng 4 năm 1839Công nhận
Ngôn ngữ chính thứcTiếng Hà Lan, tiếng Pháptiếng Đức
Dân số ước lượng (2017)11.303.528 [1] người
Dân số(hạng 75)
Mật độ370,3 người/km² (hạng 36)
Kinh tế
GDP (PPP) (2016)Tổng số: 508,598 tỷ USD[2] (hạng 38)
Bình quân đầu người: 44.881 USD[2] (hạng 20)
GDP (danh nghĩa) (2016)Tổng số: 470,179 tỷ USD[2] (hạng 23)
Bình quân đầu người: 41.491 USD[2] (hạng 17)
HDI (2014)0,89[3] rất cao (hạng 21)
Hệ số Gini (2011)26,3[4] thấp
Đơn vị tiền tệEuro ¹ (EUR)
Thông tin khác
Tên miền Internet.be

Tên gọi

Tên gọi của nước Bỉ trong tiếng Việt bắt nguồn từ tên gọi của nước Bỉ trong tiếng Trung. Trong tiếng Trung nước Bỉ được gọi là “比利時” (Bǐlìshí, âm Hán Việt: Bỉ Lợi Thời). Tên gọi “Bỉ” trong tiếng Việt là gọi tắt của “Bỉ Lợi Thời”.[15] Tiếng Việt cuối thế kỷ 19 còn phiên âm địa danh này là Bắc Lợi Thì.[16]

Quốc hiệu nước Bỉ (tiếng Hà Lan: België [ˈbɛlɣijə]  ( nghe); tiếng Pháp: Belgique [bɛlʒik]  ( nghe); tiếng Đức: Belgien [ˈbɛlɡi̯ən]  ( nghe)) bắt nguồn từ Gallia Belgica, tên gọi của một tỉnh của La Mã ở phần cực bắc của Gallia nơi người Belgae sinh sống.[17]

Lịch sử

Tiền độc lập

Trước khi người La Mã (Roma) xâm chiếm khu vực vào năm 100 TCN, đây là nơi cư trú của người Belgae, pha trộn giữa các dân tộc CeltGerman.[18] Các bộ lạc Frank thuộc nhóm German dần di cư đến trong thế kỷ V, đưa khu vực vào phạm vi cai trị của các quốc vương Meroving. Thay đổi từng bước về quyền lực trong thế kỷ VIII khiến vương quốc của người Frank phát triển thành Đế quốc Caroling.[19]

Hiệp ước Verdun năm 843 phân chia khu vực giữa Trung FrankTây Frank, khu vực này trở thành một tập hợp các thái ấp có tính độc lập ít nhiều, và là chư hầu của Quốc vương Pháp hoặc của Hoàng đế La Mã Thần thánh.[19] Nhiều thái ấp trong số này thống nhất thành Nederlanden thuộc Bourgogne trong các thế kỷ XIV và XV.[20] Hoàng đế Karl V mở rộng liên minh cá nhân của Mười bảy tỉnh trong thập niên 1540, khiến nó vượt xa khỏi một liên minh cá nhân theo sắc lệnh năm 1549 và gia tăng ảnh hưởng của ông đối với Lãnh địa Thân vương-Giám mục Liège.[21]

Chiến tranh Tám mươi Năm (1568–1648) phân chia Các Vùng đất thấp thành Các tỉnh Liên hiệp (Belgica Foederata trong tiếng Latin, "Nederlanden Liên bang") và Miền Nam Nederlanden (Belgica Regia, "Nederlanden Hoàng gia"). Miền Nam Nederlanden nằm dưới quyền cai trị liên tiếp của gia tộc Habsburg Tây Ban NhaHabsburg Áo, bao gồm hầu hết lãnh thổ nay là Bỉ. Đây là chiến trường trong hầu hết chiến tranh Pháp-Tây Ban NhaPháp-Áo vào thế kỷ XVII-XVIII.

Sau các chiến dịch trong năm 1794 của Chiến tranh Cách mạng Pháp, Đệ Nhất Cộng hòa Pháp sáp nhập Các vùng đất thấp, kể cả các lãnh thổ chưa từng do gia tộc Habsburg cai trị trên danh nghĩa như Lãnh địa Thân vương-Giám mục Liège, kết thúc quyền cai trị của Áo trong khu vực. Các vùng đất thấp thống nhất thành Vương quốc Liên hiệp Hà Lan (Nederlanden) khi Đệ Nhất Đế chế Pháp giải thể vào năm 1815 sau thất bại của Napoléon Bonaparte.

Độc lập

Wappers - Episodes from September Days 1830 on the Place de l’Hôtel de Ville in Brussels
Tranh miêu tả Cách mạng Bỉ 1830 của Gustaf Wappers

Năm 1830, Cách mạng Bỉ dẫn đến các tỉnh miền nam ly khai khỏi Hà Lan và hình thành quốc gia Bỉ độc lập theo Công giáo và nằm dưới quyền giai cấp tư sản, có ngôn ngữ chính thức là tiếng Pháp, và trung lập.[22][23] Leopold I đăng cơ làm quốc vương vào ngày 21 tháng 7 năm 1831, ngày này hiện là ngày quốc khánh Bỉ, kể từ đó Bỉ theo chế độ quân chủ lập hiến và dân chủ nghị viện, có hiến pháp thế tục dựa theo bộ luật Napoléon.[24] Quyền bầu cử vào lúc đầu bị hạn chế, song nam giới được cấp quyền phổ thông đầu phiếu sau tổng đình công năm 1893, còn với nữ giới là vào năm 1949.

Các chính đảng chủ yếu trong thế kỷ XIX là Đảng Công giáo và Đảng Tự do, còn Công đảng xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX. Tiếng Pháp lúc đầu là ngôn ngữ chính thức duy nhất, ngôn ngữ này được giai cấp quý tộc và tư sản chấp thuận. Tuy nhiên, tiếng Pháp dần để mất tầm quan trọng về tổng thể từ khi tiếng Hà Lan cũng được công nhận. Sự công nhận này được chính thức hoá vào năm 1898 và đến năm 1967 thì Quốc hội chấp nhận một phiên bản tiếng Hà Lan của Hiến pháp.[25]

Hội nghị Berlin 1885 nhượng quyền kiểm soát Nhà nước Tự do Congo cho Quốc vương Leopold II với tư cách là tài sản cá nhân của ông. Từ khoảng năm 1900 quốc tế gia tăng quan tâm về đối xử khắc nghiệt và dã man đối với cư dân Congo dưới quyền Leopold II, đối với ông Congo chủ yếu là một nguồn thu nhập từ ngà voi và cao su.[26] Năm 1908, những phản đối này khiến nhà nước Bỉ đảm nhận trách nhiệm cai trị thuộc địa, từ đó lãnh thổ này được gọi là Congo thuộc Bỉ.[27]

Đức xâm chiếm Bỉ vào tháng 8 năm 1914, động thái này nằm trong Kế hoạch Schlieffen nhằm tấn công Pháp, và hầu hết giao tranh trên Mặt trận phía Tây trong Chiến tranh thế giới thứ nhất diễn ra tại miền tây của Bỉ. Bỉ nắm quyền kiểm soát các thuộc địa Ruanda-Urundi của Đức (nay là RwandaBurundi) trong chiến tranh, và đến năm 1924 Hội Quốc Liên uỷ thác chúng cho Bỉ. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Bỉ sáp nhập các huyện Eupen và Malmedy của Phổ vào năm 1925, đây là nguyên nhân xuất hiện một thiểu số nói tiếng Đức trong nước.

Người Đức lại xâm chiếm Bỉ vào tháng 5 năm 1940, và 40.690 người Bỉ bị giết trong cuộc chiếm đóng và nạn diệt chủng sau đó, hơn một nửa trong số đó là người Do Thái. Đồng Minh tiến hành giải phóng Bỉ từ tháng 9 năm 1944 đến tháng 2 năm 1945. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, một cuộc tổng đình công buộc Quốc vương Leopold III phải thoái vị vào năm 1951, do nhiều người Bỉ cảm thấy ông đã cộng tác với Đức trong chiến tranh.[28] Congo thuộc Bỉ giành độc lập vào năm 1960 trong Khủng hoảng Congo;[29] Ruanda-Urundi tiếp bước độc lập hai năm sau đó. Bỉ gia nhập NATO với tư cách thành viên sáng lập, và thành lập nhóm Benelux cùng Hà Lan và Luxembourg.

Bỉ trở thành một trong sáu thành viên sáng lập của Cộng đồng Than Thép châu Âu vào năm 1951 và của Cộng đồng Năng lượng nguyên tử châu ÂuCộng đồng Kinh tế châu Âu thành lập năm 1957. Bỉ hiện là nơi đặt trụ sở các cơ quan hành chính và tổ chức chủ yếu của Liên minh châu Âu, như Ủy ban châu Âu, Hội đồng Liên minh châu Âu cùng các phiên họp đặc biệt và uỷ ban của Nghị viện châu Âu.

Địa lý

Belgium relief location map
Bản đồ địa hình Bỉ

Bỉ có biên giới với Pháp (620 km), Đức (167 km), Luxembourg (148 km) và Hà Lan (450 km). Tổng diện tích là 30.528 km², trong đó diện tích đất là 30.278 km².[30] Lãnh thổ Bỉ giới hạn giữa vĩ tuyến 49°30 và 51°30 Bắc, giữa kinh tuyến 2°33 và 6°24 Đông.[31]

Bỉ có ba vùng địa lý chính; đồng bằng duyên hải nằm tại tây bắc và cao nguyên trung tâm đều thuộc bồn địa Anh-Bỉ, còn vùng cao Ardenne tại đông nam thuộc vành đai kiến tạo sơn Hercynia. Ngoài ra, bồn địa Paris vươn tới một khu vực nhỏ tại mũi cực nam của Bỉ, gọi là Lorraine thuộc Bỉ.[32]

Diksmuide - Polders - IJzer
Đất cải tạo dọc sông Yser

Đồng bằng ven biển gồm chủ yếu là các đụn cát và đất quai đê. Vùng nội lục sâu hơn có cảnh quan bằng phẳng và dần cao lên, có nhiều sông chảy qua, với các thung lũng phì nhiêu và đồng bằng nhiều cát Campine (Kempen) tại đông bắc. Các vùng đồi và cao nguyên có rừng rậm rạp thuộc khu vực Ardenne có địa hình gồ ghề và nhiều đá hơn, với các hang động và hẻm núi nhỏ. Ardenne trải dài về phía tây sang Pháp, còn về phía đông nối liền đến Eifel tại Đức qua cao nguyên Hautes Fagnes/Hohes Venn, trên đó có đỉnh Signal de Botrange cao nhất Bỉ với độ cao 694 m.[33][34]

Bỉ thuộc vùng khí hậu đại dương, có lượng mưa đáng kể trong tất cả các mùa (phân loại khí hậu Köppen: Cfb), giống như hầu hết phần tây bắc châu Âu.[35] Nhiệt độ trung bình thấp nhất là trong tháng 1 với 3 °C, và cao nhất là trong tháng 7 với 18 °C. Lượng giáng thuỷ trung bình tháng dao động từ 54 mm vào tháng 2 và tháng 4 đến 78 mm vào tháng 7.[36] Tính trung bình trong giai đoạn 2000-2006, nhiệt độ thấp nhất trong ngày là 7 °C và cao nhất là 14 °C, còn lượng mưa hàng tháng là 74 mm; lần lượt cao hơn khoảng 1 °C và 10 mm so với các giá trị bình thường của thế kỷ trước.[37]

Về địa lý thực vật, Bỉ nằm giữa các tỉnh châu Âu Đại Tây Dương và Trung Âu thuộc khu vực Circumboreal trong giới Boreal.[38] Theo Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên, lãnh thổ Bỉ thuộc vùng sinh thái rừng hỗn hợp Đại Tây Dương.[39] Do Bỉ có mật độ dân số cao, công nghiệp hoá và có vị trí tại trung tâm của Tây Âu, nên quốc gia này vẫn phải đối diện với một số vấn đề về môi trường. Tuy nhiên, do các nỗ lực kiên định của các cấp chính quyền, nên tình trạng môi trường tại Bỉ dần được cải thiện. Hơn thế, Bỉ còn là một trong các quốc gia có tỷ lệ tái chế chất thải cao nhất tại châu Âu, đặc biệt là vùng Vlaanderen có tỷ lệ phân loại chất thải cao nhất châu lục. Gần 75% chất thải sinh hoạt được tái sử dụng, tái chế hoặc dùng làm phân bón.

Các tỉnh

Lãnh thổ Bỉ được phân thành ba vùng, trong đó vùng Vlaanderen và vùng Wallonie được chia tiếp thành các tỉnh; riêng vùng Thủ đô Bruxelles không phải là một tỉnh hoặc là một phần của tỉnh nào.

Tỉnh Tên tiếng Hà Lan Tên tiếng Pháp Tên tiếng Đức Thủ phủ Thành phố lớn nhất Diện tích
(km2)
Dân số
(1/1/2016)
Antwerpen Antwerpen Anvers Antwerpen Antwerpen
(tiếng Hà Lan: Antwerpen)
(tiếng Pháp: Anvers)
Antwerpen
(tiếng Hà Lan: Antwerpen)
(tiếng Pháp: Anvers)
2.860 1.824.136
Oost-Vlaanderen Oost-Vlaanderen Flandre-Orientale Ostflandern Gent
(tiếng Hà Lan: Gent)
(tiếng Pháp: Gand)
Ghent
(tiếng Hà Lan: Gent)
(tiếng Pháp: Gand)
2.982 1.486.722
Vlaams-Brabant Vlaams-Brabant Brabant flamand Flämisch Brabant Leuven
(tiếng Pháp: Louvain)
(tiếng Đức: Löwen)
Leuven
(tiếng Pháp: Louvain)
2.106 1.121.693
Hainaut Henegouwen Hainaut Hennegau Mons
(tiếng Hà Lan: Bergen)
Charleroi 3.800 1.337.157
Liège Luik Liège Lüttich Liège
(tiếng Hà Lan: Luik)
(tiếng Đức: Lüttich)
Liège
(tiếng Hà Lan: Luik)
(tiếng Đức: Lüttich)
3.844 1.098.688
Limburg Limburg Limbourg Limburg Hasselt Hasselt 2,414 863,425
Luxembourg Luxemburg Luxembourg Luxemburg Arlon
(tiếng Hà Lan: Aarlen)
(tiếng Đức: Arel)
Arlon
(tiếng Hà Lan: Aarlen)
(tiếng Đức: Arel)
4.443 280.327
Namur Namen Namur Namur Namur
(tiếng Hà Lan: Namen)
Namur
(tiếng Hà Lan: Namen)
3.664 489.204
Walloon Brabant Waals-Brabant Brabant wallon Wallonisch Brabant Wavre
(tiếng Hà Lan: Waver)
Braine-l'Alleud
(tiếng Hà Lan: Eigenbrakel)
1.093 396.840
West-Vlaanderen West-Vlaanderen Flandre-Occidentale Westflandern Brugge
(tiếng Hà Lan: Brugge)
(tiếng Pháp: Bruges)
(tiếng Đức: Brügge)
Brugge
(tiếng Hà Lan: Brugge)
(tiếng Pháp: Bruges)
(tiếng Đức: Brügge)
3.151 1.181.828

Chính trị

Koning Filip van België
Philippe
Quốc vương từ năm 2013
Charles Michel (politician)
Charles Michel
Thủ tướng từ năm 2014

Bỉ có chế độ quân chủ lập hiến và quốc dân, và chế độ dân chủ nghị viện liên bang. Nghị viện liên bang Bỉ gồm có một tham nghị viện (thượng viện) và chúng nghị viện (hạ viện). Thượng viện gồm có 50 thượng nghị sĩ được bổ nhiệm từ nghị viện của các cộng đồng và vùng, cùng 10 thượng nghị sĩ được bầu thêm. Trước năm 2014, hầu hết thành viên Thượng viện được bầu cử trực tiếp. 150 đại biểu của Hạ viện được bầu theo một hệ thống đại diện tỷ lệ từ 11 khu vực bầu cử. Bỉ quy định nghĩa vụ bầu cử và do đó duy trì tỷ lệ cử tri bỏ phiếu vào hàng cao nhất thế giới.[40]

Quốc vương (hiện là Philippe) là nguyên thủ quốc gia, song chỉ được hưởng đặc quyền hạn chế. Ông bổ nhiệm các bộ trưởng cùng thủ tướng theo tín nhiệm của Hạ viện để hình thành chính phủ liên bang. Hội đồng Bộ trưởng gồm không quá 15 thành viên. Hội đồng Bộ trưởng phải gồm một số lượng cân bằng các thành viên nói tiếng Hà Lan và nói tiếng Pháp, thủ tướng có thể được ngoại lệ.[41] Hệ thống tư pháp dựa trên dân luật và có nguồn gốc từ bộ luật Napoléon. Toà huỷ án (Cour de cassation) là toà án cấp cuối cùng, còn Toà chống án (Cour d'appel) dưới đó một cấp.[42]

Văn hoá chính trị

Brussel Parlementsgebouw
Nghị viện Liên bang Bỉ tại Bruxelles

Các thể chế chính trị tại Bỉ có tính phức tạp, hầu hết quyền lực chính trị được tổ chức xoay quanh nhu cầu đại diện cho các cộng đồng văn hoá chủ yếu.[43]

Kể từ khoảng năm 1970, các chính đảng quốc gia quan trọng tại Bỉ bị phân chia thành các bộ phận riêng biệt, chủ yếu đại diện cho các lợi ích chính trị và ngôn ngữ của các cộng đồng tương ứng.[44] Các chính đảng chủ yếu trong mỗi cộng đồng gần với chính trị trung dung, song vẫn được phân thành ba nhóm chính: Dân chủ Cơ Đốc giáo, Tự do và Dân chủ Xã hội.[45] Các đảng đáng chú ý hơn phát triển mạnh từ giữa thế kỷ trước, chủ yếu xoay quanh chủ đề ngôn ngữ, dân tộc hay môi trường và gần đây có các đảng nhỏ hơn tập trung vào một số tính chất tự do riêng biệt.[44]

Một chuỗi các chính phủ liên minh Dân chủ Cơ Đốc giáo tồn tại suốt từ năm 1958 đã bị phá vỡ vào năm 1999 sau khủng hoảng dioxin lần thứ nhất, đây là một vụ bê bối ô nhiễm thực phẩm quy mô lớn.[46][47][48] Một "liên minh cầu vồng" xuất hiện từ sáu đảng: Tự do, Dân chủ Xã hội và Xanh của Vlaanderen và Pháp ngữ.[49] Sau đó, một "liên minh tía" gồm lực lượng Tự do và Dân chủ Xã hội được hình thành sau khi các Đảng Xanh mất hầu hết ghế trong bầu cử năm 2003.[50]

Chính phủ dưới quyền Thủ tướng Guy Verhofstadt từ năm 1999 đến năm 2007 đạt được cân bằng ngân sách, có một số cải cách thuế, một cải cách thị trường lao động, lên kế hoạch kết thúc sử dụng năng lượng hạt nhân và đưa ra khung pháp lý cho phép truy tố nghiêm ngặt hơn tội phạm chiến tranh và khoan dung hơn đối với sử dụng ma tuý nhẹ. Những giới hạn nhằm cản trở an tử được giảm bớt và đồng tính tuyến ái được hợp pháp hoá. Chính phủ thúc đẩy ngoại giao tích cực tại châu Phi[51] và phản đối xâm chiếm Iraq.[52] Đây là quốc gia duy nhất không có giới hạn tuổi về an tử.[53]

Liên minh của Verhofstadt đạt được kết quả kém trong bầu cử vào tháng 6 năm 2007, và Bỉ lâm vào khủng hoảng chính trị trong hơn một năm.[54] Nhiều nhà quan sát suy đoán cuộc khủng hoảng có thể khiến nước Bỉ bị phân chia.[55][56][57] Từ 21 tháng 12 năm 2007 đến 20 tháng 3 năm 2008, chính phủ lâm thời của Verhofstadt nắm quyền.[58] Sau đó, chính phủ mới dưới quyền Yves Leterme thuộc phe Dân chủ Cơ Đốc giáo Vlaanderen nhậm chức. Tuy nhiên, đến ngày 15 tháng 7 năm 2008, Leterme tuyên bố nội các từ chức vì không có tiến triển trong cải cách hiến pháp.[58] Đến tháng 12 năm 2008, ông lại đề xuất từ chức trước quốc vương sau một cuộc khủng hoảng quanh việc bán Fortis cho BNP Paribas.[59] Lần này, đề xuất từ chức của ông được chấp thuận và nhân vật cùng đảng là Herman Van Rompuy tuyên thệ làm thủ tướng vào ngày 30 tháng 12 năm 2008.[60]

Sau khi Herman Van Rompuy được bổ nhiệm làm Chủ tịch Hội đồng châu Âu vào năm 2009, ông đề xuất được từ chức vào ngày 25 tháng 11 năm 2009. Ngay sau đó, chính phủ mới dưới quyền Thủ tướng Yves Leterme tuyên thệ. Đến ngày 22 tháng 4 năm 2010, Leterme lại đề xuất với quốc vương cho nội các của ông từ chức[61] sau khi một đối tác là OpenVLD rút khỏi chính phủ, và được quốc vương chính thức chấp thuận vào ngày 26 tháng 4.[62]

Bỉ tổ chức bầu cử nghị viện vào ngày 13 tháng 6 năm 2010, Đảng N-VA theo đường lối dân tộc chủ nghĩa Vlaanderen trở thành đảng lớn nhất tại Vlaanderen, còn Đảng Xã hội trở thành đảng lớn nhất tại Wallonie.[63] Cho đến tháng 12 năm 2011, Bỉ nằm dưới quyền chính phủ tạm thời của Leterme do cuộc đàm phán nhằm thành lập chính phủ mới gặp bế tắc. Đến ngày 30 tháng 3 năm 2011, Bỉ lập kỷ lục thế giới về thời gian không có chính phủ chính thức.[64] Đến tháng 12 năm 2011, chính phủ dưới quyền chính trị gia xã hội Wallonie Elio Di Rupo tuyên thệ nhậm chức.

Trong bầu cử liên bang năm năm 2014 (diễn ra đồng thời với bầu cử địa phương), kết quả là Đảng N-VA giành được nhiều cử tri hơn nữa, song liên minh cầm quyền (gồm các thế lực Dân chủ Xã hội, Tự do và Dân chủ Cơ Đốc giáo của Vlaanderen và Pháp ngữ) duy trì thế đa số vững chắc trong Nghị viện. Ngày 22 tháng 7 năm 2014, Quốc vương Philippe bổ nhiệm Charles Michel (MR) và Kris Peeters (CD&V) chỉ đạo thành lập nội các liên bang mới gồm các đảng N-VA, CD&V, Open Vld của Vlaanderen và MR của cộng đồng Pháp ngữ. Đây là lần đầu tiên N-VA nằm trong nội các liên bang, còn phía Pháp ngữ chỉ có MR là đại diện dù đảng này chiếm thế thiểu số tại Wallonie.

