Bắc Băng Dương

Bắc Băng Dương (chữ Hán: 北冰洋) là đại dương nhỏ nhất trong năm đại dương của Trái Đất, bao quanh cực Bắc,[1] nơi đây băng tuyết bao phủ hoàn toàn vào mùa đông và một phần quanh năm.[2]diện tích 14.090.000 km² và có độ sâu trung bình 1.038 mét. Bao quanh bởi các vùng đất của Liên bang Nga, Hoa Kỳ (vùng Alaska), Canada, Na Uy, Đan Mạch (vùng Greenland). Nhiệt độđộ mặn của nó thay đổi theo mùa vào thời gian đóng băng và tan băng;[3] độ măn của nó có giá trị thấp nhất so với giá trị độ mặn trung bình của 5 đại dương lớn, do tốc độ bốc hơi thấp, lượng nước ngọt đổ vào từ các sông và suối lớn và có ít liên hệ với các đại dương và vực nước xung quanh.

Arctic Ocean
Bắc Băng Dương trên bản đồ thế giới

Lịch sử thám hiểm

Adolf Erik Nordenskiöld målad av Georg von Rosen 1886
Adolf Erik Nordenskiöld trong chuyến thám hiểm Bắc Băng Dương 1886
Map of the Arctic, 1780s - B&W.jpeg
Bản đồ địa hình Bắc Băng Dương thập niên 1780 của Emanuel Bowen "biển phía Bắc".

Trong hầu hết lịch sử châu Âu, các khu vực của Bắc Cực vẫn còn phần lớn chưa được khám phá và chỉ mang tính phỏng đoán của họ. Pytheas của Massilia đã có một chuyến thám hiểm về phía bắc vào năm 325 TCN, đến vùng đất mà ông gọi là "Eschate Thule," nơi Mặt Trời chỉ có 3 giờ mỗi ngày và mặt nước bị thay thế bằng một chất đông cứng "trên đó người ta không thể đi bộ cũng như không thể đi bằng tàu." Ông có thể đã miêu tả lớp biển băng mỏng ngày nay là "chỏm băng nhỏ"." Từ "Thule" có thể là Na Uy qua quần đảo Faroe hoặc đảo Shetland mà ông đã nêu ra.[4] Các nhà bản đồ học không chắc rằng liệu có thể vẽ khu vực xung quanh Bắc cực là vùng đất (như trong bản đồ năm 1507 của Johannes Ruysch, hay bản đồ năm 1595 của Gerardus Mercator) hay vùng nước (như trong bản đồ thế giới năm 1507 của Martin Waldseemüller).

Vài cuộc thám hiểm đã đi sâu hơn vào vòng Bắc Cực trong thời gian này và đã vẽ một vài hòn đảo nhỏ như Novaya Zemlya (thế kỷ 11) và Spitsbergen (1596), tuy nhiên do khu vực này thường xuyên bị băng phủ nên giới hạn phía bắc của nó vẫn chưa rõ ràng. Các nhà sản xuất biểu đồ điều hướng, dè dặt hơn so với một số các nhà vẽ bản đồ huyền ảo hơn, có xu hướng để lại các khu vực trống, chỉ với những đoạn bờ biển đã biết phác thảo ra.

Fridtjof Nansen là người đầu tiên thực hiện chuyến hải trình qua Bắc Băng Dương năm 1896. Vượt qua bề mặt đại dương này đầu tiên là Wally Herbert năm 1969, trong một chuyến thám hiểm bằng dog sled (xe đi trên băng do chó kéo) từ Alaska đến Svalbard với sự hỗ trợ của máy bay.[5]

Từ năm 1937, các trạm nghiên cứu băng trôi của Liên Xô và Nga đã quan trắc trên diện rộng Bắc Băng Dương. Các nhà khoa học sống trên các tả băng trôi và đã đi được hàng ngàn cây số trên các tảng băng trôi đó.[6]

Động vật và thực vật

Các loài động vật biển bị đe dọa ở Bắc Băng Dương gồm Hải tượng (Odobenus rosmarus) và cá voi.[7] Khu vực này có một hệ sinh thái mong manh, chậm thay đổi và chậm phục hồi khi bị phá vỡ.[7] Cyanea capillata là loài phổ biến trong các vùng nước của Bắc Băng Dương và pholis fasciata là loài duy nhất trong họ Pholidae còn sống trong đại dương.

Bắc Băng Dương có tương đối ít các loài thực vật ngoại trừ phytoplankton. Phytoplankton là một phần quan trọng trong đại dương và là lượng sinh khối lớn ở Bắc Băng Dương, ở đây chúng ăn thức ăn từ các con sông và các dòng hải lưu của Thái Bình Dương và Đại Tây Dương.[8] Trong suốt mùa hè, Mặt Trời hiện diện cả ngày lẫn đêm, điều này giúp cho phytoplankton quang hợp nhiều hơn và sinh sản một cách nhanh chóng. Tuy nhiên, yếu tố này ngược lại trong mùa đông.[8]

SH101220
Little Auk (js) 24
Grönlandwal 5-1999
Expl0393 - Flickr - NOAA Photo Library
Gấu Bắc Cực Alle alle Cá voi đầu cong Crossota norvegica