Cộng đồng và vùng

Communities of Belgium
Các cộng đồng:
  Cộng đồng Vlaanderen / khu vực tiếng Hà Lan
  Cộng đồng Vlaanderen & Pháp / khu vực song ngữ
  Cộng đồng nói tiếng Pháp / khu vực nói tiếng Pháp
  Cộng đồng nói tiếng Đức / khu vực nói tiếng Đức
Regions of Belgium
Vùng:
  Vùng Vlaanderen / khu vực tiếng Hà Lan
  Bruxelles-Vùng thủ đô / khu vực song ngữ
  Vùng Wallonie / các khu vực tiếng Pháp và Đức

Theo một tập quán có thể truy nguồn gốc từ thời các triều đình Bourgogne và Habsburg,[65] trong thế kỷ XIX, cần phải biết tiếng Pháp nếu muốn thuộc về tầng lớp thượng lưu cai trị, và những người chỉ có thể nói tiếng Hà Lan trên thực tế là những công dân hạng hai.[66] Đến cuối thế kỷ XIX, và tiếp tục sang thế kỷ XX, các phong trào Vlaanderen tiến triển nhằm phản đối tình trạng này.[67]

Cư dân miền nam Bỉ nói tiếng Pháp hoặc các phương ngữ của tiếng Pháp, và hầu hết cư dân Bruxelles tiếp nhận tiếng Pháp làm ngôn ngữ thứ nhất của họ, song người Vlaanderen từ chối làm như vậy và từng bước thành công trong việc đưa tiếng Hà Lan trở thành một ngôn ngữ bình đẳng trong hệ thống giáo dục.[67] Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chính trường Bỉ ngày càng chịu sự chi phối bởi quyền tự trị của hai cộng đồng ngôn ngữ chính.[68] Xung đột giữa các cộng đồng nổi lên và hiến pháp được sửa đổi nhằm giảm thiểu tiềm năng xung đột.[68]

Dựa trên bốn khu vực ngôn ngữ được xác định vào năm 1962–63 (tiếng Hà Lan, song ngữ, tiếng Pháp, tiếng Đức), hiến pháp quốc gia liên tục được sửa lại vào năm 1970, 1980, 1988 và 1993 nhằm tạo thành một hình thức nhà nước liên bang độc nhất với quyền lực chính trị tách biệt thành ba cấp:[69][70]

  1. Chính phủ liên bang đặt tại Bruxelles.
  2. Ba cộng đồng ngôn ngữ:
  3. Ba vùng:

Các khu vực ngôn ngữ theo hiến pháp sẽ xác định ngôn ngữ chính thức trong các khu tự quản của họ, cũng như giới hạn địa lý của các thể chế được cấp quyền về các công việc cụ thể.[71] Mặc dù điều này cho phép có bảy nghị viện và chính phủ, song khi các cộng đồng và vùng được hình thành vào năm 1980, các chính trị gia Vlaanderen quyết định sáp nhập cả hai.[72] Do đó người Vlaanderen chỉ có một thể chế cơ quan và chính phủ duy nhất được cấp quyền trong toàn bộ các vấn đề theo thẩm quyền.

Biên giới chồng chéo của các vùng và cộng đồng tạo ra hai nơi đặc biệt: Lãnh thổ Bruxelles-Vùng thủ đô (tồn tại sau các vùng khác gần một thập niên) thuộc cả hai cộng đồng Vlaanderen và Pháp, còn lãnh thổ của Cộng đồng nói tiếng Đức hoàn toàn nằm trong Vùng Wallonie. Xung đột về thẩm quyền giữa các thể chế được giải quyết thông qua Toà án Hiến pháp Bỉ. Cấu trúc được dự tính là một thoả hiệp nhằm cho phép các nền văn hoá khác biệt cùng tồn tại hoà bình.[11]

Phân cấp thẩm quyền

Thẩm quyền của liên bang gồm có tư pháp, phòng thủ, cảnh sát liên bang, an sinh xã hội, năng lượng hạt nhân, chính sách tiền tệ và nợ công, và các khía cạnh khác của tài chính công. Các công ty quốc hữu gồm có Tập đoàn Bưu chính Bỉ (Bpost) và Công ty Đường sắt Quốc gia Bỉ (SNCB/NMBS). Chính phủ liên bang chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của Bỉ và của các thể chế liên bang trước Liên minh châu Âu và NATO. Họ kiểm soát một bộ phận đáng kể trong y tế công cộng, nội vụ và ngoại vụ.[73] Ngân sách (không tính nợ) do chính phủ liên bang kiểm soát chiếm khoảng 50% thu nhập công khố quốc gia. Chính phủ liên bang sử dụng khoảng 12% công vụ viên.[74]

Các cộng đồng thi hành thẩm quyền trong ranh giới định lý xác định dựa theo ngôn ngữ, ban đầu chúng có định hướng là các cá nhân của một ngôn ngữ cộng đồng, gồm văn hoá (bao gồm truyền thông nghe nhìn), giáo dục và sử dụng ngôn ngữ thích hợp. Sau đó, mở rộng đến các vấn đề cá nhân ít có liên quan trực tiếp đến ngôn ngữ, gồm chính sách y tế (trị bệnh và phòng bệnh) và trợ giúp cho các cá nhân (bảo hộ thanh thiếu niên, phúc lợi xã hội, hỗ trợ gia đình hay dịch vụ giúp đỡ người nhập cư.).[75]

Các vùng có thẩm quyền trên các lĩnh vực có thể liên kết rộng rãi đến lãnh thổ của họ, gồm có kinh tế, việc làm, nông nghiệp, chính sách nước, nhà ở, công trình công cộng, năng lượng, giao thông, môi trường, quy hoạch đô thị và nông thôn, bảo tồn tự nhiên, tín dụng và ngoại thương. Họ giám sát các tỉnh, khu tự quản và các công ty công ích liên cộng đồng.[76]

Trong một số lĩnh vực, mỗi cấp lại có nhiều mức độ tiếp cận khác nhau với các vấn đề riêng biệt. Chẳng hạn như trong giáo dục, quyền tự trị của các cộng đồng không bao gồm quyền quyết định về khía cạnh bắt buộc hay được phép định ra các yêu cầu tối thiểu về trao bằng cấp, chúng vẫn là công việc của liên bang.[73] Mỗi cấp chính quyền có thể tham gia vào nghiên cứu khoa học và quan hệ quốc tế có liên hệ với quyền lực của họ. Quyền chế định các hiệp ước của chính phủ các vùng và cộng đồng tại Bỉ ở mức rộng rãi nhất so với các đơn vị liên bang trên thế giới.[77][78][79]

Ngoại giao

Do có vị trí trung tâm tại Tây Âu, trong quá khứ Bỉ nằm trên tuyến đường tiến quân của các đội quân xâm lược đến từ các láng giềng hùng mạnh. Do biên giới của Bỉ hầu như không có khả năng phòng thủ, nên quốc gia này có truyền thống về chính sách hoà giải nhằm tránh bị các cường quốc hùng mạnh lân cận thống trị. Điều đình giữa các cường quốc châu Âu chấp thuận cho thành lập nước Bỉ vào năm 1831 với điều kiện quốc gia này duy trì tính trung lập nghiêm ngặt. Chính sách trung lập của Bỉ kết thúc sau khi quốc gia này bị Đức chiếm đóng trong Chiến tranh thế giới thứ nhất. Trong những năm trước Chiến tranh thế giới thứ hai, Bỉ cố gắng trở lại chính sách trung lập, song sau đó vẫn bị Đức xâm chiếm. Năm 1948, Bỉ ký kết Hiệp ước Bruxelles với Anh, Pháp, Hà Lan và Luxembourg, và một năm sau trở thành một trong các thành viên sáng lập của Liên minh Đại Tây Dương.

Người Bỉ mạnh mẽ tán thành nhất thể hoá châu Âu, và hầu hết các khía cạnh trong chính sách ngoại giao, kinh tế và mậu dịch của quốc gia này được điều phối thông qua Liên minh châu Âu có trụ sở tại Bruxelles. Ngoài ra, Bỉ còn có trụ sở của Ủy ban châu Âu, Hội đồng Liên minh châu Âu và các phiên họp của Nghị viện châu Âu. Liên minh thuế quan hậu chiến của Bỉ với Hà Lan và Luxembourg mở đường cho việc thành lập Cộng đồng châu Âu (tiền thân của Liên minh châu Âu). Tương tự, việc bãi bỏ kiểm soát biên giới nội bộ Benelux là một hình mẫu cho Hiệp ước Schengen có quy mô rộng hơn, nhằm mục đích chính sách thị thực chung và di chuyển tự do của nhân dân qua biên giới chung. Người Bỉ nhận thức được vai trò nhỏ bé của họ trên trường quốc tế, họ tán thành mạnh mẽ củng cố nhất thể hoá kinh tế và chính trị trong Liên minh châu Âu. Bỉ tích cực tìm cách cải thiện quan hệ với các chế độ dân chủ mới tại Trung và Đông Âu thông qua các diễn đàn như OSCE, các thoả thuận liên quan của EU, và Quan hệ Đối tác vì Hoà bình của NATO.

Một đặc điểm khác thường của chủ nghĩa liên bang Bỉ là việc các cộng đồng và vùng của Bỉ duy trì các quan hệ quốc tế riêng của họ, bao gồm ký kết các hiệp ước. Do đó, có một số thể chế quốc tế Hà Lan-Vlaanderen như Liên minh tiếng Hà Lan hoặc các thể chế kiểm soát sông Scheldt, trong đó chỉ có Vlaanderen tham gia. Tương tự như vậy, chỉ có Cộng đồng người Bỉ nói tiếng Pháp tham gia Cộng đồng Pháp ngữ. Bỉ duy trì các quan hệ đặc biệt với các cựu thuộc địa của họ là Cộng hoà Dân chủ Congo, Rwanda và Burundi, song thường có sóng gió.

Quân đội

Các lực lượng vũ trang Bỉ gồm khoảng 47.000 binh sĩ tại ngũ. Năm 2010, ngân sách quốc phòng của Bỉ đạt tổng cộng 3,95 tỉ euro (chiếm 1,12% GDP).[80] Họ được tổ chức thành một cấu trúc thống nhất gồm bốn thành phần: Lục quân, Không quân, Hải quân và Quân y. Quyền chỉ huy điều hành bốn binh chủng thuộc về Bộ tham mưu về hành quân và huấn luyện thuộc Bộ Quốc phòng, đứng đầu là Phó tham mưu trưởng hành quân và huấn luyện, và thuộc về Tổng tư lệnh Quốc phòng (Chef de la Défense).[81]

Ảnh hưởng từ Chiến tranh thế giới thứ hai khiến cho an ninh tập thể là một ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Bỉ. Bỉ ký kết Hiệp ước Bruxelles và gia nhập NATO vào năm 1948. Tuy nhiên, công việc nhất thể hoá lực lượng vũ trang vào NATO chỉ bắt đầu từ sau Chiến tranh Triều Tiên.[82] Bỉ cùng với Luxembourg phái một phân đội tiểu đoàn đi chiến đấu tại Triều Tiên với tên gọi là Bộ tư lệnh Liên Hiệp Quốc Bỉ. Đây là sứ mệnh đầu tiên trong số các sứ mệnh của Liên Hiệp Quốc được Bỉ hỗ trợ. Hiện nay, Hải quân Bỉ hoạt động gắn bó mật thiết với Hải quân Hà Lan theo quyền chỉ huy của Đô đốc Benelux.

Kinh tế

Bruegge huidenvettersplein
Trung tâm lịch sử của thành phố Brugge là một di sản thế giới UNESCO

Nền kinh tế có tính toàn cầu mạnh mẽ[83] và hạ tầng giao thông của Bỉ được tích hợp với phần còn lại của châu Âu. Bỉ có vị trí nằm tại trung tâm của một khu vực công nghiệp hoá cao độ, giúp quốc gia này đứng thứ 15 thế giới về xuất nhập khẩu vào năm 2007.[84][85] Kinh tế Bỉ có đặc điểm là lực lượng lao động năng suất cao, tổng sản lượng quốc gia (GNP) cao và xuất khẩu bình quân ở mức cao.[86] Các mặt hàng nhập khẩu chính của Bỉ là nguyên liệu thô, máy móc và thiết bị, hoá chất, kim cương thô, dược phẩm, thực phẩm, thiết bị giao thông và sản phẩm dầu. Các mặt hàng xuất khẩu chính của Bỉ là máy móc và thiết bị, hoá chất, kim cương gia công, kim loại và các sản phẩm kim loại, cùng thực phẩm.[30]

Kinh tế Bỉ có định hướng dịch vụ mạnh mẽ, và thể hiện tính chất kép: Kinh tế Vlaanderen năng động còn kinh tế Wallonie bị tụt hậu.[11][87] Với tư cách là một thành viên sáng lập của Liên minh châu Âu, Bỉ ủng hộ mạnh mẽ đối với kinh tế mở và mở rộng quyền lực của các thể chế EU nhằm tích hợp các nền kinh tế thành viên. Từ năm 1922, thông qua Liên minh Kinh tế Bỉ-Luxembourg, Bỉ và Luxembourg có một thị trường mậu dịch duy nhất với liên minh thuế quan và tiền tệ.[88]

Bỉ là quốc gia đầu tiên tại châu Âu lục địa trải qua cách mạng công nghiệp, đó là vào đầu thế kỷ XIX.[89] LiègeCharleroi nhanh chóng phát triển ngành khai mỏ và sản xuất thép, các ngành này phát đạt cho đến giữa thế kỷ XX tại thung lũng sông Sambre và Meuse và khiến Bỉ nằm trong nhóm ba quốc gia có mức độ công nghiệp hoá lớn nhất trên thế giới từ năm 1830 đến năm 1910.[90][91] Tuy nhiên, đến thập niên 1840 thì ngành dệt của Vlaanderen lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng, và vùng này trải qua nạn đói từ năm 1846 đến năm 1850.[92][93]

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, các ngành hoá chất và dầu mỏ được mở rộng nhanh chóng tại GentAntwerpen. Các cuộc khủng hoảng dầu mỏ vào năm 1973 và 1979 khiến kinh tế lâm vào một cuộc suy thoái; giai đoạn này đặc biệt kéo dài tại Wallonie, ngành thép trong vùng này trở nên kém cạnh tranh và phải trải qua sụt giảm nghiêm trọng.[94] Trong các thập niên 1980 và 1990, trung tâm kinh tế của quốc gia tiếp tục chuyển về phía bắc và hiện tập trung tại khu vực Kim cương Vlaanderen (Vlaamse Ruit) đông dân.[95]

Ougrée Cokerie
Sản xuất thép dọc sông Meuse tại Ougrée, gần Liège

Đến cuối thập niên 1980, các chính sách kinh tế vĩ mô của Bỉ dẫn đến nợ chính phủ luỹ tích đạt khoảng 120% GDP. Năm 2006, ngân sách được cân bằng và nợ công ngang với 90,3% GDP.[96] Năm 2005 và 2006, mức tăng trưởng GDP thực lần lượt là 1,5% và 3,0%, cao hơn một chút khu vực đồng euro. Tỷ lệ thất nghiệp là 8,4% vào năm 2005 và 8,2% vào năm 2016, gần với trung bình khu vực. Đến tháng 10 năm 2010, tỷ lệ này tăng lên 8,5% trong khi mức trung bình của Liên minh châu Âu là 9,6%.[97][98] Từ năm 1832 đến năm 2002, đơn vị tiền tệ của Bỉ là franc Bỉ. Bỉ chuyển sang dùng đồng euro vào năm 2002.

Mặc dù suy giảm 18% từ năm 1970 đến năm 1999, song vào năm 1999 Bỉ vẫn có mạng lưới đường sắt dày đặc nhất trong Liên minh châu Âu với 11,38 km/1.000 km². Mặt khác, trong cùng giai đoạn này có sự phát triển lớn (+56%) về mạng lưới xa lộ. Năm 1999, Bỉ có 55,1 km xa lộ mỗi 1.000 km² và 16,5 km xa lộ mỗi 1.000 cư dân, cao hơn đáng kể các mức trung bình của Liên minh châu Âu là 13,7 và 15,9.[99]

Giao thông tại một số nơi tại Bỉ nằm vào hàng đông đúc nhất tại châu Âu. Vào năm 2010, người đến làm việc hàng ngày tại các thành phố Bruxelles và Antwerpen lần lượt phải mất 65 và 64 tiếng mỗi năm do tắc đường.[100] Giống như hầu hết các quốc gia nhỏ khác tại châu Âu, có trên 80% giao thông hàng không tại Bỉ là thông qua một sân bay duy nhất, sân bay Bruxelles. Các cảng Antwerpen và Zeebrugge (Brugge)]] chiếm hơn 80% giao thông hàng hải của Bỉ, Antwerpen là bến cảng lớn thứ nhì tại châu Âu với tổng khối lượng hàng hoá xử lý là 115.988.000 tấn vào năm 2000 sau khi tăng trưởng 10,9% trong suốt 5 năm trước đó.[99][101] Năm 2016, cảng Antwerpen xử lý 214 triệu tấn hàng hoá, tăng trưởng 2,7% so với năm trước.[102]

Tồn tại cách biệt lớn về kinh tế giữa Vlaanderen và Wallonie. Wallonie trong quá khứ từng thịnh vượng hơn so với Vlaanderen, hầu hết là do có các ngành công nghiệp nặng, song việc ngành thép sụt giảm sau Chiến tranh thế giới thứ hai khiến vùng này suy thoái nhanh chóng, trong khi Vlaanderen thì nổi lên nhanh chóng. Từ đó, Vlaanderen có kinh tế thịnh vượng, nằm trong các vùng giàu nhất châu Âu, trong khi Wallonie thì tiêu điều. Năm 2007, tỷ lệ thất nghiệp của Wallonie cao gấp đôi so với Vlaanderen. Phân chia này góp một phần quan trọng trong căng thẳng giữa hai vùng bên cạnh phân chia ngôn ngữ vốn có. Các phong trào ủng hộ độc lập giành được mức ủng hộ cao tại Vlaanderen là một kết quả của tình trạng này. Liên minh Vlaanderen Mới (N-VA) theo chủ nghĩa phân lập trở thành chính đảng lớn nhất tại Vlaanderen.[103][104][105]

Khoa học và kỹ thuật

Trong tiến trình lịch sử quốc gia, Bỉ luôn có các đóng góp cho sự phát triển của khoa học và kỹ thuật. Tây Âu trong thế kỷ XVI thời cận đại có bước phát triển mạnh về khoa học, trong đó Bỉ có nhà bản đồ học Gerardus Mercator, nhà giải phẫu học Andreas Vesalius, nhà y học thảo dược Rembert Dodoens[106][107][108][109] và nhà toán học Simon Stevin cùng các nhà khoa học nổi tiếng khác.[110]

Nhà hoá học Ernest Solvay[111] và kỹ sư Zenobe Gramme (École Industrielle de Liège)[112] lần lượt được đặt tên cho phương pháp Solvay và máy phát điện Gramme trong thập niên 1860. Bakelit được phát triển vào năm 1907–1909 bởi Leo Baekeland. Ernest Solvay cũng đóng vai trò là một nhà nhân đạo lớn và được đặt tên cho Viện Xã hội học Solvay, Trường Kinh tế và Quản trị Solvay Bruxelles, và Viện Vật lý và Hoá học Solvay Quốc tế, nay thuộc Đại học Tự do Bruxelles. Năm 1911, ông khởi đầu một loạt hội nghị, gọi là các hội nghị Solvay về vật lý và hoá học, chúng có tác động sâu sắc đến tiến triển của vật lý và hoá học lượng tử.[113] Một người Bỉ khác cũng có đóng góp lớn cho khoa học cơ bản là Georges Lemaître (Đại học Công giáo Leuven), ông có danh tiếng nhờ đề xuất thuyết Big Bang về nguồn gốc của vũ trụ vào năm 1927.[114]

Có ba cá nhân Bỉ từng được nhận giải Nobel về sinh lý học và y học, đó là Jules Bordet (Đại học Tự do Bruxelles) vào năm 1919, Corneille Heymans (Đại học Gent) vào năm 1938 và Albert Claude (Đại học Tự do Bruxelles) cùng với Christian de Duve (Đại học Công giáo Louvain) vào năm 1974. François Englert (Đại học Tự do Bruxelles) được trao giải Nobel vật lý vào năm 2013. Ilya Prigogine (Đại học Tự do Bruxelles) được trao giải Nobel hoá học vào năm 1977.[115] Hai nhà toán học Bỉ từng được được trao Huy chương Fields: Pierre Deligne vào năm 1978 và Jean Bourgain vào năm 1994.[116][117]

Nhân khẩu

00 Bruxelles - Mont des Arts
Bruxelles là thành phố thủ đô và vùng đô thị lớn nhất tại Bỉ

Tính đến ngày 1 tháng 1 năm 2015, tổng dân số Bỉ theo đăng ký dân số là 11.190.845.[1] Hầu như toàn bộ dân chúng sống trong đô thị, đạt 97% vào năm 2004.[118] Mật độ dân số của Bỉ là 365 người/km² tính đến tháng 3 năm 2013. Vlaanderen có mật độ dày đặc nhất.[119] Còn vùng đồi núi Ardenne có mật độ thấp nhất. Tính đến ngày 1 tháng 1 năm 2015, vùng Vlaanderen có dân số là 6.437.680, các thành phố lớn nhất trong vùng là Antwerpen (511.771), Gent (252.274) và Brugge (117.787). Wallonie có 3.585.214 người, các thành phố lớn nhất là Charleroi (202.021), Liège (194.937) và Namur (110.447). Bruxelles có 1.167.951 cư dân tại 19 khu tự quản của Vùng Thủ đô, ba trong số đó có trên 100.000 cư dân.[1]

Tính đến năm 2011, 89% cư dân là công dân Bỉ.[120] Tính đến năm 2007, công dân các thành viên Liên minh châu Âu khác chiếm khoảng 6% dân số Bỉ. Các cộng đồng ngoại kiều đông đảo nhất lần lượt là người Ý, người Pháp, người Hà Lan, người Maroc, người Bồ Đào Nha, người Tây Ban Nha, người Thổ Nhĩ Kỳ và người Đức.[121][122] Năm 2007, Bỉ có 1,38 triệu cư dân sinh tại ngoại quốc, chiếm 12,9% dân số. Trong đó, 685.000 (6,4%) sinh bên ngoài Liên minh châu Âu và 695.000 (6,5%) sinh tại các quốc gia thành viên EU khác.[123][124]

Đầu năm 2012, cư dân có xuất thân ngoại quốc cùng các hậu duệ của họ được ước tính chiếm khoảng 25% tổng dân số, tức có 2,8 triệu người Bỉ mới.[125] Trong số người Bỉ mới này, 1,2 triệu có nguồn gốc châu Âu và 1,35 triệu[126] có nguồn gốc từ bên ngoài phương Tây (hầu hết là từ Maroc, Thổ Nhĩ Kỳ, Cộng hoà Dân chủ Congo). Từ khi luật quốc tịch Bỉ được sửa đổi vào năm 1984, đã có trên 1,3 triệu người nhập cư nhận được quyền công dân Bỉ. Nhóm người nhập cư cùng hậu duệ đông đảo nhất tại Bỉ là người Maroc.[127] 89,2% số cư dân có nguồn gốc Thổ Nhĩ Kỳ đã nhập tịch, tỷ lệ của người gốc Maroc là 88,4%, của người Ý là 75,4%, của người Pháp là 56.2% và của người Hà Lan là 47,8% theo số liệu năm 2012.[126]

Khu đô thị chức năng[128] Dân số
2011
Bruxelles 2.608.000
Antwerpen 1.091.000
Liège 744.000
Gent 591,000
Charleroi 488.000

Ngôn ngữ

Brussels signs
Biển báo song ngữ tại Bruxelles

Bỉ có ba ngôn ngữ chính thức là tiếng Hà Lan, tiếng Pháp và tiếng Đức, ngoài ra một số ngôn ngữ thiểu số phi chính thức cũng được nói tại đây.[129] Không có số liệu thống kê chính thức về phân bố hoặc sử dụng ba ngôn ngữ chính thức hoặc các phương ngữ của chúng.[130] Tuy nhiên, các tiêu chuẩn như ngôn ngữ của cha mẹ, của giáo dục, hoặc tình trạng ngôn ngữ thứ hai của người sinh tại nước ngoài có thể đưa đến các con số giả thuyết. Một ước tính cho rằng 60% dân số Bỉ nói tiếng Hà Lan (thường gọi là tiếng Vlaanderen), và 40% nói tiếng Pháp. Người Bỉ nói tiếng Pháp thường được gọi là người Wallonie, song người nói tiếng Pháp tại Bruxelles không phải người Wallonie.

Tổng số người nói tiếng Hà Lan là hơn 6,2 triệu, tập trung tại vùng Vlaanderen miền bắc, còn người nói tiếng Pháp có hơn 3,3 triệu tại Wallonie và ước tính có 870.000 (chiếm 85%) tại Bruxelles-Vùng thủ đô.[131] Cộng đồng nói tiếng Đức gồm 73.000 người tại phía đông của vùng Wallonie; với khoảng 10.000 người Đức và 60.000 công dân Bỉ nói tiếng Đức. Có khoảng 23.000 người nói tiếng Đức nữa sống trong các khu tự quản gần ranh giới chính thức của cộng đồng này.[8][132][133][134]

Tiếng Hà Lan-Bỉ và tiếng Pháp-Bỉ đều có khác biệt nhỏ về từ vựng và sắc thái ngữ nghĩa với các dạng được nói tại Hà Lan và Pháp. Nhiều người Vlaanderen vẫn nói các phương ngữ của tiếng Hà Lan trong môi trường địa phương của họ. Tiếng Wallon được nhìn nhận là một phương ngữ của tiếng Pháp hoặc là một ngôn ngữ Roman riêng biệt,[135] song hiện nay chỉ thỉnh thoảng được hiểu và nói, hầu hết là trong nhóm người cao tuổi. Tiếng Walloon là tên gọi chung cho bốn phương ngữ tiếng Pháp tại Bỉ. Các phương ngữ của tiếng Wallonie, cùng với các phương ngữ của tiếng Picard,[136] không được sử dụng trong đời sống công cộng và đã bị tiếng Pháp thay thế.

Tôn giáo

Basilica of the Sacred Heart-2
Vương cung thánh đường Thánh Tâm tại Koekelberg, Bruxelles
Circle frame.svg

Tôn giáo tại Bỉ (2015)[137]

  Công giáo Roma (52.9%)
  Tin Lành (2.1%)
  Chính thống giáo (1.6%)
  Các hệ phái Kitô giáo khác (4.1%)
  Bất khả tri/Không tôn giáo (17.1%)
  Vô thần (14.9%)
  Hồi giáo (5.2%)
  Khác (2.1%)

Từ khi Bỉ độc lập, Công giáo La Mã giữ thế cân bằng với các phong trào tự do tư tưởng mạnh, và có được một vai trò quan trọng trong nền chính trị Bỉ. Tuy nhiên, Bỉ là một quốc gia thế tục ở mức độ lớn do hiến pháp thế tục quy định tự do tôn giáo, và chính phủ nói chung đều tôn trọng quyền này trong thực tiễn. Dưới thời trị vì của Albert IBaudouin, quân chủ Bỉ có danh tiếng vì sùng bái Công giáo.[138]

Công giáo La Mã có truyền thống là tôn giáo đa số tại Bỉ; đặc biệt mạnh mẽ tại Vlaanderen. Tuy nhiên, tỷ lệ dự lễ nhà thờ ngày Chủ nhật vào năm 2009 chỉ là 5% trên toàn quốc; riêng Bruxelles là 3%,[139] còn Vlaanderen là 5,4%. Mức dự lễ nhà thờ năm 2009 tại Bỉ bằng khoảng một nửa so với mức năm 1998 (11%).[140] Mặc dù mức dự lễ nhà thờ giảm sút, song bản sắc Công giáo vẫn là một phần quan trọng trong văn hoá Bỉ.[138]

Theo Eurobarometer 2010,[141] 37% công dân Bỉ cho biết rằng họ tin có Thượng đế, 31% tin rằng có một số loại linh hồn hoặc lực sống, 27% không tin rằng có bất kỳ loại linh hồn nào, cũng như Thượng đế hay lực sống nào. Theo Eurobarometer 2015, 60,7% tổng dân số Bỉ trung thành với Cơ Đốc giáo, trong đó Công giáo La Mã là giáo phái lớn nhất với 52,9%, Tin Lành chiếm 2,1% còn Chính thống giáo là 1,6%. Lượng người không theo tôn giáo nào chiếm 32% dân số và gồm người theo thuyết vô thần (14,9%) và thuyết bất khả tri (17.1%). 5,2% dân số là người Hồi giáo và 2,1% tin vào các tôn giáo khác.[137] Một khảo sát tương tự vào năm 2012 cho thấy rằng Cơ Đốc giáo là tôn giáo lớn nhất tại Bỉ, với 65% dân số là tín đồ.[142]

Về mặt tượng trưng cũng như hữu hình, Giáo hội Công giáo La Mã vẫn có một vị trí thuận lợi.[138] Bỉ công nhận chính thức ba tôn giáo: Cơ Đốc giáo (Công giáo, Tin Lành, Chính thống giáo và Anh giáo), Hồi giáo và Do Thái giáo.[143]

Vào đầu thập niên 2000, có khoảng 42.000 người Do Thái tại Bỉ. Cộng đồng người Do Thái tại Antwerpen (khoảng 18.000 người) là một trong các cộng đồng lớn nhất tại châu Âu, và là một trong những cộng đồng lớn cuối cùng trên thế giới có ngôn ngữ chính là tiếng Yiddish. Hầu hết trẻ em Do Thái tại Antwerpen tiếp nhận một chương trình giáo dục Do Thái.[144] Có một vài tờ báo Do Thái và hơn 45 thánh đường Do Thái hoạt động trên toàn quốc (30 trong số này là tại Antwerpen).

Một cuộc điều tra vào năm 2006 tại Vlaanderen, là vùng được cho là sùng đạo hơn so với Wallonie, cho thấy rằng 55% nhận mình theo tôn giáo và 36% tin rằng Thượng đế tạo ra vũ trụ.[145] Mặt khác, Wallonie trở thành một trong các vùng thế tục nhất/ít sùng đạo nhất tại châu Âu, hầu hết cư dân của vùng nói tiếng Pháp không cho rằng tôn giáo là một phần quan trọng trong cuộc đời họ, và có đến 45% dân số nhận rằng họ không theo tôn giáo. Điều này đặc biệt chính xác tại miền đông Wallonie và các khu vực dọc biên giới với Pháp.

Một ước tính vào năm 2008 cho thấy rằng khoảng 6% dân số Bỉ (628.751 người) là người Hồi giáo.[146] Người Hồi giáo chiếm 23,6% dân số tại Bruxelles, 4,9% dân số Wallonie và 5,1% dân số Vlaanderen. Đa số người Hồi giáo tại Bỉ sống trong các thành phố lớn như Antwerpen, Bruxelles và Charleroi. Nhóm người nhập cư lớn nhất tại Bỉ là người Maroc, còn người Thổ Nhĩ Kỳ là nhóm Hồi giáo lớn thứ nhì.[147][148]

Y tế

Người Bỉ có sức khoẻ tốt, theo ước tính năm 2012 thì tuổi thọ dự tính trung bình của họ là 79,65 năm.[30] Từ năm 1960, tuổi thọ dự tính của người Bỉ tăng lên hai tháng mỗi năm, giống với trung bình của châu Âu. Tử vong tại Bỉ chủ yếu là do rối loạn tim mạch, ung thư, rối loạn hệ thống hô hấp và các nguyên nhân phi tự nhiên (tai nạn, tự vẫn). Các nguyên nhân tử vong phi tự nhiên và ung thư là các nguyên nhân tử vong phổ biến nhất đối với nữ giới từ 24 tuổi trở xuống và nam giới từ 44 tuổi trở xuống.[149]

Y tế tại Bỉ được tài trợ thông qua đóng góp an sinh xã hội và thuế. Bảo hiểm y tế có tính chất bắt buộc. Dịch vụ y tế được đáp ứng bởi một hệ thống hỗn hợp công lập và tư nhân gồm các thầy thuốc độc lập, các bệnh viện công lập, đại học và bán tư nhân. Bệnh nhân phải thanh toán cho dịch vụ y tế, sau đó sẽ được các thể chế bảo hiểm y tế hoàn trả, song với các hạng mục không đủ tiêu chuẩn (của bệnh nhân và dịch vụ) thì sẽ tồn tại cái gọi là hệ thống thanh toán bên thứ ba.[149] Hệ thống y tế Bỉ được chính phủ liên bang, chính phủ cấp vùng Vlaanderen và Wallonie giám sát và tài trợ; Cộng đồng nói tiếng Đức cũng giám sát và chịu trách nhiệm gián tiếp.[149]

Giáo dục

Giáo dục tại Bỉ có tính chất nghĩa vụ đối với người từ 6 đến 18 tuổi.[150] Trong số các quốc gia OECD vào năm 2002, Bỉ có tỷ lệ cao thứ ba về số người từ 18 đến 21 tuổi nhập học tại bậc giáo dục sau trung học, với 42%.[151] Mặc dù theo ước tính có 99% dân số trưởng thành Bỉ biết chữ, song có lo ngại gia tăng về vấn đề mù chữ chức năng.[136][152] Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA), phối hợp với OECD, vào năm 2016 xếp hạng giáo dục Bỉ tốt thứ 19 trên thế giới, cao hơn đáng kể mức trung bình của OECD.[153] Giáo dục được tổ chức riêng biệt bởi mỗi cộng đồng, Cộng đồng Vlaanderen có thành tích giáo dục cao hơn đáng kể so với các Cộng đồng Pháp và Cộng đồng nói tiếng Đức.[154]

Phán ánh cấu trúc kép của bối cảnh chính trị Bỉ trong thế kỷ XIX, do các đảng Tự Do và Công giáo xác định đặc điểm, hệ thống giáo dục Bỉ được tách biệt trong một phân đoạn thế tục và một phân đoạn tôn giáo. Nhánh giáo dục thế tục nằm dưới quyền kiểm soát của các cộng đồng, các tỉnh hay các khu tự quản; còn nhánh giáo dục tôn giáo, chủ yếu là Công giáo, được tổ chức bởi giới chức tôn giáo, song được các cộng đồng trợ cấp và giám sát.[155]

Văn hoá

Các phong trào nghệ thuật lớn từng có bước phát triển mạnh mẽ tại khu vực nay là Bỉ, tạo được ảnh hưởng to lớn đến nghệ thuật và văn hoá của châu Âu, bất chấp việc tại đây có phân chia về chính trị và ngôn ngữ. Hiện nay, trên một phạm vi nhất định, sinh hoạt văn hoá được tập trung trong mỗi cộng đồng ngôn ngữ, và nhiều rào cản khiến cho không gian văn hoá chung ít được thể hiện.[11][156][157] Kể từ thập niên 1970, không còn các đại học hoặc cao đẳng song ngữ tại Bỉ, ngoại lệ là Học viện Quân sự Hoàng gia và Học viện Hàng hải Antwerpen, và cũng không có cơ quan truyền thông chung[158] không có tổ chức đơn lẻ quy mô lớn nào về văn hoá hay khoa học chung giữa các cộng đồng lớn.[159]

Nghệ thuật

Eyck.hubert.lamb.750pix
Het Lam Gods vẽ năm 1432 của van Eyck

Bỉ có đóng góp đặc biệt phong phú cho hội họa và kiến trúc. Nghệ thuật Mosa, hội họa sơ kỳ Vlaanderen,[160] Phục hưng Vlaanderen và Baroque[161] và các điển hình về Kiến trúc Roman, Gothic, RenaissanceBaroque là những dấu mốc trong lịch sử nghệ thuật. Nghệ thuật tại Các vùng đất thấp vào thế kỷ XV chịu sự chi phối từ hội họa tôn giáo của Jan van EyckRogier van der Weyden, đến thế kỷ XVI thì có đặc điểm là đa dạng hơn về phong cách như tranh phong cảnh của Pieter Bruegel còn Lambert Lombard tiêu biểu cho phong cách cổ điển.[162] Phong cách Baroque của Peter Paul RubensAnthony van Dyck thăng hoa vào đầu thế kỷ XVII tại miền nam Nederland,[163] song về sau dần bị suy thoái.[164][165]

Trong thế kỷ XIX và XX, nhiều họa sĩ lãng mạn, biểu hiệnsiêu thực của Bỉ nổi lên, như James Ensor và các nghệ sĩ khác thuộc nhóm Les XX, Constant Permeke, Paul Delvaux và René Magritte. Phong trào CoBrA có tính tiên phong xuất hiện trong thập niên 1950, còn nhà điêu khắc Panamarenko vẫn là một nhân vật xuất sắc của nghệ thuật đương đại.[166][167] Các nghệ sĩ đa lĩnh vực Jan Fabre, Wim Delvoye và Luc Tuymans là các nhân vật nổi tiếng quốc tế khác trong lĩnh vực nghệ thuật đương đại.

Đóng góp của Bỉ cho kiến trúc tiếp tục trong thế kỷ XIX và XX, bao gồm các công trình của Victor Horta và Henry van de Velde, họ là những người khởi xướng chính của phong cách Art Nouveau.[168][169]

Thanh nhạc thuộc trường phái Pháp-Vlaanderen phát triển tại phần phía nam của Các vùng đất thấp và là một đóng góp quan trọng cho văn hoá Phục hưng.[170] Vào thế kỷ XIX và XX, xuất hiện các nghệ sĩ vĩ cầm lớn như Henri Vieuxtemps, Eugène Ysaÿe và Arthur Grumiaux, trong khi Adolphe Sax phát minh saxophone vào năm 1846. Nhà soạn nhạc César Franck sinh tại Liège vào năm 1822. Âm nhạc đại chúng đương đại tại Bỉ cũng có danh tiếng. Nhạc sĩ Jazz Toots Thielemans và ca sĩ Jacques Brel có được danh tiếng toàn cầu. Ngày nay, ca sĩ Stromae là một ngôi sao âm nhạc tại châu Âu và thế giới, có được thành công lớn. Trong thể loại nhạc rock/pop, Telex, Front 242, K's Choice, Hooverphonic, Zap Mama, Soulwax và dEUS cũng nổi tiếng. Trong sân khấu heavy metal, các ban nhạc như Machiavel, Channel Zero và Enthroned có người hâm mộ trên toàn cầu.[171]

Bỉ sản sinh một số tác giả nổi tiếng, như các nhà thơ Emile Verhaeren, Robert Goffin và các nhà tiểu thuyết Hendrik Conscience, Georges Simenon, Suzanne Lilar, Hugo Claus và Amélie Nothomb. Nhà thơ và biên kịch Maurice Maeterlinck thắng giải Nobel văn học vào năm 1911. Những cuộc phiêu lưu của Tintin của Hergé là tác phẩm nổi tiếng nhất của truyện tranh Pháp-Bỉ, song còn có nhiều tác giả lớn khác như Peyo (Xì Trum), André Franquin (Gaston Lagaffe), Dupa (Cubitus), Morris (Lucky Luke), Greg (Achille Talon), Lambil (Les Tuniques Bleues), Edgar P. Jacobs và Willy Vandersteen, khiến ngành truyện tranh của Bỉ giành được tiếng tăm trên thế giới.[172]

Điện ảnh Bỉ đã đưa một số tiểu thuyết Vlaanderen lên màn ảnh rộng. Các đạo diễn Bỉ phải kể đến là André Delvaux, Stijn Coninx, Luc và Jean-Pierre Dardenne; các diễn viên nổi tiếng là Jean-Claude Van Damme, Jan Decleir và Marie Gillain; các bộ phim thành công gồm có Rundskop, C'est arrivé près de chez vousDe Zaak Alzheimer.[173] Trong thập niên 1980, Viện hàn lâm Mỹ thuật Hoàng gia tại Antwerpen sản sinh những người tiên phong quan trọng về thời trang, gọi là Antwerpen Sáu.[174]

Dân gian

Binche - Les Gilles
Gilles tại Binche mang mặt nạ sáp theo phong tục

Văn hoá dân gian có vị thế lớn trong đời sống văn hoá Bỉ, quốc gia này có một số lượng tương đối cao các đám rước, đoàn cưỡi ngựa, cuộc diễu hành, 'ommegangs' và 'ducasses', 'kermesse' và các lễ hội địa phương khác, chúng gần như luôn có nguồn gốc tôn giáo hoặc thần thoại. Carnival Binche cùng với các Gilles nổi tiếng của lễ hội này; và những người khổng lồ và rồng trong đám rước tại Ath, Bruxelles, Dendermonde, MechelenMons được UNESCO công nhận là kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại.[175]

Các điển hành khác là Carnival Aalst; các đám rước vẫn còn mang tính sùng đạo rất cao mang tên Thánh Huyết (Heilig Bloedprocessie) tại Brugge, Vương cung thánh đường Virga Jesse tại Hasselt và Vương cung thánh đường Đức mẹ Hanswijk tại Mechelen; lễ hội ngày 15 tháng 8 tại Liège; và lễ hội Walloon tại Namur. Có nguồn gốc từ năm 1832 và được phục dựng trong thập niên 1960, Gentse Feesten đã trở thành một truyền thống hiện đại. Một ngày lễ phi chính thức quan trọng là ngày Thánh Nicholas, đây là một ngày hội cho trẻ em, còn tại Liège là cho sinh viên.[176]

Ẩm thực

Moules Frites
Moules-frites là món ăn quốc gia của Bỉ

Nhiều nhà hàng Bỉ được xếp hạng cao được xuất hiện trong các sách chỉ dẫn nhà hàng có ảnh hưởng nhất như sách Michelin Guide.[177] Bỉ nổi tiếng với bia, sô-cô-la, waffelkhoai tây chiên với mayonnaise. Khoai tây chiên có nguồn gốc tại Bỉ, song không rõ địa điểm chính xác. Các món ăn quốc gia là "thịt nướng và khoai tây chiên với salad", và "trai với khoai tây chiên".[178][179][180]

Các nhãn hiệu sô-cô-la và kẹo nhân quả của Bỉ như Côte d'Or, Neuhaus, Leonidas và Godiva có được danh tiếng, cũng như các nhà sản xuất độc lập như Burie và Del Rey tại Antwerpen và Mary's tại Bruxelles.[181] Bỉ sản xuất trên 1.100 loại bia khác nhau.[182][183] Bia Trappist (tu sự dòng Luyện tâm) của Tu viện Westvleteren nhiều lần được xếp hạng là bia tuyệt nhất thế giới.[184][185][186] Hãng rượu bia lớn nhất thế giới xét về dung tích là Anheuser-Busch InBev, có trụ sở tại Leuven.[187]

Thể thao

Eddy Merckx Molteni 1973
Eddy Merckx được xem là một trong các tay đua xe đạp vĩ đại nhất mọi thời đại

Kể từ thập niên 1970, các câu lạc bộ và liên đoàn thể thao tại Bỉ được tổ chức riêng biệt trong mỗi cộng đồng ngôn ngữ.[188] Bóng đá là môn thể thao phổ biến nhất trên toàn nước Bỉ; các môn thể thao rất phổ biến khác là đua xe đạp, quần vợt, bơi, judo[189] và bóng rổ.[190]

Bỉ có số lượng tay đua vô địch Tour de France chỉ sau Pháp. Họ cũng có nhiều chiến thắng nhất tại giải vô địch thế giới đường trường UCI, Philippe Gilbert là nhà vô địch thế giới vào năm 2012. Một tay đua Bỉ khác đang nổi tiếng là Tom Boonen. Với năm chiến thắng tại Tour de France và nhiều thành tích đua xe đạp khác, tay đua người Bỉ Eddy Merckx được xem là một trong các tay đua vĩ đại nhất mọi thời đại.[191] Cựu thủ môn người Bỉ Jean-Marie Pfaff được nhìn nhận là một trong những thủ môn vĩ đại nhất trong lịch sử bóng đá.[192]

Bỉ từng đăng cai Giải vô địch bóng đá châu Âu 1972, và đồng đăng cai Giải vô địch bóng đá châu Âu 2000 cùng Hà Lan. Đội tuyển bóng đá quốc gia Bỉ từng đứng thứ nhất trong bảng xếp hạng của FIFA vào tháng 11 năm 2015[193] và tháng 9 năm 2018.

Kim ClijstersJustine Henin đều từng nhận được danh hiệu vận động viên của năm do Hiệp hội quần vợt nữ trao tặng, họ là những nữ vận động viên quần vợt hạng nhất. Trường đua ô tô Spa-Francorchamps tổ chức Grand Prix Bỉ thuộc giải vô địch công thức một thế giới. Tay đua Bỉ Jacky Ickx từng chiến thắng tám cuộc đua Grands Prix và sáu cuộc đua 24 Hours of Le Mans và hai lần là á quân tại giải vô địch công thức một thế giới. Bỉ cũng có nhiều tiếng tăm về đua mô tô địa hình với tay đua Stefan Everts.[194] Các sự kiện thể thao được tổ chức thường niên tại Bỉ gồm giải điền kinh Memorial Van Damme, giải Grand Prix Bỉ, một số cuộc đua xe đạp cổ điển như Ronde van Vlaanderen và Liège–Bastogne–Liège. Thế vận hội Mùa hè 1920 được tổ chức tại Antwerpen.

Ghi chú

  1. ^ Tỷ lệ chính thức của Quốc kỳ Bỉ là 13:15 (gần vuông), tuy nhiên, hiếm khi được nhìn thấy. Trong khi đó, tỷ lệ 2:3 (hình chữ nhật) lại phổ biến hơn.
  2. ^ Bruxelles là thủ đô de facto. Trong khi đó, Thành phố Bruxelles lại là thủ đô de jure của nước này.

Tham khảo

Cước chú

  1. ^ a ă â “Bevolkingscijfers per provincie en per gemeente op 1 januari 2017/Chiffres de la population par province et par commune, a la date du 1er Janvier 2017” (PDF). Statistics Belgium, Federal Public Service Economy. Ngày 21 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2017.
  2. ^ a ă â b “Belgium”. International Monetary Fund. Truy cập tháng 10 năm 2016.
  3. ^ “Human Development Report 2015” (PDF). United Nations. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2015.
  4. ^ “Gini coefficient of equivalised disposable income (source: SILC)”. Eurostat Data Explorer. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2013.
  5. ^ Haß, Torsten (ngày 17 tháng 2 năm 2003). “Rezension zu (Review of) Cook, Bernard: Belgium. A History” (bằng tiếng German). FH-Zeitung (journal of the Fachhochschule). ISBN 0-8204-5824-4. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2007. die Bezeichnung Belgiens als "the cockpit of Europe" (James Howell, 1640), die damals noch auf eine kriegerische Hahnenkampf-Arena hindeutete—The book reviewer, Haß, attributes the expression in English to James Howell in 1640. Howell's original phrase "the cockpit of Christendom" became modified afterwards, as shown by:
    *Carmont, John. “The Hydra No.1 New Series (November 1917)—Arras And Captain Satan”. War Poets Collection. Napier University's Business School. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2007. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)—and as such coined for Belgium:
    *Wood, James (1907). “Nuttall Encyclopaedia of General Knowledge—Cockpit of Europe”. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2007. Cockpit of Europe, Belgium, as the scene of so many battles between the Powers of Europe. (See also The Nuttall Encyclopaedia)
  6. ^ Leclerc, Jacques (ngày 18 tháng 1 năm 2007). “Belgique • België • Belgien—Région de Bruxelles-Capitale • Brussels Hoofdstedelijk Gewest”. L'aménagement linguistique dans le monde (bằng tiếng Pháp). Host: Trésor de la langue française au Québec (TLFQ), Université Laval, Quebec. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2007. C'est une région officiellement bilingue formant au centre du pays une enclave dans la province du Brabant flamand (Vlaams Brabant) Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
    *“About Belgium”. Belgian Federal Public Service (ministry) / Embassy of Belgium in the Republic of Korea. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2007. the Brussels-Capital Region is an enclave of 162 km2 within the Flemish region.
    *“Flanders (administrative region)”. Microsoft Encarta Online Encyclopedia. Microsoft. 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2007. The capital of Belgium, Brussels, is an enclave within Flanders.
    *McMillan, Eric (tháng 10 năm 1999). “The FIT Invasions of Mons” (PDF). Capital translator, Newsletter of the NCATA, Vol. 21, No. 7, p. 1. National Capital Area Chapter of the American Translators Association (NCATA). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 26 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2007. The country is divided into three autonomous regions: Dutch-speaking Flanders in the north, mostly French-speaking Brussels in the center as an enclave within Flanders and French-speaking Wallonia in the south, including the German-speaking Cantons de l'Est.
    *Van de Walle, Steven. “Language Facilities in the Brussels Periphery”. KULeuven—Leuvens Universitair Dienstencentrum voor Informatica en Telematica. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 31 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2007. Brussels is a kind of enclave within Flanders—it has no direct link with Wallonia.
  7. ^ The German-speaking Community at Belgium.be
  8. ^ a ă “The German-speaking Community”. The German-speaking Community. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2007. The (original) version in German language (already) mentions 73,000 instead of 71,500 inhabitants.
  9. ^ Morris, Chris (ngày 13 tháng 5 năm 2005). “Language dispute divides Belgium”. BBC News. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2007.
  10. ^ Petermann, Simon (ngày 25 tháng 9 năm 2001). “Langues majoritaires, langues minoritaires, dialectes et NTIC” (bằng tiếng Pháp). Belgium—at colloquium IXe Sommet de la francophonie—Initiatives 2001—Ethique et nouvelles technologies, session 6 Cultures et langues, la place des minorités, Bayreuth. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2007.
  11. ^ a ă â b Fitzmaurice, John (1996). “New Order? International models of peace and reconciliation—Diversity and civil society”. Democratic Dialogue Northern Ireland's first think tank, Belfast, Northern Ireland, UK. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2007.
  12. ^ “Belgium country profile”. EUbusiness, Richmond, UK. Ngày 27 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2007.
  13. ^ Karl, Farah; Stoneking, James (1999). “Chapter 27. The Age of Imperialism (Section 2. The Partition of Africa)” (PDF). World History II. Appomattox Regional Governor's School (History Department), Petersburg, Virginia, USA. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 25 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2007.
  14. ^ Buoyant Brussels. “Bilingual island in Flanders”. UCL. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2016.
  15. ^ Trần Văn Chánh. Từ điển Hán-Việt — Hán ngữ cổ đại và hiện đại. Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa. Năm 2014. Trang 2420.
  16. ^ PGV. Dictionnaire franco-tonkinois illustré. Hà Nội: FH Schneider, 1898. tr 401
  17. ^ Bunson, Matthew (1994). Encyclopedia of the Roman Empire . Facts on File, New York. tr. 169. ISBN [[Đặc biệt:Nguồn sách/0 8160 2135 X [Paperback 512pp, ISBN 0-8160-3182-7; Revised edition (2002), Hardcover 636pp, ISBN 0-8160-4562-3]|0 8160 2135 X [Paperback 512pp, ISBN 0-8160-3182-7; Revised edition (2002), Hardcover 636pp, ISBN 0-8160-4562-3]]] Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp).
  18. ^ Bunson, Matthew (1994). Encyclopedia of the Roman Empire . Facts on File, New York. tr. 169. ISBN 0-8160-2135-X.
  19. ^ a ă Cook, Bernard A. (2002). Belgium: A History. Studies in Modern European History, Vol. 50. Peter Lang Pub, New York. tr. 3. ISBN 0-8204-5824-4.
    Ib. e-book (2004) NetLibrary, Boulder, Colorado, United States, ISBN 0-8204-7283-2 [Also print edition (ISBNDB.com 2004-06-30) or (Peterlang.com Lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2007, tại Wayback Machine. 2005), ISBN 0-8204-7647-1]
  20. ^ Edmundson, George (1922). “Chapter I: The Burgundian Netherlands”. History of Holland. The University Press, Cambridge. Republished: Authorama. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2010.
  21. ^ Edmundson, George (1922). “Chapter II: Habsburg Rule in the Netherlands”. History of Holland. The University Press, Cambridge. Republished: Authorama. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2007.
  22. ^ Dobbelaere, Karel; Voyé, Liliane (1990). “From Pillar to Postmodernity: The Changing Situation of Religion in Belgium” (PDF). www-oxford.op.org (The Allen Review). Online at Oxford Journals, Oxford University Press. tr. S1. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2011.
  23. ^ Gooch, Brison Dowling (1963). Belgium and the February Revolution. Martinus Nijhoff Publishers, The Hague, Netherlands. tr. 112. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2010.
  24. ^ “National Day and feast days of Communities and Regions”. Belgian Federal Government. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2011.
  25. ^ Deschouwer, Kris (tháng 1 năm 2004). “Ethnic structure, inequality and governance of the public sector in Belgium” (PDF). United Nations Research Institute for Social Development (UNRISD). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2007.
  26. ^ Forbath, Peter (1977). The River Congo: The Discovery, Exploration and Exploitation of the World's Most Dramatic Rivers. Harper & Row. tr. 278. ISBN 978-0061224904. (cần đăng ký mua (trợ giúp)).
  27. ^ Meredith, Martin (2005). The State of Africa. Jonathan Ball. tr. 95–96(?). ISBN 978-1868422203. (cần đăng ký mua (trợ giúp)).
  28. ^ Arango, Ramon (1961). Leopold III and the Belgian Royal Question. Baltimore: The Johns Hopkins Press. tr. 108. (cần đăng ký mua (trợ giúp)).
  29. ^ “The Congolese Civil War 1960–1964”. BBC News. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2010.
  30. ^ a ă â “Belgium”. The World Factbook. Central Intelligence Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 7 năm 2016.
  31. ^ (tiếng Hà Lan) Geografische beschrijving van België – Over Belgie – Portaal Belgische Overheid. Belgium.be. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2013.
  32. ^ “Belgium—The land—Relief”. Encyclopædia Britannica. Encyclopædia Britannica, Chicago, Illinois, US. 2007. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2007.
  33. ^ “Geography of Belgium”. 123independenceday.com. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2007.
  34. ^ “Life—Nature” (PDF). Office for Official Publications of the European Communities. 2005. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2007.
  35. ^ Peel, Murray C.; Finlayson, Bryan L. & McMahon, T. A. (2007). “Updated world map of the Köppen–Geiger climate classification”. Hydrology and Earth System Sciences 11 (5): 1633–1644. ISSN 1027-5606. doi:10.5194/hess-11-1633-2007. (direct: Final Revised Paper)
  36. ^ “Climate averages—Brussels”. EuroWEATHER/EuroMETEO, Nautica Editrice Srl, Rome, Italy. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2007.
  37. ^ “Kerncijfers 2006 – Statistisch overzicht van België” (PDF) (bằng tiếng Dutch). Belgian Federal Government Service (ministry) of Economy—Directorate-general Statistics Belgium. tr. 9–10. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 5 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2007.
  38. ^ Takhtajan, Armen, 1986. Floristic Regions of the World. (translated by T.J. Crovello and A. Cronquist). University of California Press, Berkeley.
  39. ^ “Atlantic mixed forests”. Khu vực sinh thái lục địa. Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên.
  40. ^ López Pintor, Rafael; Gratschew, Maria (2002). “Voter Turnout Rates from a Comparative Perspective” (PDF). IDEA. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2011.
  41. ^ “The Belgian Constitution – Article 99” (PDF). Belgian House of Representatives. Tháng 1 năm 2009. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 6 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2011.
  42. ^ “Belgium 1831 (rev. 2012)”. Constitute. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2015.
  43. ^ “Belgium, a federal state”. Belgium.be. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2010.
  44. ^ a ă “Background Note: Belgium”. U.S. Department of States. Ngày 29 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2010.
  45. ^ “Belgium – Political parties”. European Election Database. Norwegian Social Science Data Services. 2010. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2010.
  46. ^ Tyler, Richard (ngày 8 tháng 6 năm 1999). “Dioxin contamination scandal hits Belgium: Effects spread through European Union and beyond”. World Socialist Web Site (WSWS). International Committee of the Fourth International (ICFI). Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2016.
  47. ^ ElAmin, Ahmed (ngày 31 tháng 1 năm 2006) Belgium, Netherlands meat sectors face dioxin crisis. foodproductiondaily.com
  48. ^ European Commission (ngày 16 tháng 6 năm 1999). “Food Law News—EU : CONTAMINANTS—Commission Press Release (IP/99/399) Preliminary results of EU-inspection to Belgium”. School of Food Biosciences, University of Reading, UK. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2007.
  49. ^ “Belgium's "rainbow" coalition sworn in”. BBC News. Ngày 12 tháng 7 năm 1999. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2007.
  50. ^ “La Chambre des représentants—Composition” [Composition of the Chamber of Representatives] (PDF) (bằng tiếng Pháp). The Chamber of Representatives of Belgium. Ngày 9 tháng 3 năm 2006. Bản gốc lưu trữ (PDF) ngày 7 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2007.
  51. ^ “Rwanda”. tiscali.reference. Tiscali UK. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2007. The article shows an example of Belgium's recent African policies.
  52. ^ “Belgian demand halts NATO progress”. CNN. Ngày 16 tháng 2 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2005. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2007.
  53. ^ “Belgium minor first to be granted euthanasia - BBC News”. bbc.co.uk. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2017.
  54. ^ “Time-line Belgium”. BBC News. Ngày 5 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2009. 2007 September – Belgium without a government for 100 days.
  55. ^ Bryant, Elizabeth (ngày 12 tháng 10 năm 2007). “Divisions could lead to a partition in Belgium”. San Francisco Chronicle. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2008.
  56. ^ Hughes, Dominic (ngày 15 tháng 7 năm 2008). “Analysis: Where now for Belgium?”. BBC News. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2008.
  57. ^ Banks, Martin (ngày 6 tháng 9 năm 2010). “Fears over 'break up' of Belgium”. The Daily Telegraph (Luân Đôn). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2010.
  58. ^ a ă “Belgian PM offers his resignation”. BBC News. Ngày 15 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2010.
  59. ^ CNN.com, "Belgium Prime Minister offers resignation over banking deal"
  60. ^ Belgian king asks Van Rompuy to form government Reuters.
  61. ^ “Prime Minister Leterme resigns after liberals quit government”. France 24. Ngày 22 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2010.
  62. ^ “King Albert II accepts resignation of Prime Minister Yves Leterme”. France 24. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2010.
  63. ^ “Federal Elections in Belgium – Chamber of Representatives Results”.
  64. ^ Kovacevic, Tamara (ngày 6 tháng 5 năm 2015). “Reality Check: How long can nations go without governments?”. BBC News Online. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2016.
  65. ^ Kramer, Johannes (1984). Zweisprachigkeit in den Benelux-ländern (bằng tiếng Đức). Buske Verlag. tr. 69. ISBN 3-87118-597-3. Zur prestige Sprache wurde in den Spanischen Niederlanden ganz eindeutig das Französische. Die Vertreter Spaniens beherrschten normalerweise das Französische, nicht aber das Niederländische; ein beachtlicher Teil der am Hofe tätigen Adligen stammte aus Wallonien, das sich ja eher auf die spanische Seite geschlagen hatte als Flandern und Brabant. In dieser Situation war es selbstverständlich, dass die flämischen Adligen, die im Laufe der Zeit immer mehr ebenfalls zu Hofbeamten wurden, sich des Französischen bedienen mussten, wenn sie als gleichwertig anerkannt werden wollten. [Transl.: The prestigious language in the Spanish Netherlands was clearly French. Spain's representatives usually mastered French but not Dutch; a notable part of the nobles at the court came from Wallonia, which had taken party for the Spanish side to a higher extent than Flanders and Brabant. It was therefore evident within this context that the Flemish nobility, of which a progressively larger number became servants of the court, had to use French, if it wanted to get acknowledged as well.]
  66. ^ Witte, Els; Craeybeckx, Jan & Meynen, Alain (2009). Political History of Belgium: From 1830 Onwards. Brussels: Academic and Scientific Publishers. tr. 56.
  67. ^ a ă Fitzmaurice (1996), p. 31.
  68. ^ a ă “Belgium”. European Election Database. Norwegian Social Science Data Services. 2010. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2010.
  69. ^ Willemyns, Roland (2002). “The Dutch-French Language Border in Belgium” (PDF). Journal of Multilingual and Multicultural Development 23 (1&2): 36–49. doi:10.1080/01434630208666453. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 26 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2007.
  70. ^ “The Belgian Constitution – Article 4” (PDF). Belgian House of Representatives. Tháng 1 năm 2009. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 6 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2011.
  71. ^ Fitzmaurice (1996), p. 121
  72. ^ Fitzmaurice (1996), p. 122.
  73. ^ a ă “The Federal Government's Powers”. .be Portal. Belgian Federal Government. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011.
  74. ^ Lagasse, Charles-Etienne (2003). Les nouvelles institutions politiques de la Belgique et de l'Europe. Namur: Erasme. tr. 289. ISBN 2-87127-783-4. In 2002, 58.92% of the fiscal income was going to the budget of the federal government, but more than one-third was used to pay the interests of the public debt. Without including this post, the share of the federal government budget would be only 48.40% of the fiscal income. There are 87.8% of the civil servants who are working for the Regions or the Communities and 12.2% for the Federal State.
  75. ^ “The Communities”. .be Portal. Belgian Federal Government. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2011.
  76. ^ “The Regions”. .be Portal. Belgian Federal Government. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2011.
  77. ^ Lagasse, Charles-Etienne (17–ngày 18 tháng 5 năm 2004). “Federalism in Russia, Canada and Belgium: experience of comparative research” (bằng tiếng Pháp). Kazan Institute of Federalism. La Belgique constitue ainsi le seul exemple clair du transfert d'une partie de la compétence « affaires étrangères » à des entités fédérées. (Transl.: Belgium is thus the only clear example of a transfer of a part of the "Foreign Affairs" competences to federated units.) Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  78. ^ Lagasse, Charles-Etienne. Les nouvelles institutions de la Belgique et de l'Europe (bằng tiếng Pháp). tr. 603. [Le fédéralisme belge] repose sur une combinaison unique d'équipollence, d'exclusivité et de prolongement international des compétences. ([Belgian federalism] is based on a unique combination of equipollence, of exclusivity, and of international extension of competences.)
  79. ^ Suinen, Philippe (tháng 10 năm 2000). “Une Première mondiale”. Le Monde diplomatique (bằng tiếng Pháp). Dans l'organisation de ces autonomies, la Belgique a réalisé une « première » mondiale: afin d'éviter la remise en cause, par le biais de la dimension internationale, de compétences exclusives transférées aux entités fédérées, les communautés et régions se sont vu reconnaître une capacité et des pouvoirs internationaux. (In organizing its autonomies, Belgium realized a World's First: to avoid a relevant stalemate, international consequences caused transfers of exclusive competences to federal, community and regional entities that are recognised to have become internationally enabled and enpowered.)
  80. ^ “Defence Data of Belgium in 2010”. European Defence Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2012.
  81. ^ “Defensie La Défense”. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2011.
  82. ^ David Isby and Charles Kamps Jr, 'Armies of NATO's Central Front,' Jane's Publishing Company, 1985, p.59
  83. ^ Bỉ xếp hạng nhất trong chỉ số toàn cầu hoá KOF 2009ETH Zürich (biên tập). “KOF Index of Globalization”. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2009.
  84. ^ “Rank Order – Exports”. CIA – The 2008 world factbook. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2008. 15[th]: Belgium $322,200,000,000 (2007 est.)
  85. ^ “Rank Order – Imports”. CIA – The 2008 world factbook. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2008. 15[th]: Belgium $323,200,000,000 (2007 est.)
  86. ^ “Belgian economy”. Belgium. Belgian Federal Public Service (ministry) of Foreign Affairs, Foreign Trade and Development Cooperation. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2009. Belgium is the world leader in terms of export per capita and can justifiably call itself the 'world's largest exporter'.
  87. ^ “Wallonia in 'decline' thanks to politicians”. Expatica Communications BV. Ngày 9 tháng 3 năm 2005. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2007.
  88. ^ “L'Union économique belgo-luxembourgeoise” (bằng tiếng Pháp). Luxembourgian Ministry of Foreign Affairs. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2011.
  89. ^ “Industrial History Belgium”. European Route of Industrial Heritage. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2007.
  90. ^ Rioux, Jean-Pierre (1989). La révolution industrielle (bằng tiếng Pháp). Paris: Seuil. tr. 105. ISBN 2-02-000651-0.
  91. ^ “Industrial History, Belgium”. European route of industrial heritage.
  92. ^ Vanhaute, Eric; Paping, Richard & Ó Gráda, Cormac (2006). The European subsistence crisis of 1845–1850: a comparative perspective (PDF). IEHC. Helsinki. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2011.
  93. ^ Vanhaute, Eric (2007). “'So worthy an example to Ireland'. The subsistance and industrial crisis of 1845–1850 in Flanders”. When the potato failed. Causes and effects of the 'last' European subsistance crisis, 1845–1850 (PDF). Brepols. tr. 123–148. ISBN 978-2-503-51985-2. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2011.
  94. ^ “Background Note: Belgium”. US Department of State, Bureau of European and Eurasian Affairs. Tháng 4 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2007.
  95. ^ Vanhaverbeke, Wim. “Het belang van de Vlaamse Ruit vanuit economisch perspectief The importance of the Flemish Diamond from an economical perspective (bằng tiếng Dutch). Netherlands Institute of Business Organization and Strategy Research, University of Maastricht. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2007.
  96. ^ “The World Factbook—(Rank Order—Public debt)”. CIA. Ngày 17 tháng 4 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2007.
  97. ^ “Key figures”. National Bank of Belgium. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2007. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2007.
  98. ^ “EurActiv”. Belgium makes place for urban enterprises. EurActiv. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2011.
  99. ^ a ă Panorama of Transport (PDF). Office for Official Publications of the European Communities. 2003. ISBN 92-894-4845-8.
  100. ^ Fidler, Stephen (ngày 3 tháng 11 năm 2010). “Europe's Top Traffic Jam Capitals”. Wallstreet Journal. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2011.
  101. ^ Another comparative study on transportation in Belgium: OECD environmental performance reviews: Belgium. OECD. 2007. ISBN 92-64-03111-1.
  102. ^ “Double record for freight volume”. port of Antwerp. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2017.
  103. ^ “The Belgian Crisis”. The Belgian Crisis. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2016.
  104. ^ John Lichfield (2007). “Belgium: A nation divided”. Independent. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2016.
  105. ^ Cook, B.A. (2002). Belgium: A History. Peter Lang. tr. 139. ISBN 9780820458243. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2017.
  106. ^ “Rembert Dodoens: iets over zijn leven en werk—Dodoens' werken”. Plantaardigheden—Project Rembert Dodoens (Rembertus Dodonaeus) (bằng tiếng Dutch). Balkbrug: Stichting Kruidenhoeve/Plantaardigheden. Ngày 20 tháng 12 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2007. ... het Cruijdeboeck, dat in 1554 verscheen. Dit meesterwerk was na de bijbel in die tijd het meest vertaalde boek. Het werd gedurende meer dan een eeuw steeds weer heruitgegeven en gedurende meer dan twee eeuwen was het het meest gebruikte handboek over kruiden in West-Europa. Het is een werk van wereldfaam en grote wetenschappelijke waarde. De nieuwe gedachten die Dodoens erin neerlegde, werden de bouwstenen voor de botanici en medici van latere generaties. (... the Cruijdeboeck, published in 1554. This masterpiece was, after the Bible, the most translated book in that time. It continued to be republished for more than a century and for more than two centuries it was the mostly used referential about herbs. It is a work with world fame and great scientific value. The new thoughts written down by Dodoens, became the building bricks for botanists and physicians of later generations.)
  107. ^ O'Connor, J. J.; Robertsonfirst2=E. F. (2004). “Simon Stevin”. School of Mathematics and Statistics, University of St Andrews, Scotland. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2007. Although he did not invent decimals (they had been used by the Arabs and the Chinese long before Stevin's time) he did introduce their use in mathematics in Europe.
  108. ^ “Abstract (*)”. S. Karger AG, Basel. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2007. The importance of A. Vesalius' publication 'de humani corporis fabrica libri septem' cannot be overestimated. (*) Free abstract for pay-per-view article byDe Broe, Marc E.; De Weerdt, Dirk L.; Ysebaert, Dirk K.; Vercauteren, Sven R.; De Greef, Kathleen E.; De Broe, Luc C. (1999). “The Low Countries – 16th/17th century” (PDF). American Journal of Nephrology 19 (2): 282–9. PMID 10213829. doi:10.1159/000013462.
  109. ^ Midbon, Mark (24 tháng 3 năm 2000). 'A Day Without Yesterday': Georges Lemaitre & the Big Bang”. Commonweal, republished: Catholic Education Resource Center (CERC). tr. 18–19. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2007.
  110. ^ Carson, Patricia. The Fair Face of Flanders. Lannoo Uitgeverij. tr. 136. ISBN 90-209-4385-5.
  111. ^ Day, Lance (2003). Lance Day; Ian McNeil, biên tập. Biographical Dictionary of the History of Technology. Routledge. tr. 1135. ISBN 0-203-02829-5.
  112. ^ Woodward, Gordon (2003). Lance Day; Ian McNeil, biên tập. Biographical Dictionary of the History of Technology. Routledge. tr. 523. ISBN 0-203-02829-5.
  113. ^ Larsson, Ulf (2001). Cultures of Creativity: the Centennial Exhibition of the Nobel Prize. Science History Publications. tr. 211. ISBN 0-88135-288-8.
  114. ^ “Georges Lemaître, Father of the Big Bang”. American Museum of Natural History. 2000. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2010.
  115. ^ “The Nobel Prize in Chemistry 1977”. Nobelprize.org. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2010.
  116. ^ O'Connor, John J.; Edmund F. Robertson, “Pierre Deligne”, Bộ lưu trữ lịch sử toán học MacTutor, Đại học St. Andrews (Retrieved 10 November 2011)
  117. ^ O'Connor, John J.; Edmund F. Robertson, “Jean Bourgain”, Bộ lưu trữ lịch sử toán học MacTutor, Đại học St. Andrews (Retrieved 10 November 2011)
  118. ^ “Quelques résultats des précédents recensements—Indicateurs de logement (1991)” (bằng tiếng Pháp). Belgian Federal Government Service (ministry) of Economy—Directorate-general Statistics Belgium. 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2007.
  119. ^ “Belgium – Market essentials” (PDF). British chamber of commerce in Belgium. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2011.
  120. ^ Belgian Federal Government. “Population par sexe et nationalité pour la Belgique et les régions, 2001 et 2011” (bằng tiếng Pháp). Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2012.
  121. ^ Perrin, Nicolas (tháng 4 năm 2006). “European Migration Network—Annual Statistical Report on migration and asylum in Belgium (Reference year 2003)—section A. 1) b) Population by citizenship & c) Third country nationals, 1 January 2004” (PDF). Study Group of Applied Demographics (Gédap). Belgian Federal Government Service (ministry) of Interior—Immigration Office. tr. 5–9. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2007.
  122. ^ De vreemde bevolking. ecodata.mineco.fgov.be
  123. ^ L'IMMIGRATION EN BELGIQUE. EFFECTIFS, MOUVEMENTS. ET MARCHE DU TRAVAIL. Rapport 2009. Direction générale Emploi et marché du travai
  124. ^ Belgian Federal Government. “Structure de la population selon le pays de naissance” (bằng tiếng Pháp). Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2012.
  125. ^ BuG 155 – Bericht uit het Gewisse – 01 januari 2012. npdata.be (1 January 2012).
  126. ^ a ă BuG 159 – Bericht uit het Gewisse – 7 mei 2012. npdata.be (7 May 2012).
  127. ^ Voor het eerst meer Marokkaanse dan Italiaanse migranten. hbvl.be. 21 tháng 5 2007
  128. ^ “appsso.eurostat.ec.europa.eu/nui/show.do?dataset=urb_lpop1&lang=en”. appsso.eurostat.ec.europa.eu. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2017.
  129. ^ Lewis, M. Paul biên tập (2009). Languages of Belgium. Ethnologue: Languages of the World (Dallas, Texas, U.S.A.: SIL International). tr. 1,248. ISBN 978-1-55671-216-6. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2011.
  130. ^ de Witte, Bruno (1996). Rainey, Anson F., biên tập. “Surviving in Babel? Language rights and European integration”. Canaanite in the Amarna tablets 1 (Brill). tr. 122. ISBN 90-04-10521-2.
  131. ^ “Belgium Market background”. British Council. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2007. The capital Brussels, 80–85 percent French-speaking, ...—Strictly, the capital is the municipality (City of) Brussels, though the Brussels-Capital Region might be intended because of its name and also its other municipalities housing institutions typical for a capital.
  132. ^ “Citizens from other countries in the German-speaking Community”. The German-speaking Community. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2007.
  133. ^ “German (Belgium)—Overview of the language”. Mercator, Minority Language Media in the European Union, supported by the European Commission and the University of Wales. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2007.
  134. ^ Leclerc, Jacques (19 tháng 4 năm 2006). “Belgique • België • Belgien—La Communauté germanophone de Belgique”. L'aménagement linguistique dans le monde (bằng tiếng Pháp). Host: Trésor de la langue française au Québec (TLFQ), Université Laval, Quebec. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2007.
  135. ^ Feller Jules (1912). Notes de philologie wallonne. Liège: Vaillant Carmanne.
  136. ^ a ă Among Belgium native German speakers many are familiar with the local dialect varieties of their region, that include dialects that spill over into neighboring Luxembourg and Germany.Gordon, Raymond G. Jr. biên tập (2005). Languages of Belgium. Ethnologue: Languages of the World (Dallas, Texas, U.S.A.: SIL International). (Online version: Sixteenth edition)
  137. ^ a ă Eurobarometer 437: Discrimination in the EU in 2015. European Commission. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2017 – qua GESIS.
  138. ^ a ă â Loopbuyck, P. & Torfs, R. (2009). The world and its people – Belgium, Luxembourg and the Netherlands 4. Marshall Cavendish. tr. 499. ISBN 0-7614-7890-6.
  139. ^ “Churchgoers in Brussels threatened with extinction”. Brusselnieuws.be (bằng tiếng Dutch). 30 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2011.
  140. ^ Kerken lopen zeer geleidelijk helemaal leeg – Dutch news article describing church attendance in Flanders. Standaard.be (25 November 2010). Truy cập 26 September 2011.
  141. ^ Eurobarometer Biotechnology report 2010 Lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2011, tại Wayback Machine. p.381.
  142. ^ “Discrimination in the EU in 2012” (PDF), Special Eurobarometer, 383 (European Union: European Commission), 2012: 233, Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 2 tháng 12 năm 2012, truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2013
  143. ^ “State and Church in BELGIUM”. euresisnet.eu. 31 tháng 10 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 7 năm 2010.
  144. ^ Ghiuzeli, Haim F. The Jewish Community of Antwerp, Belgium. Beit Hatfutsot, the Museum of the Jewish People
  145. ^ Inquiry by 'Vepec', 'Vereniging voor Promotie en Communicatie' (Organization for Promotion and Communication), published in Knack magazine 22 November 2006 p. 14 [The Dutch language term 'gelovig' is in the text translated as 'religious'. More precisely it is a very common word for believing in particular in any kind of God in a monotheistic sense, or in some afterlife], or both.
  146. ^ “In België wonen 650.000 muslims”. Indy Media. 12 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2016.
  147. ^ Voor het eerst meer Marokkaanse dan Italiaanse migranten. hbvl.be. 21 May 2007
  148. ^ “Moslims in België per gewest, provincie en gemeente”. Npdata.be. 18 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2016.
  149. ^ a ă â Corens, Dirk (2007). “Belgium, health system review” (PDF). Health Systems in Transition (European Observatory on Health Systems and Policies) 9 (2).
  150. ^ Hofman, Roelande H.; Hofman, W. H. A.; Gray, J. M.; Daly, P. (2004). Institutional context of education systems in Europe: a cross-country comparison on quality and equity. Kluwer Academic Publishers. tr. 97, 105. ISBN 1-4020-2744-3. Extracts: p. 97, p. 105
  151. ^ “Table 388. Percentage of population enrolled in secondary and postsecondary institutions, by age group and country – Chapter 6. International Comparisons of Education, data: 2002”. Digest of Education Statistics—Tables and Figures. National Center for Education Statistics, Institute of Education Sciences (IES), US Department of Education. 2005. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2007.
  152. ^ “I. Monitoring Human Development: Enlarging peoples's choices ... —5. Human poverty in OECD, Eastern Europe and the CIS” (PDF). Human Development Indicators. United Nations Development Programme (UNDP). 2000. tr. 172–173. Bản gốc lưu trữ (PDF) ngày 14 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2007.
  153. ^ “Range of rank on the PISA 2006 science scale” (PDF). OECD. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2011.
  154. ^ De Meyer, Inge; Pauly, Jan; Van de Poele, Luc (2005). “Learning for Tomorrow's Problems – First Results from PISA2003” (PDF). Ministry of the Flemish Community – Education Department; University of Ghent – Department of Education, Ghent, Belgium (Online by OECD). tr. 52. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2011.
  155. ^ De Ley, Herman (2000). “Humanists and Muslims in Belgian Secular Society (Draft version)”. Centrum voor Islam in Europe (Centre for Islam in Europe), Ghent University. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2007.
  156. ^ “Belgium—Arts and cultural education”. Compendium of Cultural Policies and Trends in Europe, 8th edition. Council of Europe / ERICarts. 2007. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2007.
  157. ^ “Belgique”. European Culture Portal. European Commission. 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2007.
  158. ^ Gonthier, Adrien (2003). “Frontière linguistique, frontière politique, une presse en crise”. Le Monde diplomatique (bằng tiếng Pháp). Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2008.
  159. ^ Mumford, David (2008). The World Today Series. The New York Times. Western Europe/2007. ISBN 1-887985-89-1.
  160. ^ “Low Countries, 1000–1400 AD”. Timeline of Art History. Metropolitan Museum of Art. 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 4 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2007.
  161. ^ “Low Countries, 1400–1600 AD”. Timeline of Art History. Metropolitan Museum of Art. 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 4 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2007.
  162. ^ Hendrick, Jacques (1987). La peinture au pays de Liège (bằng tiếng Pháp). Liège: Editions du Perron. tr. 24. ISBN 2-87114-026-X.
  163. ^ Guratzsch, Herwig (1979). Die große Zeit der niederländische Malerei (bằng tiếng Đức). Freiburg im Beisgau: Verlag Herder. tr. 7.
  164. ^ “Low Countries, 1600–1800 AD”. Timeline of Art History. Metropolitan Museum of Art. 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2007.
  165. ^ “Art History: Flemish School: (1600–1800)—Artists: (biography & artworks)”. World Wide Arts Resources. 5 tháng 2 năm 2006. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2007.—A general presentation of the Flemish artistic movement with a list of its artists, linking to their biographies and artworks
  166. ^ “Belgian Artists: (biographies & artworks)”. World Wide Arts Resources. 5 tháng 2 năm 2006. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2007.—List of Belgian painters, linking to their biographies and artworks
  167. ^ Baudson, Michel (1996). “Panamarenko”. Flammarion (Paris), quoted at presentation of the XXIII Bienal Internacional de São Paulo. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2007.
  168. ^ Brussels, capital of Art Nouveau (page 1),“ib. (page2)”. Senses Art Nouveau Shop, Brussels. 2007. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2007. (for example)
  169. ^ “Major Town Houses of the Architect Victor Horta (Brussels)”. UNESCO's World Heritage List. UNESCO. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2007. The appearance of Art Nouveau in the closing years of the 19th century marked a decisive stage in the evolution of architecture, making possible subsequent developments, and the Town Houses of Victor Horta in Brussels bear exceptional witness to its radical new approach.
  170. ^ “Western music, the Franco-Flemish school”. Encyclopædia Britannica. 2007. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2007. Most significant musically was the pervasive influence of musicians from the Low Countries, whose domination of the musical scene during the last half of the 15th century is reflected in the period designations the Netherlands school and the Franco-Flemish school.
  171. ^ Two comprehensive discussions of rock and pop music in Belgium since the 1950s:
    “The Timeline—A brief history of Belgian Pop Music”. The Belgian Pop & Rock Archives. Flanders Music Centre, Brussels. Tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2007.
    “Belgian Culture—Rock”. Vanberg & DeWulf Importing. 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2007.
  172. ^ Grove, Laurence (2010). Comics in French: the European bande dessinée in context. Berghahn Books. ISBN 1-84545-588-6.
  173. ^ A review of the Belgian cinema till about 2000 can be found at“History of Cinema in Belgium”. Film Birth. 2007. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2011.
  174. ^ “Fashion and the 'Antwerp Six'. Dorset, UK: Fashion Worlds. 2004. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2007.
  175. ^ “Processional Giants and Dragons in Belgium and France”. UNESCO. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2007.
  176. ^ “Folklore estudiantin liégeois” (bằng tiếng Pháp). University of Liège. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2008.
  177. ^ “The Michelin stars 2007 in Belgium”. Resto.be TM Dreaminvest. 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2007.
  178. ^ “Steak-frites”. Epicurious. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2007. Republished fromVan Waerebeek, Ruth; Robbins, Maria (tháng 10 năm 1996). Everybody Eats Well in Belgium Cookbook. Workman Publishing. ISBN 1-56305-411-6.
  179. ^ “Belgium”. Global Gourmet. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2007. Republished fromVan Waerebeek, Ruth; Robbins, Maria (tháng 10 năm 1996). Everybody Eats Well in Belgium Cookbook. Workman Publishing. ISBN 1-56305-411-6.
  180. ^ “Mussels”. Visit Belgium. Official Site of the Belgian Tourist Office in the Americas. 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2007.
  181. ^ Elliott, Mark & Cole, Geert (2000). Belgium and Luxembourg. Lonely Planet. tr. 53. ISBN 1-86450-245-2.
  182. ^ Snick, Chris (18 tháng 10 năm 2011). “Nieuwe bierbijbel bundelt alle 1.132 Belgische bieren”. Het Nieuwsblad (bằng tiếng Dutch).
  183. ^ “Nieuwe bierbijbel met 1.132 Belgische bieren voorgesteld in Brugge”. Krant van West-Vlaanderen (bằng tiếng Dutch). 18 tháng 10 năm 2011.
  184. ^ Ames, Paul (30 tháng 8 năm 2009). “Buying the World's Best Beer”. Global Post. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2010.
  185. ^ Guthrie, Tyler (11 tháng 8 năm 2010). “Day trip to the best beer in the world”. Chicago Tribune. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2010.
  186. ^ “Monks run short of 'world's best' beer”. ABC. Reuters. 12 tháng 8 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2010.
  187. ^ “InBev dividend 2006: 0.72 euro per share—infobox: About InBev” (Thông cáo báo chí). InBev. 24 tháng 4 năm 2007. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2007. InBev is a publicly traded company (Euronext: INB) based in Leuven, Belgium. The company's origins date back to 1366, and today it is the leading global brewer by volume.
  188. ^ Task, Marijke; Renson, Roland & van Reusel, Bart (1999). Klaus Heinemann, biên tập. Organised sport in transition: development, structures and trends of sports clubs in Belgium. Sport clubs in various European countries (Schattauer Verlag). tr. 183–229. ISBN 3-7945-2038-6.
  189. ^ Wingfield, George (2008). Charles F. Gritzner, biên tập. Belgium. Infobase Publishing. tr. 94–95. ISBN 978-0-7910-9670-3.
  190. ^ Hendricks, Kelly (20 tháng 6 năm 2014). “Belgium's 10 most popular sports”. The Bulletin. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014.
  191. ^ Majendie, Matt (18 tháng 4 năm 2005). “Great, but there are greater”. BBC Sport. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2007. [the Author's] top five [cyclists] of all time: 1 Eddy Merckx, 2 Bernard Hinault, 3 Lance Armstrong, 4 Miguel Indurain, 5 Jacques Anquetil
  192. ^ "Goalkeeping Greats" Goalkeepersaredifferent.com. Truy cập 29 June 2008.
  193. ^ “Belgium go top, Chile and Austria soar”. FIFA. 5 tháng 11 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2016.
  194. ^ Woods, Bob (2008). Motocross History: From Local Scrambling to World Championship MX to Freestyle. Crabtree Publishing Company. tr. 19. ISBN 978-0-7787-3987-6.

Nguồn chung trên mạng

Thư mục

  • Arblaster, Paul (ngày 23 tháng 12 năm 2005). A History of the Low Countries. Palgrave Essential Histories . Palgrave Macmillan, New York. ISBN [[Đặc biệt:Nguồn sách/1-4039-4827-5 [Also edition (2005-12-23), Paperback 312pp, Palgrave Macmillan, New York, ISBN 1-4039-4828-3]|1-4039-4827-5 [Also edition (2005-12-23), Paperback 312pp, Palgrave Macmillan, New York, ISBN 1-4039-4828-3]]] Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp).
  • Blom, J. C. H., Dutch State Institute for War Documentation, ed.; Lamberts, Emiel, Professor in Modern History KULeuven, ed.; Kennedy, James C., translator (tháng 5 năm 1999). History of the Low Countries . Berghahn Books, Oxford/New York. ISBN [[Đặc biệt:Nguồn sách/1-5718-1084-6 [Also newer edition (2006-06-29), Paperback 516pp, Berghahn Books, New York, ISBN 1-84545-272-0]|1-5718-1084-6 [Also newer edition (2006-06-29), Paperback 516pp, Berghahn Books, New York, ISBN 1-84545-272-0]]] Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp).
  • Cammaerts, Émile L. (1921) [1913]. A History of Belgium from the Roman Invasion to the Present Day . D. Appleton and Co, New York. OCLC 1525559 ASIN B00085PM0A [Also editions [1913], Luân Đôn, OCLC 29072911; (1921) D. Unwin and Co., New York OCLC 9625246; also published (1921) as Belgium from the Roman invasion to the present day, The Story of the nations, 67, T. Fisher Unwin, Luân Đôn, OCLC 2986704 ASIN B00086AX3A].
  • Cook, Bernard A., Professor of History at Loyola University New Orleans, LA, United States (c2002 or tháng 5 năm 2004). Belgium: A History. Studies in Modern European History, Vol. 50 . Peter Lang Pub, New York. ISBN [[Đặc biệt:Nguồn sách/0-8204-5824-4 Ib. e-book (2004) NetLibrary, Boulder, CO, United States, ISBN 0-8204-7283-2 [Also print edition (2004-06-30 or 2005), ISBN 0-8204-7647-1]|0-8204-5824-4 Ib. e-book (2004) NetLibrary, Boulder, CO, United States, ISBN 0-8204-7283-2 [Also print edition ([http://isbndb.com/d/book/belgium_a_history.html 2004-06-30] or [http://www.peterlang.com/index.cfm?vID=67647&vLang=E&vHR=1&vUR=3&vUUR=4&vNoHB=True 2005]), ISBN 0-8204-7647-1]]] Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  • de Kavanagh Boulger, Demetrius C. (2001-06-28 or 2006-03-30). The History of Belgium: Part 1. Cæsar to Waterloo. Elibron Classics . Adamant Media (Delaware corporation), Boston, MA, United States. ISBN [[Đặc biệt:Nguồn sách/1-4021-6714-8 [Facsimile reprint of a 1902 edition by the author, Luân Đôn]|1-4021-6714-8 [Facsimile reprint of a 1902 edition by the author, Luân Đôn]]] Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date=, |year= / |date= mismatch (trợ giúp)Ib. (2001-06-28 or 2006-03-30). Ib. Part 2. 1815–1865. Waterloo to the Death of Leopold I. Ib. Ib. ISBN [[Đặc biệt:Nguồn sách/1-4021-6713-X [Facsimile reprint of a 1909 edition by the author, Luân Đôn]|1-4021-6713-X [Facsimile reprint of a 1909 edition by the author, Luân Đôn]]] Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date=, |year= / |date= mismatch (trợ giúp)
  • Fitzmaurice, John (tháng 3 năm 1996). The Politics of Belgium: A Unique Federalism. Nations of the modern world . Westview Press, Boulder, CO, USA. ISBN 0-8133-2386-X. OCLC 30112536.
  • Kossmann-Putto, Johanna A.; Kossmann Ernst H.; Deleu Jozef H. M., ed.; Fenoulhet Jane, translator [of: (1987). De Lage Landen: geschiedenis van de Noordelijke en Zuidelijke Nederlanden. Vlaams-Nederlandse Stichting Ons Erfdeel, Rekkem] (tháng 1 năm 1993) [1987]. The Low Countries: History of the Northern and Southern Netherlands (ấn bản 3). Flemish-Netherlands Foundation "Stichting Ons Erfdeel", Rekkem, Belgium. ISBN [[Đặc biệt:Nguồn sách/9-0708-3120-1 [several editions in English, incl. (1997) 7th ed.]|9-0708-3120-1 [several editions in English, incl. (1997) 7th ed.]]] Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp).

Liên kết ngoài

Chính phủ
Thông tin chung

Wikimedia Atlas của Bỉ

Du lịch
Khác
Berlin

Berlin (phát âm tiếng Đức: [bɛɐ̯ˈliːn] ( nghe), cũng còn gọi với tên tiếng Việt là Bá Lâm hoặc Béc-lin) là thủ đô, và cũng là một trong 16 bang của Cộng hòa Liên bang Đức. Với hơn 3.7 triệu người dân, đây là thành phố lớn nhất của Đức. Nếu so với cả Liên minh châu Âu, Berlin là thành phố lớn thứ nhì chỉ sau Luân Đôn. Nằm ở miền Đông Bắc nước Đức, Berlin là trung tâm của khu vực đô thị Berlin-Brandenburg, trong đó có khoảng 6 triệu người đến từ hơn 180 quốc gia trên thế giới. Nằm trong vùng Đồng bằng châu Âu, Berlin bị ảnh hưởng bởi khí hậu ôn đới theo mùa. Khoảng 1/3 diện tích của thành phố là rừng, công viên, vườn, sông và hồ, do đó thành phố này luôn có một bầu không khí trong lành.Được ghi nhận lần đầu tiên vào thế kỷ 13, Berlin từng là thủ đô của Vương quốc Phổ (1701–1918), Đế chế Đức (1871–1918), Cộng hòa Weimar (1919–1933) và Đức Quốc Xã (1933–1945). Vào những năm 1920, Berlin là thành phố lớn thứ ba trên thế giới. Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, thành phố đã bị liên quân bốn nước chiếm đóng, và sau đó các khu vực do Anh, Pháp, Hoa Kỳ chiếm đóng được hợp nhất và trở thành Tây Berlin, được bao quanh bởi Bức tường Berlin và phần còn lại do Liên Xô chiếm đóng trở thành Đông Berlin (thủ đô của Cộng hòa Dân chủ Đức). Sau khi nước Đức tái thống nhất ngày 3 tháng 10 năm 1990, Berlin trở thành thủ đô của toàn liên bang Đức, lưu trữ 147 đại sứ quán nước ngoài. Sau Quyết nghị Thủ đô của Quốc hội Liên bang Đức (Deutsche Bundestag) vào năm 1991 thành phố cũng thực thi chức năng của mình là trụ sở của chính phủ và quốc hội từ năm 1999.Berlin là một trung tâm chính trị, văn hóa, khoa học quan trọng của châu Âu. Đô thị lớn này là một điểm nút giao thông và một trong những thành phố thu hút được nhiều khách du lịch nhất của lục địa già này. Nhiều trường đại học, viện nghiên cứu, nhà hát và viện bảo tàng tại Berlin có danh tiếng quốc tế.

Bóng đá

Bóng đá hay Túc cầu (tiếng Anh-Anh: Football, tiếng Anh-Mỹ: Soccer) là môn thể thao đồng đội được chơi giữa hai đội với nhau, mỗi đội có 11 cầu thủ trên sân. Trò chơi này dùng một quả bóng và thường được chơi trên sân cỏ hình chữ nhật với hai khung thành ở hai đầu sân. Mục tiêu của trò chơi là ghi điểm bằng cách đưa bóng vào khung thành của đội đối địch. Ngoại trừ thủ môn, các cầu thủ khác đều không được cố ý dùng tay hoặc cánh tay để chơi bóng (trừ trường hợp ném biên). Đội chiến thắng là đội ghi được nhiều bàn thắng hơn khi kết thúc trận đấu. Bóng đá được mệnh danh là "môn thể thao vua", là môn thể thao được yêu thích nhất, được theo dõi nhiều nhất, được nhiều người chơi nhất thế giới.

Bóng đá được chơi ở đẳng cấp chuyên nghiệp trên thế giới. Hàng vạn người đến sân vận động để xem các trận thi đấu có đội bóng mà họ yêu thích, và hàng triệu người khác theo dõi qua tivi nếu không thể đến sân vận động. Ngoài ra, còn rất nhiều người chơi môn thể thao này ở đẳng cấp nghiệp dư.

Theo một cuộc khảo sát công bố vào năm 2001 của FIFA, tổ chức quản lý bóng đá trên thế giới, có hơn 240 triệu người thường xuyên chơi bóng đá ở hơn 200 quốc gia. Luật chơi đơn giản và dụng cụ thi đấu ít tốn kém giúp cho trò chơi này phát triển mạnh mẽ. Ở nhiều nước, bóng đá có vai trò quan trọng trong cuộc sống của người hâm mộ, trong cộng đồng địa phương hay cả quốc gia; do đó có thể nói đây là môn thể thao phổ biến nhất thế giới.

Bảng mã IOC

Ủy ban Olympic Quốc tế (IOC) sử dụng ba ký tự tiêu biểu cho mã quốc gia và chùm ký tự này sẽ đại diện cho các vận động viên trong các kì Đại hội Olympic. Mỗi chùm ký tự đại diện cho Ủy ban Olympic của các quốc gia; nhưng cũng có thể trong các sự kiện quá khứ nó được dùng để đại diện cho liên hiệp các quốc gia hay tập thể cá nhân không đại diện cho bất kì một quốc gia nào.

Bảng mã này có một vài điểm khác biệt so với bảng chuẩn ISO 3166-1 alpha-3. Trong một số tổ chức thể thao khác, chẳng hạn FIFA hay Liên đoàn Thịnh vượng chung Anh, dùng ký hiệu giống với bảng này.

Chiến tranh Pháp-Phổ

Chiến tranh Pháp - Phổ (19 tháng 7 năm 1870 – 28 tháng 1 năm 1871), sau khi chiến tranh kết thúc thì còn gọi là Chiến tranh Pháp – Đức (do sự nhất thống của nước Đức ở thời điểm ấy), hay Chiến tranh Pháp – Đức (1870 – 1871), Chiến tranh Pháp - Đức lần thứ nhất, thường được biết đến ở Pháp là Chiến tranh 1870, là một cuộc chiến giữa hai nước Pháp và Phổ. Cuộc chiến kết thúc với chiến thắng của nước Phổ, trở thành cuộc chiến tranh đế quốc đầu tiên do Đế quốc Đức - Phổ phát động. Với vai trò hết sức trọng đại trong lịch sử châu Âu, đây là cuộc chiến tranh có tầm vóc đồ sộ, trọng đại nhất giữa những cuộc chiến tranh của Napoléon và Chiến tranh thế giới thứ nhất. Nước Phổ được hỗ trợ bởi Liên bang Bắc Đức và các bang miền Nam Đức như Baden, Württemberg và Bayern. Ngay từ những sự kiện dẫn tới chiến tranh, thiên tài ngoại giao của vị Thủ tướng nước Phổ là Otto von Bismarck đã được biểu lộ. Chiến thắng của quân Phổ và Đức là một bước ngoặt to lớn trong lịch sử châu Âu, đã đem lại sự thống nhất và khởi lập của nền Đế quốc Đức dưới sự cai trị của Hoàng đế Wilhelm I – nhà Vua nước Phổ. Với thắng lợi hiển hách này - là chiến tích chiến lược huy hoàng của ông, tên tuổi của vị Tổng tham mưu trưởng Quân đội nước Đức là Đại tướng - Bá tước Helmut von Moltke đạt tới đỉnh cao vinh quang, với đầu óc sáng tạo mang tầm ảnh hưởng to lớn đến nền quân sự toàn cõi châu Âu. Nhưng bên cạnh thiên tài của ông thì cả Bộ Tổng Tham mưu Đức nói chung là đóng góp lớn nhất cho chiến thắng vinh hiển của đất nước. Thất bại thảm hại của Pháp cũng đánh dấu sự sụp đổ của Napoléon III và dấu chấm hết cho nền Đệ Nhị đế chế Pháp, sau đó được thay thế bởi Đệ Tam cộng hòa. Do đó, chiến bại thê lương này đã hoàn toàn chấm dứt chế độ quân chủ Pháp, trở thành một trong những thảm bại nặng nhất trên đất Pháp. Vùng Alsace-Lorraine bị nước Phổ chiếm lấy và hợp thành một phần của nước Đức cho đến khi Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Kể từ sau thất bại trong cuộc chiến, người Pháp luôn bị ám ảnh bởi sự mất mát này. Trong khi đó, chiến thắng quyết định của người Phổ - Đức đã tiếp lửa cho tinh thần đoàn kết, cao trào dân tộc chủ nghĩa Đức trỗi dậy mạnh mẽ; và làm cho nước Pháp thất trận bị lăng nhục nặng nề, mở đầu cho sự thù địch cay đắng giữa nước Đức và Pháp, đặt nền tảng cho một cuộc Chiến tranh Pháp – Đức đẫm máu hơn nhiều. Với sự nhất thống của Đế quốc Đức vào tháng 1 năm 1871, về chính trị người Đức đã toàn thắng trước cả khi Paris thất thủ. Là một đòn giáng sấm sét vào đội quân hùng mạnh của Napoléon III, chiến thắng của nước Đức cũng mở đầu cho quá trình suy yếu nghiêm trọng của nước Pháp, đánh một đòn rất đau vào Pháp kể từ sau năm 1815.Cuộc chiến nối tiếp chiến thắng của nước Phổ hùng mạnh trong cuộc Chiến tranh Áo – Phổ, và là kết quả của sự căng thẳng kéo dài nhiều năm giữa hai cường quốc, mà ngòi nổ là mâu thuẫn về việc một Hoàng thân của Vương triều nhà Hohenzollern ứng cử ngai vàng của Tây Ban Nha bị bỏ trống sau khi Nữ hoàng Isabel II bị phế truất năm 1868. Việc bản tuyên cáo Ems bị để lộ ra cho báo chí, trong đó cường điệu sự lăng mạ giữa Quốc vương nước Phổ và đại sứ Pháp, đã như châm thêm dầu vào lửa ở cả hai phía. Bất chấp thất bại vừa qua tại México, nước Pháp tổng động viên quân đội, và đến ngày 19 tháng 7 tuyên chiến với Phổ Quốc. Quân Pháp gặp hỗn loạn và vấn đề hậu cần. Vốn Thủ tướng Bismarck cho rằng chiến tranh chống Pháp là rất cần thiết cho quá trình nhất thống Đức Quốc. Đúng như tầm nhìn xa trông rộng của Bismarck, các tiểu quốc Đức nhanh chóng đứng về phía Phổ và tham chiến chống Pháp. Với quân số đông đảo, chiến sĩ tinh nhuệ, nước Phổ tổng động viên ba quân nhanh chóng hơn hẳn Pháp, trong khi Pháp còn bị rối loạn trầm trọng. Theo lệnh của nhà chiến lược thiên tài Moltke, ba đạo quân Phổ (trong đó có Đệ Tam Đại quân gồm có cả Quân đội Nam Đức) - đều được trang bị hoàn hảo và có khoảng 472 nghìn chiến sĩ với những Tiểu đoàn hùng hậu tiến đánh Pháp Quốc, nhằm tiêu diệt quân Pháp và đánh chiếm Paris.Sức mạnh vượt trội của nước Phổ và Đức hiển hiện nhanh chóng, một phần bằng việc sử dụng hiệu quả vận chuyển bằng đường sắt (hệ thống đường sắt Phổ lớn thứ tư trên thế giới trong khi hệ thống đường sắt Pháp thì lớn thứ năm) và Pháo binh tân tiến hiệu Krupp. Sức mạnh khủng khiếp của lực lượng Pháo binh Đức, cùng với sự bày binh bố trận rất chuẩn mực của Tổng Tham trưởng Moltke đã hoàn toàn áp đảo thế mạnh của Pháp về súng trường Chassepot. Quân đội Đức-Phổ chọc thủng lỗ hổng Lorraine, giành thẳng thế chủ động từ tay quân Pháp, và nhanh chóng giành được một loạt thắng lợi tại miền đông nước Pháp (tỷ dụ như Trận Spicheren nơi quân Đức của Thống chế Karl Friedrich von Steinmetz dùng đại pháo hiệu Krupp hủy diệt địch và đánh tạt sườn địch, Trận Wörth nơi Hoàng thái tử Friedrich đại phá quân của Thống chế Patrice de Mac-Mahon, Trận Gravelotte cực kỳ khốc liệt nơi các chiến sĩ Đức anh dũng trở nên rạng danh uy chấn nhờ đánh bại tan tác đạo quân Pháp có thế mạnh hơn và đuổi quân Pháp về Metz), những chiến thắng lẫy lừng này là bước ngoặt ban đầu phá vỡ tinh thần tấn công của Pháp. Đội Kỵ binh Phổ của Thiếu tướng Friedrich Wilhelm Adalbert von Bredow đã lập nên chiến công ngàn thu mang lại thắng lợi lớn cho quân Phổ trong Trận Mars-la-Tour. Loạt thắng lợi chứng tỏ sự tinh nhuệ, nề nếp của quân Phổ hơn hẳn sự kém hiệu quả, bất lực của quân Pháp - chỉ trong vòng sáu tuần mà đoàn binh tinh nhuệ Phổ đã tiến công nhanh gọn và hạ nhục Pháp. Đỉnh điểm là Trận Sedan, khi mà quân Pháp thất thế, Đại tướng Moltke đại thắng Thống chế Mac-Mahon, đồng thời Napoléon III và toàn bộ đạo quân dưới quyền bị bắt vào ngày 2 tháng 9 - thất bại thảm hại của Pháp chỉ 6 tuần sau khi chiến sự nổ ra. Với tính chất hủy diệt rất cao, đại thắng mang tính bước ngoặt ở Sedan là một thắng lợi "thiêng liêng", huyền thoại, lớn lao hàng đầu trong suốt chiều dài lịch sử quân sự Phổ - Đức, khắc họa kế hoạch vây bọc của Moltke và đỉnh cao vinh quang của Bismarck. Không những Đệ Nhị Đế chế Pháp sụp đổ mà do đạo quân đồn trú Pháp tại La Mã phải sang giao chiến với Đức nên quân đội Ý thừa cơ đoạt lấy thành La Mã. Chiến thắng huy hoàng trong trận đánh Sedan với ý nghĩa quyết định đã tạo điều kiện cho Liên minh Đức sớm chấm dứt chiến sự với thắng lợi của mình. Ngoài ra, Quân đội Phổ sau khi nhử được mồi còn xiết chặt quân Pháp và chiếm đoạt được pháo đài Metz. Nước Pháp thất trận hoàn toàn náo loạn. Tuy nhiên, cuộc chiến chưa chấm dứt: Đệ Tam cộng hòa được tuyên bố thành lập ngày 4 tháng 9 tại Paris, và người Pháp tiếp tục kháng cự dưới sự chỉ huy của Chính phủ Vệ Quốc (Le Gouvernement de la Défense Nationale) và sau đó là Adolphe Thiers. Trong vòng 5 tháng, quân đội Đức-Phổ đánh bại những đạo quân mới được tuyển mộ của Pháp trong một loạt trận chiến dọc miền Bắc nước Pháp, tiếp tục sự chiếm đóng của người Đức trên đất Pháp. Nỗ lực của Chính phủ Vệ quốc hoàn toàn bị các chiến sĩ Đức đập tan.

Sau đại bại, Napoléon III chạy sang Anh Quốc. Tuy thất bại thảm hại nhưng cuộc chiến đấu tiếp diễn của Pháp trong thời gian này đã biểu hiện vai trò, sức mạnh của nhân dân trong thời buổi ấy. Quân đội Đức – Phổ cũng công hãm thủ đô Paris của Pháp và cắt nguồn tiếp tế, đánh lui các đợt chống trả của Pháp. Những đoàn quân hùng mạnh của Von Moltke trên đà thắng lợi, và rồi với thất bại hết sức thê thảm trong trận Le Mans, quân Pháp đã suy sụp nhuệ khí nghiêm trọng và chẳng thể nào cứu vãn Paris. Quân Đức thắng thế cũng đánh cho tan nát Binh đoàn Lê dương Pháp vừa đổ bộ lên nghênh chiến. Quân Lê dương Pháp bị giải ngũ trong ô nhục, trong khi dân chúng Paris bị đói khổ. Sau cùng, Paris thất thủ vào ngày 28 tháng 1 năm 1871 sau một cuộc vây hãm kéo dài. Quân Đức lấy được Paris buộc chính quyền Pháp phải xin hoà, đầu hàng Đế quốc Đức. Mười ngày trước đó, tại cung điện Versailles, các tiểu quốc Đức đã tuyên bố hợp nhất dưới sự trị vì của nhà vua nước Phổ, thống nhất nước Đức thành Đế quốc Đức do nước Phổ làm minh chủ. Đây là một thắng lợi hoàn toàn quyết định của Thủ tướng Otto von Bismarck, đánh dấu chiến thắng toàn diện về mặt chính trị của ông. Ông được Đức hoàng phong làm Vương công. Chiến thắng lừng lẫy của nước Đức trong cuộc Chiến tranh Pháp – Đức này cũng thể hiện hiệu quả lớn lao của sự kết hợp giữa sự lãnh đạo dân sự mạnh mẽ của Bismarck và tài năng tổ chức quân sự xuất sắc của Moltke. Với những điều khoản khe khắt của nước Đức áp đặt cho kẻ thù bại trận, Hiệp ước Frankfurt được ký kết giữa nước Đức trỗi dậy với nước Pháp thất trận vào ngày 10 tháng 5 năm 1871 chấm dứt chiến tranh, trong giai đoạn máu lửa của phong trào Công xã Paris năm 1871. Nước Đức đã hoàn toàn cuộc chinh phạt và áp đảo Pháp, buộc Pháp phải đóng một khoản chiến phí khổng lồ, dù điều này không hệ trọng bằng việc Pháp nhượng hai tỉnh Alsace - Lorraine. Chiến thắng lớn lao trong cuộc chiến tranh này đưa Đế quốc Đức trở nên vô cùng hùng mạnh, phá vỡ hoàn toàn cán cân quyền lực ở châu Âu. Nhiệt huyết của người Đức trở nên sục sôi dâng trào với chiến thắng quyết định này, họ quên đi tất cả những chia rẽ xưa kia. Đồng thời, chiến thắng này cũng thể hiện những điểm ưu việt của lực lượng Quân đội Phổ như các chiến sĩ được trang bị tốt và có Bộ Tổng Tham mưu tổ chức chiến sự, và còn là một thắng lợi của nền giáo dục quân sự Đức hồi ấy. Như một chiến quả rực rỡ của thắng lợi trong cuộc chiến tranh Pháp-Phổ nói riêng và hàng loạt của chinh chiến của vị Thủ tướng đại tài Bismarck nói chung, nền Đế quốc Đức ra đời, là một dân tộc hùng mạnh có chủ quyền, phát triển vô song về mọi mặt và mở ra một thời đại mới mẻ trong lịch sử châu Âu, với vai trò vô cùng to lớn và quan trọng đối với cả tình hình chính trị quốc tế thế kỷ XX. Dưới ảnh hưởng từ chiến thắng vang lừng , nền quân sự Đức vẫn tiếp tục phát triển rực rỡ, phát huy đại pháo hiệu Krupp sau thắng lợi hiển hách, trong khi Pháp sau chiến bại ô nhục đã tiến hành cải cách – mà đến khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ thì vẫn thất bại. Trong quá trình cải tổ ấy, nước Pháp thất trận thậm chí còn áp dụng theo khuôn mẫu của nước Đức chiến thắng. Sau đại thắng trong cuộc Chiến tranh Pháp – Đức, nước Đức dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Bismarck không những rộng hơn mà còn nhanh chóng công nghiệp hóa. Trong khi ấy, nếu như nền Đệ Tam Cộng hòa Pháp có cái xuất thân tệ hại là ra đời với chiến bại ô nhục trong cuộc Chiến tranh Pháp – Đức lần thứ nhất này, nó sẽ bị sụp đổ với một chiến bại thê lương khác, trong cuộc Chiến tranh Pháp – Đức lần thứ ba (1940).

Chiến tranh Triều Tiên

Chiến tranh Triều Tiên (ở Hàn Quốc Hangul: 한국전쟁; Hanja: 韓國戰爭; Romaja: Hanguk Jeonjaeng, "Korean War"; ở CHDCND Triều Tiên Chosŏn'gŭl: 조국해방전쟁; Hancha: 祖國解放戰爭; MR: Choguk haebang chǒnjaeng là cuộc chiến xảy ra và kéo dài từ giữa năm 1950 đến năm 1953 trên bán đảo Triều Tiên bị chia cắt vì sự chiếm đóng tạm thời của Liên Xô và Hoa Kỳ. Chiến sự được châm ngòi vào ngày 25 tháng 6 năm 1950 khi Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Bắc Triều Tiên) tấn công Đại Hàn Dân quốc (Nam Triều Tiên). Từ một cuộc chiến quy mô nhỏ giữa hai lực lượng đối nghịch trên bán đảo Triều Tiên, quy mô cuộc chiến đã trở nên lớn khi lực lượng của Liên hiệp quốc được Hoa Kỳ lãnh đạo và sau đó là Chí nguyện quân của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa can thiệp.

Lực lượng hỗ trợ chính cho miền Bắc là Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa với sự tiếp ứng hạn chế của Liên Xô trong hình thức các cố vấn quân sự, phi công quân sự và vũ khí. Đại Hàn Dân quốc được lực lượng Liên Hiệp Quốc, chủ yếu là quân đội Hoa Kỳ, hỗ trợ. Trước cuộc xung đột, CHDCND Triều Tiên và Đại Hàn Dân quốc tồn tại như hai chính phủ lâm thời đang tranh giành ảnh hưởng kiểm soát toàn bộ Bán đảo Triều Tiên.

Sau ba năm, chiến cuộc tạm ngưng khi hai miền đạt được một thỏa hiệp ngừng bắn vào ngày 27 tháng 7 năm 1953, và vì không có hiệp định hòa bình nên trên thực tế, cuộc chiến này vẫn chưa kết thúc cho đến tận nay. Xung đột quy mô nhỏ vẫn diễn ra, hai bên tiếp tục ở trong tình trạng chiến tranh và có thể phát động tấn công bất ngờ mà không cần tuyên chiến. Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Bắc Triều Tiên) vẫn tiếp tục đầu tư rất lớn cho quân đội và coi việc thống nhất đất nước Triều Tiên là mục tiêu cao nhất của họ. Trong khi đó, Mỹ vẫn duy trì 28.000 quân tại Hàn Quốc để ngăn chặn việc Bắc Triều Tiên tấn công Hàn Quốc một lần nữa. Hiện nay, lập trường của hai bên là đối nghịch nhau khi họ đều cho rằng chính phủ mình mới là hợp pháp và chính danh trong việc tấn công đối phương nhằm thống nhất đất nước Triều Tiên.

Cách mạng Tháng Bảy

Cách mạng tháng Bảy còn được gọi là Cách mạng Pháp lần thứ hai hoặc Trois Glorieuses hay Cách mạng năm 1830 là cuộc cách mạng tại Pháp, diễn ra chủ yếu tại Paris, vào tháng 7 năm 1830 dưới thời Bourbon phục hoàng. Trong giai đoạn cai trị của Charles X, những mâu thuẫn giữa hai phe tự do và bảo hoàng đã gây nên các biến động chính trị kéo dài. Mùa hè năm 1829, Charles X đưa Jules de Polignac, một người bảo hoàng, lên giữ chức thủ tướng, thành lập một chính phủ mới. Trước những chống đối của các nghị sĩ phái tự do, nhà vua giải tán Nghị viện và đỉnh điểm là chiếu dụ Saint-Cloud ngày 26 tháng 7 năm 1830 đã khiến những người đối lập nổi dậy.

Trong ba ngày 27, 28, 29, người dân Paris dựng chướng ngại vật trên đường phố, chống lại quân đội của Thống chế Marmont. Cuộc xung đột đã khiến 200 quân hoàng gia và 800 người nổi dậy thiệt mạng. Charles X cùng gia đình chạy khỏi Paris. Sau khi do dự giữa nền cộng hòa và quân chủ, các nghị sĩ đồng ý đưa Công tước Orléans, thuộc nhánh thứ của dòng họ Bourbon, lên ngôi vua. Cách mạng tháng Bảy diễn ra trong thời gian ngắn ngủi, không chấm dứt nền quân chủ mà chỉ kết thúc thời kỳ trị vì của Charles X. Công tước Orléans trở thành Louis-Philippe I, đăng quang ngày 9 tháng 8 với tước hiệu Vua của người Pháp—không còn xưng Vua nước Pháp như các vị quân vương nhà Bourbon trước đó—bắt đầu cho nền Quân chủ tháng Bảy.

Diễn ra trong ba ngày từ 27 tới 29, Cách mạng tháng Bảy được gọi trong tiếng Pháp là Trois Glorieuses, có nghĩa Ba ngày vinh quang.

Cộng hòa Séc

Séc (tiếng Séc: Česko), tên chính thức là Cộng hòa Séc (tiếng Séc: Česká republika, phát âm ), là một quốc gia thuộc khu vực Trung Âu và là nước không giáp biển. Cộng hòa Séc giáp Ba Lan về phía bắc, giáp Đức về phía tây, giáp Áo về phía nam và giáp Slovakia về phía đông. Thủ đô và thành phố lớn nhất của quốc gia là Praha, với hơn 1,3 triệu dân cư ngụ tại đây. Cộng hòa Séc là một quốc gia đa đảng theo chế độ cộng hòa đại nghị. Tổng thống là người đứng đầu nhà nước, còn thủ tướng là người đứng đầu chính phủ. Quốc hội có hai viện gồm thượng viện và hạ viện. Cộng hòa Séc đã gia nhập NATO vào năm 1999 và trở thành thành viên của Liên minh châu Âu từ năm 2004. Ngày 21 tháng 12 năm 2007, Cộng hòa Séc đã thông qua Hiệp ước Schengen, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại và du lịch vào nước này. Ngoài ra, Cộng hòa Séc hiện nay cũng là thành viên của các tổ chức OECD, OSCE, Ủy hội châu Âu và Nhóm Visegrád.

Lãnh thổ Cộng hòa Séc, ngày nay bao gồm các vùng đất đã từng tồn tại trong lịch sử là Bohemia, Morava và một phần Silesia. Séc trở thành một bộ phận của Đế quốc Áo và Đế quốc Áo-Hung trong nhiều thế kỉ cho đến năm 1918, khi Séc cùng với Slovakia tuyên bố thành lập nước Tiệp Khắc. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Tiệp Khắc bị phát xít Đức chiếm đóng. Sau đó, nước này trở thành một quốc gia xã hội chủ nghĩa cho đến năm 1989 khi cuộc Cách mạng Nhung yên bình diễn ra, đưa đất nước trở về tiến trình dân chủ. Ngày 1 tháng 1 năm 1993, một cuộc ly khai ôn hòa đã diễn ra, Tiệp Khắc lại tách thành hai quốc gia độc lập là Séc và Slovakia.

Dự án Manhattan

Dự án Manhattan là một dự án nghiên cứu và phát triển đã chế tạo ra những quả bom nguyên tử đầu tiên trong Thế chiến II, chủ yếu do Hoa Kỳ thực hiện với sự giúp đỡ của Anh và Canada. Từ năm 1942 tới năm 1946, một lực lượng thuộc Công binh Lục quân Hoa Kỳ dưới quyền Thiếu tướng Leslie Groves tham gia vào dự án được tổ chức thành Khu vực Manhattan; tên "Manhattan" dần trở thành mật danh chính thức thay cho Phát triển Vật liệu Thay thế để chỉ toàn bộ dự án. Dự án cũng từng bước thu nhận một dự án nhỏ hơn, sớm hơn của người Anh mang tên Tube Alloys. Dự án Manhattan khởi đầu khá khiêm tốn vào năm 1939, nhưng lớn lên tới mức sử dụng nhân lực hơn 130 nghìn người và tiêu tốn gần 2 tỉ USD (tương đương 22 tỷ USD năm 2018). Trên 90% chi phí là nhằm để xây dựng các nhà máy và sản xuất vật liệu phân hạch, chỉ có gần 10% là dành cho phát triển và chế tạo vũ khí. Việc nghiên cứu và chế tạo diễn ra tại hơn 30 vị trí trên khắp Hoa Kỳ, Anh và Canada.

Hai loại vũ khí nguyên tử được phát triển trong thời chiến. Một loại vũ khí phân hạch kiểu súng tương đối đơn giản được chế tạo sử dụng urani-235, một đồng vị chiếm khoảng 0,7% urani tự nhiên. Vì nó giống hệt về mặt hóa học và có khối lượng xấp xỉ bằng đồng vị phổ biến urani-238, rất khó để có thể phân tách chúng. Người ta đã sử dụng ba phương pháp sử dụng để làm giàu urani: khuếch tán điện từ, khuếch tán khí và khuếch tán nhiệt. Hầu hết công trình này được tiến hành ở Oak Ridge, Tennessee. Song song với nghiên cứu sản xuất urani là một nỗ lực chế tạo plutoni tiến hành tại Oak Ridge và Handford, Washington. Trong các lò phản ứng, urani hấp thu bức xạ và biến đổi thành plutoni. Plutoni sau đó được phân tách hóa học khỏi urani. Thiết kế kiểu súng tỏ ra không thực tiễn để sử dụng với plutoni nên một vũ khí nổ sập được phát triển trong một nỗ lực thiết kế và xây dựng phối hợp chặt chẽ tại phòng thí nghiệm nghiên cứu và thiết kế chính của dự án ở Los Alamos, Mexico.

Dự án cũng liên quan tới việc thu thập tin tình báo về Dự án năng lượng hạt nhân Đức. Thông qua Chiến dịch Alsos, các thành viên của dự án Manhattan hoạt động ở châu Âu, đôi khi trong lãnh thổ kẻ thù, để thu thập các vật liệu và tài liệu hạt nhân và chiêu mộ các nhà khoa học Đức.

Thiết bị hạt nhân đầu tiên được kích hoạt là một quả bom nổ sập trong Vụ thử Trinity, thực hiện ở Bãi thử vũ khí Alamogordo ở New Mexico ngày 16 tháng 7 năm 1945. Little Boy, một vũ khí dạng súng, và Fat Man dạng nổ sập lần lượt được sử dụng trong các vụ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki. Trong những năm đầu hậu chiến, Dự án Manhattan tiến hành các vụ thử vũ khí ở Đảo san hô vòng Bikini như một phần của Chiến dịch Crossroads, phát triển các vũ khí mới, khuyến khích sự hình thành mạng lưới các phòng thí nghiệm quốc gia Hoa Kỳ, hỗ trợ các nghiên cứu y tế trong khoa chiếu xạ và thành lập hải quân hạt nhân. Dự án duy trì sự kiểm soát đối với việc nghiên cứu và chế tạo vũ khí hạt nhân cho tới khi Ủy ban Năng lượng Hạt nhân Hoa Kỳ được thành lập tháng 1 năm 1947.

Dù được tiến hành dưới vỏ bọc an ninh chắc chắn, nhưng các điệp viên nguyên tử Liên Xô vẫn thâm nhập thành công vào chương trình.

FIFA 100

FIFA 100 là bản danh sách "những cầu thủ vĩ đại nhất còn sống" được lựa chọn bởi tiền đạo người Brasil Pelé (người được mệnh danh là "Vua Bóng Đá"). Ra mắt vào ngày 4 tháng 3 năm 2004 tại buổi lễ Gala tại Luân Đôn, FIFA 100 đánh dấu một phần của lễ kỷ niệm 100 năm thành lập Liên đoàn bóng đá thế giới (FIFA), tổ chức điều hành bóng đá toàn cầu.Con số 100 là để chỉ lễ kỷ niệm sinh nhật thứ 100 của FIFA chứ không phải những cầu thủ được lựa chọn, số cầu thủ thực được lựa chọn là 125; Pelé được đề nghị lựa chọn ra 50 cầu thủ đang chơi bóng và 50 cầu thủ đã giải nghệ, cho tròn 100 cầu thủ, nhưng ông cảm thấy quá khó để hạn chế chỉ 50 cầu thủ đã giải nghệ. Danh sách bao gồm 123 cầu thủ nam và 2 cầu thủ nữ. Vào thời điểm FIFA 100 được lựa chọn, 50 cầu thủ vẫn còn đang chơi bóng và 75 thì đã giải nghệ.

Hoa Kỳ

Hoa Kỳ (tiếng Anh: United States - U.S hoặc America), còn gọi là Mỹ, tên đầy đủ là Hợp chúng quốc Hoa Kỳ hoặc Hợp chúng quốc Mỹ (tiếng Anh: United States of America - USA) là một nước cộng hòa lập hiến liên bang gồm 50 tiểu bang và 1 đặc khu liên bang. Quốc gia này nằm gần hoàn toàn trong Tây Bán cầu: 48 tiểu bang lục địa và thủ đô Washington, D.C., nằm giữa Bắc Mỹ, giáp Thái Bình Dương ở phía tây, Đại Tây Dương ở phía đông, Canada ở phía bắc, và México ở phía nam. Tiểu bang Alaska nằm trong vùng tây bắc của lục địa Bắc Mỹ, giáp với Canada ở phía đông. Tiểu bang Hawaii nằm giữa Thái Bình Dương. Hoa Kỳ cũng có 14 lãnh thổ hay còn được gọi là vùng quốc hải rải rác trong vùng biển Caribe và Thái Bình Dương.

Với 3,79 triệu dặm vuông (9.833.520 triệu km²) và 324,1 triệu dân (2018), Hoa Kỳ là quốc gia lớn thứ 3 hoặc thứ 4 về tổng diện tích (xem phần địa lý để biết thêm chi tiết) và thứ 3 về dân số trên thế giới. Hoa Kỳ là một trong những quốc gia đa dạng chủng tộc nhất trên thế giới, do kết quả của những cuộc di dân đến từ nhiều quốc gia khác trên thế giới. Nền kinh tế quốc dân của Hoa Kỳ lớn nhất trên thế giới và đứng thứ 2 thế giới (tính theo sức mua tương đương). Tổng sản phẩm nội địa (GDP) của Mỹ được ước tính cho năm 2015 là trên 18,1 ngàn tỷ đô la (khoảng 23% tổng sản lượng thế giới dựa trên GDP danh nghĩa, và khoảng 16% theo sức mua tương đương). GDP bình quân đầu người của Hoa Kỳ là 56.421 đô la, đứng hạng 5 thế giới theo giá trị thực và hạng 10 theo sức mua tương đương.Quốc gia được thành lập ban đầu với 13 thuộc địa của Liên hiệp Anh nằm dọc theo bờ biển Đại Tây Dương. Sau khi tự tuyên bố trở thành các "tiểu quốc", cả 13 cựu thuộc địa này đã đưa ra tuyên ngôn độc lập vào ngày 4 tháng 7 năm 1776. Các tiểu bang nổi loạn đã đánh bại Đế quốc Anh trong Chiến tranh Cách mạng Mỹ, đây là cuộc chiến tranh thuộc địa giành độc lập đầu tiên thành công trong lịch sử. Hội nghị Liên bang quyết định sử dụng bản Hiến pháp Hoa Kỳ hiện tại vào ngày 17 tháng 9 năm 1787. Việc thông qua bản hiến pháp một năm sau đó đã biến các cựu thuộc địa thành một phần của một nước cộng hòa duy nhất. Đạo luật nhân quyền Hoa Kỳ gồm có mười tu chính án hiến pháp được thông qua năm 1791.

Theo tư tưởng Vận mệnh hiển nhiên, Hoa Kỳ đã bắt đầu cuộc mở rộng lãnh thổ mạnh mẽ trên khắp Bắc Mỹ trong thế kỷ XIX. Sự kiện này bao gồm việc tiêu diệt các dân tộc bản địa (Diệt chủng người da đỏ), đánh chiếm những lãnh thổ mới, và từng bước thành lập các tiểu bang mới. Nội chiến Hoa Kỳ kết thúc chế độ nô lệ tại Hoa Kỳ và ngăn ngừa sự chia xé quốc gia. Đến cuối thế kỷ XIX, Hoa Kỳ đã mở rộng đến Thái Bình Dương, và trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới. Chiến tranh Tây Ban Nha – Hoa Kỳ và Chiến tranh thế giới thứ nhất đã xác định vị thế cường quốc quân sự toàn cầu của Hoa Kỳ. Chiến tranh thế giới thứ hai đã xác định vị thế siêu cường toàn cầu của Hoa Kỳ, là quốc gia đầu tiên có vũ khí hạt nhân, và là một trong năm thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Là siêu cường duy nhất còn lại sau Chiến tranh Lạnh, Hoa Kỳ được nhiều quốc gia nhìn nhận như là một thế lực quân sự, văn hóa, và kinh tế có ảnh hưởng lớn nhất trên thế giới. Tuy nhiên, xã hội Hoa Kỳ cũng đang tồn tại những vấn đề nan giải khó giải quyết (chênh lệch giàu nghèo cao, nạn xả súng bừa bãi, nạn phân biệt chủng tộc, tỷ lệ tội phạm cao, chi phí y tế đắt đỏ...).

Hy Lạp

Hy Lạp (tiếng Hy Lạp: Ελλάδα, chuyển tự Ellada hay Ελλάς, chuyển tự Ellas), tên chính thức là Cộng hòa Hy Lạp (tiếng Hy Lạp: Ελληνική Δημοκρατία, chuyển tự Elliniki Dimokratia), là một quốc gia thuộc khu vực châu Âu, nằm phía nam bán đảo Balkan. Hy Lạp giáp với các nước Albania, Cộng hòa Macedonia và Bulgaria về phía bắc, giáp với Thổ Nhĩ Kỳ về phía đông. Biển Aegea bao bọc phía đông và phía nam Hy Lạp, còn biển Ionia nằm ở phía tây. Phần lớn địa hình của đất nước này là núi non hiểm trở. Hy Lạp có rất nhiều những hòn đảo lớn nhỏ thuộc khu vực Địa Trung Hải. Dân số Hy Lạp năm 2015 xấp xỉ 10,955 triệu người.

Hy Lạp là một trong những nền văn minh rực rỡ nhất thời cổ đại, có ảnh hưởng sâu rộng đến nền văn minh quanh khu vực Địa Trung Hải. Đây là nơi ra đời của nền dân chủ, triết học phương Tây và Thế vận hội Olympic. Đến thời trung cổ, Hy Lạp trở thành một bộ phận của Đế chế Byzantine, rồi sau đó lại nằm trong Đế chế Ottoman trong gần bốn thế kỉ. Năm 1821, nhân dân Hy Lạp đã nổi dậy khởi nghĩa và giành lại độc lập cho dân tộc.

Đất nước Hy Lạp ngày nay là một quốc gia phát triển. Hy Lạp là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế như Liên Hiệp Quốc, NATO, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế - OECD, Tổ chức Thương mại Thế giới - WTO. Năm 1981, Hy Lạp trở thành một thành viên của Liên minh châu Âu.

Kẽm

Kẽm là một nguyên tố kim loại chuyển tiếp, ký hiệu là Zn và có số nguyên tử là 30. Nó là nguyên tố đầu tiên trong nhóm 12 của bảng tuần hoàn các nguyên tố. Kẽm, trên một số phương diện, có tính chất hóa học giống với magiê, vì ion của chúng có bán kính giống nhau và có số ôxy hoá duy nhất ở điều kiện bình thường là +2. Kẽm là nguyên tố phổ biến thứ 24 trong lớp vỏ Trái Đất và có 5 đồng vị bền. Quặng kẽm phổ biến nhất là quặng sphalerit, một loại kẽm sulfua. Những mỏ khai thác lớn nhất nằm ở Úc, Canada và Hoa Kỳ. Công nghệ sản xuất kẽm bao gồm tuyển nổi quặng, thiêu kết, và cuối cùng là chiết tách bằng dòng điện.

Đồng thau là một hợp kim của đồng và kẽm đã bắt đầu được sử dụng muộn nhất từ thế kỷ X TCN tại Judea và thế kỷ VII TCN tại Hy Lạp cổ đại. Mãi cho đến thế kỷ XII thì kẽm nguyên chất mới được sản xuất quy mô lớn ở Ấn Độ, và đến cuối thế kỷ XVI thì người châu Âu mới biết đến kẽm kim loại. Các mỏ ở Rajasthan được khai thác từ thế kỷ VI TCN. Cho đến nay, bằng chứng cổ xưa nhất về kẽm tinh khiết là từ Zawar ở Rajasthan vào khoảng thế kỷ IX, người ta dùng phương pháp chưng cất để tạo ra kẽm nguyên chất. Các nhà giả kim thuật đốt kẽm trong không khí để tạo thành một chất mà họ gọi là "len của nhà triết học" hay "tuyết trắng".

Nhà hóa học người Đức Andreas Sigismund Marggraf được công nhận đã tách được kẽm kim loại tinh khiết năm 1746. Luigi Galvani và Alessandro Volta đã phát hiện ra các đặc tính điện hóa học của kẽm vào năm 1800. Ứng dụng chính của kẽm là làm lớp phủ chống ăn mòn trên thép. Các ứng dụng khác như làm pin kẽm, và hợp kim như đồng thau. Nhiều hợp chất kẽm cũng được sử dụng phổ biến như kẽm cacbonat và kẽm gluconat (bổ sung dinh dưỡng), kẽm clorua (chất khử mùi), kẽm pyrithion (dầu gội đầu trị gàu), kẽm sulfua (sơn huỳnh quang), và kẽm methyl hay kẽm diethyl sử dụng trong hóa hữu cơ ở phòng thí nghiệm.

Kẽm là một chất khoáng vi lượng thiết yếu cho sinh vật và sức khỏe con người, đặc biệt trong quá trình phát triển của thai nhi và của trẻ sau khi sinh. Thiếu kẽm ảnh hưởng đến khoảng 2 tỷ người ở các nước đang phát triển và liên quan đến nguyên nhân một số bệnh. Ở trẻ em, thiếu kẽm gây ra chứng chậm phát triển, phát dục trễ, dễ nhiễm trùng và tiêu chảy, các yếu tố này gây thiệt mạng khoảng 800.000 trẻ em trên toàn thế giới mỗi năm. Các enzym liên kết với kẽm trong trung tâm phản ứng có vai trò sinh hóa quan trọng như alcohol dehydrogenase ở người. Ngược lại việc tiêu thụ quá mức kẽm có thể gây ra một số chứng như hôn mê, bất động cơ và thiếu đồng.

Kế hoạch Marshall

Kế hoạch Marshall (Marshall Plan) là một kế hoạch trọng yếu của Hoa Kỳ nhằm tái thiết và thiết lập một nền móng vững chắc hơn cho các quốc gia Tây Âu, đẩy lùi chủ nghĩa cộng sản sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Mang tên chính thức "Kế hoạch phục hưng châu Âu" (European Recovery Program - ERP), nhưng Kế hoạch Marshall thường được gọi theo tên của Ngoại trưởng Mỹ George Marshall, người đã khởi xướng và ban hành kế hoạch. Kế hoạch Marshall là thành quả lao động của các quan chức Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, trong đó ghi nhận sự đóng góp đặc biệt của William L. Clayton và George F. Kennan.

Kế hoạch tái thiết được phát triển tại cuộc họp mặt của các quốc gia Châu Âu ngày 12 tháng 7 năm 1947. Kế hoạch Marshall đề ra việc viện trợ tương đương cho Liên Xô và đồng minh của họ, nhưng không được chấp nhận. Kế hoạch được thực thi trong vòng 4 năm, kể từ tháng 7 năm 1947. Trong thời gian đó, có khoảng 17 tỷ đô la Mỹ viện trợ kinh tế và hỗ trợ kỹ thuật để giúp khôi phục các quốc gia châu Âu tham gia Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế - OECD. Nhiều quốc gia châu Âu đã nhận được viện trợ trước khi có Kế hoạch Marshall, kể từ năm 1945, cùng với các điều kiện chính trị kèm theo.

Kế hoạch Marshall cũng là một phần trong kế hoạch chính trị của Mỹ nhằm tăng cường ảnh hưởng đối với các nước Đồng minh Tây Âu và chống lại Liên Xô, cũng như để tạo thuận lợi cho việc kinh doanh của các Tập đoàn xuyên quốc gia Mỹ tại Tây Âu. Để phục vụ mục đích này, Mỹ đã viện trợ kinh tế cho cả chính quyền phát xít Tây Ban Nha, cũng như viện trợ chiến phí cho thực dân Pháp, thực dân Hà Lan quay trở lại xâm chiếm Đông Nam Á. Cho tới khi kết thúc dự án, nền kinh tế của các quốc gia nằm trong Kế hoạch, ngoại trừ Tây Đức, đã phát triển vượt mức trước chiến tranh.

Trong vòng hai thập kỷ tiếp đó, nhiều vùng ở Tây Âu tiếp tục đạt được mức tăng trưởng chưa từng có trước đó. Kế hoạch Marshall cũng được xem là một trong các thành tố của quá trình hội nhập châu Âu, vì nó xóa bỏ hàng rào thuế quan và thiết lập các cơ quan điều phối kinh tế tầm cỡ lục địa.

Trong những năm gần đây, các sử gia đặt câu hỏi về cả động cơ bên trong cũng như tính hiệu quả chung của Kế hoạch Marshall. Một số sử gia cho rằng hiệu quả của Kế hoạch Marshall thực tế là từ chính sách laissez-faire (tạm dịch: thả nổi) cho phép thị trường tự bình ổn qua sự phát triển kinh tế. Người ta cho rằng Tổ chức Cứu trợ và Phục hồi của Liên Hiệp Quốc, vốn giúp hàng triệu người tị nạn từ năm 1944 tới 1947, cũng giúp đặt nền móng cho sự phục hồi châu Âu thời hậu chiến.

Napoléon Bonaparte

Napoléon Bonaparte (phiên âm: Na-pô-lê-ông Bôn-na-pác; tiếng Pháp: Napoléon Bonaparte [napoleɔ̃ bɔnɑpaʁt], tiếng Ý: Napoleone Buonaparte; một số sách Việt còn ghi tên ông là Nã Phá Luân (拿破侖); 15 tháng 8 năm 1769 – 5 tháng 5 năm 1821) là một nhà quân sự và nhà chính trị tiêu biểu của Pháp trong và sau cuộc cách mạng Pháp cũng như các cuộc chiến tranh liên quan ở châu Âu.

Với đế hiệu Napoléon I, ông là Hoàng đế của người Pháp từ năm 1804 đến năm 1815. Cuộc cải cách pháp luật của ông, Bộ luật Napoléon, đã có những ảnh hưởng lớn lên nhiều bộ luật dân sự trên toàn thế giới, nhưng ông được nhớ đến nhất bởi vai trò của mình trong các cuộc chiến tranh mà Pháp phải đương đầu với hàng loạt liên minh, được gọi là các cuộc chiến tranh Napoléon. Ông đã thiết lập quyền bá chủ trên phần lớn lục địa châu Âu và tìm cách truyền bá những lý tưởng của cách mạng Pháp, đồng thời củng cố nền đế chế làm phục hồi những nét của chế độ cũ Pháp (Ancien Régime). Nhờ thắng lợi trong những cuộc chiến này, thường là chống lại đối phương có ưu thế về quân số, ông được coi là một trong những nhà chỉ huy quân sự tài ba nhất mọi thời đại, và các chiến dịch của Napoléon

được nghiên cứu tại các học viện quân sự trên khắp thế giới.

Napoléon được sinh ra ở Ajaccio thuộc Corse, trong một gia đình thuộc dòng dõi quý tộc Genova (Ý). Ông được đào tạo thành một sĩ quan pháo binh ở Pháp. Bonaparte trở nên nổi tiếng dưới thời Đệ Nhất Cộng hòa Pháp khi chỉ huy thành công nhiều chiến dịch chống lại Liên minh thứ nhất và thứ hai chống Pháp. Ông cũng tiến hành cuộc chinh phạt bán đảo Ý.

Năm 1799, ông đã tổ chức một cuộc đảo chính và tự đưa mình trở thành vị Tổng tài thứ nhất; năm năm sau đó Thượng viện Pháp tuyên xưng ông là Hoàng đế Pháp. Trong thập niên đầu tiên của thế kỷ XIX, Đệ Nhất Đế chế Pháp dưới quyền Napoléon đã tham gia vào một loạt xung đột — những cuộc chiến tranh Napoléon — lôi kéo mọi cường quốc chính ở châu Âu tham gia. Sau một loạt thắng lợi, Pháp đạt được vị trí thống trị ở lục địa châu Âu, và Napoléon duy trì phạm vi ảnh hưởng của Pháp thông qua việc thành lập của những mối đồng minh rộng lớn và bổ nhiệm bạn bè và người thân cai trị các quốc gia châu Âu khác như những chư hầu của Pháp.

Cuộc chiến kéo dài ở bán đảo Iberia và cuộc xâm lược nước Nga năm 1812 đánh dấu bước ngoặt trong cơ đồ của Napoléon. Quân đội chủ lực của Pháp, Grande Armée, bị tổn thất nặng nề trong chiến dịch và không bao giờ có thể khôi phục lại hoàn toàn. Năm 1813, Liên minh thứ sáu đã đánh bại quân đội của ông tại Leipzig, năm sau đó Liên minh xâm lược Pháp, buộc Napoléon phải thoái vị và đày ông đến đảo Elba. Chưa đầy một năm sau, ông thoát khỏi Elba và trở lại nắm quyền, nhưng đã bị đánh bại trong trận Waterloo vào tháng 6 năm 1815. Napoléon trải qua sáu năm cuối cùng của cuộc đời trong sự giam cầm của người Anh trên đảo Saint Helena. Cái chết của ông gây ra nhiều tranh cãi về sau, chẳng hạn một số học giả cho rằng ông là nạn nhân của một vụ đầu độc bằng arsen.

Ảnh hưởng của Napoléon đối với thế giới hiện đại là đã mang lại những cải cách tự do cho nhiều vùng lãnh thổ mà ông đã chinh phục và kiểm soát, chẳng hạn như Hà Lan, Thụy Sĩ và một phần lớn của nước Ý và Đức hiện đại. Ông đã thực hiện các chính sách tự do cơ bản ở Pháp và khắp Tây Âu. Bộ luật Napoleon của ông đã ảnh hưởng đến hệ thống pháp luật của hơn 70 quốc gia trên thế giới. Nhà sử học Anh, Andrew Roberts bình luận: "Những ý tưởng củng cố thế giới hiện đại của chúng ta — công lý, chế độ nhân tài (chính quyền do những người thực sự có tài năng nắm giữ), bình đẳng trước pháp luật, quyền sở hữu, sự khoan dung tôn giáo, giáo dục thế tục hiện đại, tài chính ổn định, và nhiều thứ khác... — đã được bảo vệ, củng cố, chỉnh lý và mở rộng về mặt địa lý bởi Napoleon. Ông còn bổ sung theo đó là một chính quyền địa phương hợp lý và có năng lực, chấm dứt nạn cướp bóc ở nông thôn, khuyến khích khoa học và nghệ thuật, việc bãi bỏ chế độ phong kiến và sự lập pháp lớn nhất kể từ khi Đế quốc La Mã sụp đổ".

Phục Hưng

Phục Hưng (tiếng Pháp: Renaissance, phát âm tiếng Pháp: [ʁənɛsɑ̃ːs], tiếng Ý: Rinascimento, từ ri- "lần nữa" và nascere "được sinh ra") là một phong trào văn hóa thường được xem là bao gồm giai đoạn từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII, khởi đầu tại Firenze (Ý) vào Hậu kỳ Trung Đại, sau đó lan rộng ra phần còn lại của châu Âu trên những quy mô và mức độ khác nhau. Người ta cũng dùng từ Phục Hưng để chỉ, một cách không nhất quán, thời kỳ lịch sử diễn ra phong trào văn hóa nói trên.

Như một phong trào văn hóa, Phục Hưng bao hàm sự nở rộ các nền văn học tiếng Latin cũng như các tiếng dân tộc, bắt đầu từ sự phục hồi việc nghiên cứu các tư liệu cổ điển, sự phát triển của phép phối cảnh tuyến tính và các kỹ thuật nhằm biểu diễn hiện thực tự nhiên hơn trong mỹ thuật, và một cuộc cải cách giáo dục tiệm tiến nhưng phổ cập.Trong chính trị, Phục Hưng đã đóng góp vào sự phát triển những hiệp ước ngoại giao, và trong khoa học là một sự quan tâm lớn hơn tới quan sát thực nghiệm. Các sử gia thường lập luận những biến đổi về trí tuệ này là một cầu nối giữa Trung Cổ và thời hiện đại. Mặc dù Phục Hưng chứng kiến những cuộc cách mạng trong nhiều lĩnh vực, cũng như những thay đổi chính trị-xã hội, nó vẫn được biết đến nhiều nhất bởi những thành tựu lớn lao về mỹ thuật và những cống hiến của những vĩ nhân đa tài như Leonardo da Vinci hay Michelangelo đã làm xuất hiện thuật ngữ Vĩ nhân Phục Hưng ("Renaissance Great Man"). Có một cuộc tranh luận kéo dài trong giới sử học về quy mô, phân kì văn hóa thời đại Phục Hưng, cũng như giá trị và ý nghĩa của nó. Bản thân thuật ngữ Renaissance, do nhà sử học Pháp Jules Michelet đặt ra năm 1855 cũng là đối tượng của những chỉ trích, rằng nó ngụ ý một sự mô tả thái quá về giá trị tích cực của thời kỳ này.Có một sự đồng thuận rằng thời kỳ Phục hưng bắt đầu ở Firenze, Italia, trong thế kỷ XIV. Có nhiều giả thuyết khác nhau được đề xuất để giải thích cho nguồn gốc và đặc điểm của nó, tập trung vào một loạt các yếu tố bao gồm đặc thù xã hội và công dân của Firenze tại thời điểm đó, cấu trúc chính trị của nó, sự bảo trợ của dòng họ thống trị, nhà Medici, và sự di cư của các học giả và các bản văn Hy Lạp sang Ý sau sự thất thủ của Constantinopolis dưới tay người Thổ Ottoman.

Thư viện Quốc gia Pháp

Thư viện Quốc gia Pháp (Bibliothèque nationale de France) là thư viện quan trọng nhất, đồng thời là cơ quan giữ chức năng lưu chiểu xuất bản phẩm của Pháp. Với vai trò thư viện quốc gia, đây cũng là nơi sưu tầm và lưu trữ những di sản thư tịch, đồng thời đảm nhiệm chức năng biên soạn, phát hành thư mục quốc gia. Thư viện Quốc gia Pháp ngày nay bao gồm 5 địa điểm và 2 trung tâm bảo quản tài liệu, trong đó địa điểm chính mang tên François-Mitterrand nằm ở Quận 13, Paris, còn địa điểm lịch sử Richelieu vẫn nằm trong trung tâm thành phố. Năm 2008, ngân sách của thư viện lên đến 280,6 triệu euro với tổng số nhân viên khoảng 2.500 người.

Thư viện Quốc gia Pháp có lịch sử bắt đầu vào năm 1368, khi vua Charles V cho thành lập thư viện cá nhân đặt trong cung điện Louvre. Năm 1537, François I ghi một dấu ấn quan trọng trong lịch sử thư viện khi ban hành chiếu dụ Montpellier, bắt buộc tất cả những ấn phẩm xuất bản tại Pháp phải có một bản sao lưu giữ trong thư viện hoàng gia ở lâu đài Blois. Thế kỷ 17, nhờ Jean-Baptiste Colbert, thư viện có những bước tiến mạnh mẽ và đạt đến giai đoạn hoàng kim trong suốt những năm của thế kỷ 18. Trở thành thư viện quốc gia vào thời kỳ Cách mạng, thư viện không ngừng đón nhận những bộ sưu tập sách được đưa về từ khắp Paris và nước Pháp, rồi từ cả những quốc gia láng giềng. Sự phát triển liên tục của bộ sưu tập tài liệu đã đẩy thư viện vào giai đoạn khó khăn tiếp theo vì thiếu không gian lưu trữ. Năm 1988, sau những cuộc tranh luận kéo dài, Tổng thống François Mitterrand quyết định xây dựng một thư viện mới. Trải qua 5 năm xây dựng, thư viện François-Mitterrand được khánh thành vào năm 1996, mang cái tên tưởng nhớ tới vị tổng thống đã khai sinh công trình.

Ngày nay, Thư viện Quốc gia Pháp là nơi lưu giữ nhiều bộ sưu tập tài liệu quan trọng với 13 triệu cuốn sách, 250 nghìn tập bản thảo, 350 nghìn tựa báo và tạp chí, 12 triệu bản in cùng nhiều tài liệu dạng khác bằng hàng trăm ngôn ngữ. Trong những kho lưu trữ của thư viện, có thể thấy rất nhiều những bản thảo của các nhà văn danh tiếng, những cuốn sách chép tay quý giá, những bản Kinh Thánh cổ cùng nhiều tài liệu có giá trị đặc biệt—như Jikji, cuốn sách in kim loại đầu tiên thực hiện năm 1377, hay bức ảnh cổ nhất do Nicéphore Niépce chụp năm 1825. Một phần quan trọng của bộ sưu tập tài liệu cũng đã được Thư viện Quốc gia Pháp số hóa và đưa lên thư viện số Gallica.

Với vai trò một thư viện quan trọng trên thế giới, Thư viện Quốc gia Pháp tham gia vào nhiều dự án quốc tế, hợp tác và trao đổi tài liệu cùng nhiều thư viện, cơ quan khác. Thư viện giữ vị trí trung tâm trong dự án Thư viện số Pháp ngữ và cũng góp phần quan trọng xây dựng thư viện số châu Âu Europeana. Từ năm 2007, giữ cương vị chủ tịch của Thư viện Quốc gia Pháp là nhà văn Bruno Racine.

Trận Hà Lan

Trận Hà Lan (tiếng Hà Lan: Slag om Nederland) là một phần trong "Kế hoạch Vàng" (tiếng Đức: Fall Gelb) - cuộc xâm lăng của Đức Quốc xã vào Vùng đất thấp (Bỉ, Luxembourg, Hà Lan) và Pháp trong chiến tranh thế giới thứ hai. Trận chiến bắt đầu ngày 10 và kết thúc ngày 14 tháng 5 năm 1940 khi quân đội chính quy của Hà Lan ra hàng Đức, và Hà Lan trở thành quốc gia Tây Âu đầu tiên rơi vào tay quân đội Đức Quốc xã. Đây là chiến dịch quân sự ngắn nhất và ít thiệt hại nhất đối với Đức nằm trong khuôn khổ trận chiến nước Pháp. Riêng lực lượng của Hà Lan tại tỉnh Zeeland còn tiếp tục kháng cự với quân đội Đức Quốc xã cho đến ngày 17 tháng 5, khi Đức hoàn tất việc chiếm đóng toàn bộ lãnh thổ Hà Lan.

Trận Hà Lan là một trong những trường hợp đầu tiên quân dù được sử dụng để đánh chiếm các mục tiêu quan trọng trước khi bộ binh tiếp cận mục tiêu. Không quân Đức đã huy động lực lượng lính dù đánh chiếm nhiều sân bay lớn của Hà Lan ở trong và lân cận các thành phố chính như Rotterdam và Den Haag để nhanh chóng tràn ngập quốc gia này và vô hiệu hóa các lực lượng của Hà Lan.

Trận chiến đã kết thúc ngay sau cuộc oanh tạc Rotterdam của không quân Đức cùng với mối đe doạ sau đó của Đức về việc hủy diệt các thành phố lớn của Hà Lan bằng các đòn ném bom khủng bố huỷ diệt nếu quốc gia này không chịu khuất phục. Bộ Tư lệnh tối cao Hà Lan, biết rằng không thể ngăn chặn được các máy bay ném bom của đối phương, đã quyết định đầu hàng để tránh cho các thành phố khác của mình phải chịu số phận tương tự. Đức Quốc xã sau đó đã chiếm đóng Hà Lan, cùng với nước Pháp và các quốc gia Vùng Đất Thấp khác; cho đến khi lãnh thổ Hà Lan được hoàn toàn giải phóng vào tháng 5 năm 1945.

Trận Waterloo

Trận Waterloo (phiên âm: Trận Oa-téc-lô) diễn ra vào ngày chủ nhật 18 tháng 6 năm 1815 tại một địa điểm gần Waterloo, thuộc Bỉ ngày nay. Đây là một trong những trận đánh nổi tiểng nhất và cũng là dấu chấm hết cho cuộc chiến tranh Napoléon. Đại quân Pháp (La Grande Armée) dưới sự chỉ huy của Hoàng đế Napoléon I đã bị đánh bại bởi liên quân của Liên minh thứ bảy, bao gồm quân Anh và đồng minh do Thống chế Arthur Wellesley, Công tước thứ nhất của Wellington chỉ huy và quân Phổ do Thống chế Gebhard von Blücher chỉ huy. Đây là trận đánh kết thúc chiến dịch Waterloo và cũng là trận đánh cuối cùng của Napoléon. Thất bại ở trận đánh này đã đặt dấu chấm hết cho ngôi vị Hoàng đế Pháp của Napoléon và Vương triều Một trăm ngày của ông.

Sau khi Napoléon trở lại nắm quyền vào năm 1815, các nước chống lại ông đã cùng nhau thành lập Liên minh thứ bảy, và bắt đầu điều động quân đội. Hai lực lượng lớn dưới quyền chỉ huy của Wellington và Blücher tiến sát biên giới phía đông bắc nước Pháp. Napoléon quyết định tấn công để tiêu diệt họ trước khi họ kết hợp cùng các thành viên khác trong Liên minh để tiến hành một cuộc xâm lăng vào nước Pháp. Trận Waterloo chính là cuộc chiến quyết định trong chiến dịch Waterloo ba ngày (từ 16-19 tháng 6 năm 1815) này. Trước đó, vài trận đánh đẫm máu đã kết thúc với thất bại của Napoléon trong việc ngăn cách các kẻ thù của ông - sự lặp lại của chiến bại của ông hồi chiến tranh Liên minh thứ sáu.Napoléon trì hoãn trận đánh đến trưa ngày 18 tháng 6 để chờ mặt đất khô ráo. Quân của Wellington, bố trí dọc tuyến đường Brussels trên dốc núi Mont-Saint-Jean, đã chống trả nhiều đợt tấn công dữ dội của quân Pháp cho đến chiều tối, khi mà quân Phổ kéo tới và xuyên thủng cánh phải của Napoléon. Lúc đó quân của Wellington cũng phản công và khiến quân Pháp phải rút lui trong rối loạn. Lực lượng liên quân truy đuổi sau đó tiến vào Pháp và phục hồi vương vị cho vua Louis XVIII. Napoléon phải thoái vị và bị lưu đày tới đảo Saint Helena, nơi ông qua đời vào năm 1821.

Sau toàn thắng, Wellington trở thành vị anh hùng chói lọi của đất nước Anh. Nhân dân châu Âu lục địa cũng phải kính nể ông vì chiến công hiển hách hoàn toàn hạ đo ván Napoléon. Chiến trường của trận Waterloo ngày nay nằm ở nước Bỉ, cách Brussels 8 dặm (12 km), và cách thị trấn của Waterloo khoảng một dặm (1,6 km). Một khu vực tưởng niệm nhân tạo được gọi là Đồi sư tử (Lion's Mound) đã được dựng lên ở đây, khiến địa hình của chiến trường bị thay đổi so với lúc xảy ra trận đánh.

Trận chiến nước Pháp

Trận chiến nước Pháp (tiếng Pháp: Bataille de France), hay Chiến dịch phía tây (tiếng Đức:Westfeldzug) theo cách gọi của người Đức, là một chiến dịch tấn công chiến lược của Quân đội Đức Quốc xã vào Pháp, Hà Lan, Bỉ, Luxembourg trong Chiến tranh thế giới thứ hai, bắt đầu ngày 10 tháng 5 năm 1940, đánh dấu kết thúc Cuộc chiến tranh kỳ quặc và chiến sự chính thức bùng nổ tại Tây Âu.

Cuộc chiến này bao gồm hai diễn biến chính. Đầu tiên, theo Kế Hoạch Vàng (Fall Gelb), với một chiến lược táo bạo, mũi tấn công mồi của Quân đội Đức Quốc xã vào Vùng Đất Thấp thu hút chủ lực Đồng Minh, tạo bất ngờ cho mũi tấn công chính băng qua khu rừng Ardennes. Được tổ chức theo phương thức Blitzkrieg, ngay sau khi đột phá phòng tuyến sông Meuse của Quân đội Pháp ở Sedan, lực lượng thiết giáp Đức đã thọc sâu tốc độ cao về eo biển Manche, cô lập chủ lực Đồng Minh ở phía bắc. Thắng lợi ở Dunkirk, tuy không hoàn toàn vì để Lực lượng Viễn chinh Anh kịp sơ tán trong Chiến dịch Dynamo, nhưng cũng đủ mang tính quyết định, tạo điều kiện để đánh quỵ hoàn toàn Quân đội Pháp trong các hoạt động quân sự tiếp theo. Trong giai đoạn Kế Hoạch Đỏ (Fall Rot), quân Đức bọc đánh phòng tuyến Maginot, tiến sâu xuống phía nam, kéo theo Ý nhảy vào tuyên chiến với Pháp ngày 10 tháng 6, cũng trong ngày này Chính phủ Pháp tháo chạy về Bordeaux. Paris thất thủ ngày 14 tháng 6 và từ đó dẫn tới sự khủng hoảng trong chính phủ Pháp. Ngày 17 tháng 6, Thống chế Philippe Pétain thành lập chính phủ mới và tuyên bố Pháp đề nghị đình chiến. Đến ngày 22 tháng 6 năm 1940, 6 tuần lễ sau khi chiến dịch bắt đầu, hiệp định đình chiến giữa Pháp và Đức được ký kết tại Compiègne, và có hiệu lực từ ngày 25 tháng 6, đánh dấu sự đầu hàng của nước Pháp.

Chiến dịch này là một trong những thắng lợi ngoạn mục nhất trong toàn cuộc chiến của phe Trục. Về cơ bản Đức đã đánh quỵ được nước Pháp, đối thủ chính của mình trong giai đoạn này. Chiến thắng nhanh chóng ở Pháp đã đem lại cho Đức ưu thế chiến lược to lớn, một mặt có được bàn đạp cho hoạt động trên không và trên biển chống lại Anh, một mặt khác rảnh tay chuẩn bị cho mặt trận phía đông chống Liên Xô.

Nước Pháp bị chia cắt thành khu vực chiếm đóng của Đức ở miền Bắc và Tây, một khu vực chiếm đóng nhỏ của Ý ở Đông Nam và một vùng tự do ở phía nam do Chính phủ bù nhìn Vichy quản lý. Đến tháng 11 năm 1942, cả vùng tự do cũng bị chiếm đóng và toàn bộ nước Pháp nằm dưới sự thống trị của phe phát xít cho đến khi Đồng Minh đổ bộ lên Normandie năm 1944.

Washington, D.C.

Washington, D.C. là thủ đô của Hoa Kỳ, được thành lập vào ngày 16 tháng 7 năm 1790, thường được gọi ngắn gọn là Washington, hoặc D.C. Địa danh này mang tên vị Tổng thống đầu tiên George Washington của Hợp chúng quốc, kết hợp với tên của người khám phá ra châu Mỹ Cristoforo Colombo. Tên chính thức là District of Columbia (viết tắt D.C.), có nghĩa Đặc khu Columbia, trong tiếng Việt cũng được dịch là Quận Columbia nhưng dễ nhầm lẫn vì có đến 8 quận tại Hoa Kỳ mang tên Columbia, đặc biệt nhất là quận Columbia, Washington, một quận nằm trong tiểu bang Washington; trong nhiệm kỳ tổng thống của George Washington, thành phố được kế hoạch bởi kỹ sư Pierre-Charles L'Enfant (1754–1825) và được xây dựng làm thủ đô. Về địa vị chính trị thì Washington, D.C. được xem là gần như tương đương với các tiểu bang của Hoa Kỳ.Thành phố Washington ban đầu là một đô thị tự quản riêng biệt bên trong Lãnh thổ Columbia cho đến khi một đạo luật của Quốc hội Hoa Kỳ năm 1871 có hiệu lực kết hợp thành phố và lãnh thổ này thành một thực thể duy nhất được gọi là Đặc khu Columbia. Đó là lý do tại sao thành phố này trong khi có tên gọi chính thức là Đặc khu Columbia lại được biết với tên gọi là Washington, D.C., có nghĩa là thành phố Washington, Đặc khu Columbia. Thành phố nằm bên bờ bắc sông Potomac và có ranh giới với tiểu bang Virginia ở phía tây nam và tiểu bang Maryland ở các phía còn lại. Tuy đặc khu này có dân số 672.228 người nhưng do nhiều người di chuyển ra vào từ các vùng ngoại ô lân cận nên dân số thực tế lên đến trên 1,1 triệu người trong suốt tuần làm việc. Vùng đô thị Washington, bao gồm cả thành phố, có dân số 6,1 triệu người là vùng đô thị lớn thứ 6 tại Hoa Kỳ.

Điều một trong Hiến pháp Hoa Kỳ có nói đến việc lập ra một đặc khu liên bang, không phụ thuộc vào bất cứ tiểu bang nào, để phục vụ như thủ đô vĩnh viễn của quốc gia. Các trung tâm của ba ngành trong chính phủ liên bang Hoa Kỳ cùng nhiều đài tưởng niệm và bảo tàng quốc gia đều nằm trong đặc khu. Washington, D.C. là nơi tiếp nhận 173 đại sứ quán ngoại quốc cũng như các tổng hành dinh của Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Tổ chức các quốc gia châu Mỹ (OAS), Ngân hàng Phát triển Liên Mỹ, và Tổ chức Y tế Liên Mỹ (PAHO). Ngoài ra còn có tổng hành dinh của các cơ quan khác như các liên đoàn lao động, các nhóm vận động hành lang, và các hội đoàn nghiệp vụ cũng đặt tại nơi đây.

Quốc hội Hoa Kỳ có quyền hành tối cao đối với Washington, D.C. vì vậy cư dân của thành phố có ít quyền tự trị hơn cư dân của các tiểu bang Hoa Kỳ. Đặc khu có một đại biểu quốc hội chung nhưng không có quyền biểu quyết và cũng không có thượng nghị sĩ nào. Cư dân Đặc khu Columbia trước đây không thể tham gia bầu Tổng thống Hoa Kỳ cho đến khi Tu chính án 23 Hiến pháp Hoa Kỳ được thông qua năm 1961. Nếu Washington, D.C. là một tiểu bang thì nó sẽ đứng cuối cùng tính theo diện tích, hạng hai từ cuối nếu tính theo dân số, đứng đầu tính theo mật độ dân số, đứng thứ 35 tính theo tổng sản phẩm nội địa tiểu bang, và đứng hạng nhất về phần trăm dân số người Mỹ gốc châu Phi, khiến cho Washington, D.C. trở thành một tiểu bang có đa số dân thiểu số.

 
Liên kết đến các bài viết liên quan

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.