Đảo

Các cảng chính

Một số cảng nổi tiếng từ tây sang đông bao gồm:

  • Hoa Kỳ
    • Barrow, Alaska
    • Vịnh Prudhoe, Alaska[7]
  • Canada
    • Churchill, Manitoba
    • Inuvik, Northwest Territories
    • Nanisivik, Nunavut[9]
    • Tuktoyaktuk

Các dòng hải lưu

Tài nguyên thiên nhiên

Các mỏ dầukhí thiên nhiên, các mỏ sa khoáng, kết hạch mangan, cát và cuội xây dựng, cá, hải cẩu và cá voi có thể tìm thấy rất nhiều ở khu vực này.[7]

Các mỏ khoáng sản lớn như mỏ thiếc Red Dog ở Alaska, mỏ Diavik Diamond ở Northwest Territories, Canada, và Sveagruva ở Svalbard. Các mỏ lớn đang được khai thác là mỏ sắt Baffinland ở Nunavut, và mỏ sắt Isua ở Greenland. Khai thác vàng ở Alaska cũng phổ biến. Mỏ vàng Fort Knox là mỏ lớn nhất trong lịch sử Alaska.

"Vùng chết chính trị" gần trung tâm của biển cũng là nơi có nhiều tranh chấp giữa Hoa Kỳ, Nga, Canada, Na Uy, và Đan Mạch.[10] Nó có ý nghĩa đối với thị trường năng lượng toàn cầu vì nó có thể chứa 25% hoặc hơn lượng dầu mỏ và khí đốt chưa được phát hiện của thế giới.[11] USGS ước tính có khoảng 22% lượng dầu và khí đốt của thế giới có thể nằm bên dưới Bắc Băng Dương.[12] Số liệu năm 2008 của USGS ước tính có khoảng 90 tỷ thùng dầu và 47 ngàn tỉ m3 khí thiên nhiên, chiếm 13% lượng dầu chưa được khám phá trên thế giới và 50% lượng khí đốt chưa được phát hiện. Hơn 50% lượng dầu phát hiện ngoài khơi biển Alaska (30 tỷ thùng) ở lưu vực còn lại (9,7 tỷ thùng) trong khu vực của Greenland. 70% trữ lượng khí đốt tập trung ở khu vực Đông Siberia, ở phía đông của Biển Barents và ngoài khơi bờ biển Alaska.

Các vấn đề môi trường

Biến đổi băng giai đoạn 1990–1999
Polar bears near north pole
Ba con gấu Bắc Cực đến gần USS Honolulu gần Cực Bắc.

Lớp băng ở Bắc cực đang mỏng dần, và trong một vài năm cũng có lỗ hổng theo mùa trong tầng ôzôn.[13] Việc suy giảm khu vực phủ băng ở Bắc Băng Dương làm giảm suất phản chiếu trung bình của Trái Đất, có thể đẫn đến sự ấm lên toàn cầu theo cơ chế phản hồi tích cực.[14] Một nghiên cứu chỉ ra rằng Bắc Cực có thể không còn băng lần đầu tiên trong lịch sử con người vào năm 2040.[15][16]

Các nhà khoa học hiện đang quan tâm rằng nhiệt độ trái đất nóng lên ở Bắc Cực có thể làm cho một lượng lớn nước tan từ băng sẽ bổ sung thêm nước cho vùng Bắc Đại Tây Dương, có thể làm gián đoạn cơ chế hải lưu toàn cầu. Những thay đổi nghiêm trọng về khí hậu của Trái Đất có thể xảy ra sau đó.[14]

Các vấn đề môi trường khác liên quan đến sự ô nhiễm phóng xạ của Bắc Băng Dương như các vị trí thải chất thải hạt nhân của Nga ở biển Kara[17] và các vị trí thử nghiệm hạt nhân trong chiến tranh lạnh như Novaya Zemlya.[18]

2007 Arctic Sea Ice
Băng phủ trên Bắc Băng Dương, giá trị trung bình năm 2005 và 2007
SeaIce 2002-05 cmp 1979-2000
Sự suy giảm băng ở Bắc Cực trong mùa hè từ 1979–2000 đến 2002–2005.[19]
Arctic ocean SST and ice edge
Nhiệt độ bề mặt nước biển trung bình và rìa băng giai đoạn tháng 3-9 hàng năm ở Bắc Cực.
SeaIce 2002-05 cmp 1979-2000
Arctic ocean SST and ice edge

Tham khảo

  1. ^ Michael Pidwirny (2006). “Introduction to the Oceans”. www.physicalgeography.net. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2006.
  2. ^ Vào đầu thế kỷ 21, biển băng chỉ bao phủ 1/3 đến 1/2 bề mặt của Bắc Băng Dương vào cuối hè.
  3. ^ Some Thoughts on the Freezing and Melting of Sea Ice and Their Effects on the Ocean K. Aagaard and R. A. Woodgate, Polar Science Center, Applied Physics Laboratory University of Washington, January 2001. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2006.
  4. ^ Pytheas Andre Engels. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2006.
  5. ^ Channel 4, "Sir Wally Herbert dies" ngày 13 tháng 6 năm 2007
  6. ^ North Pole drifting stations (1930s–1980s)
  7. ^ a ă â b c Arctic Ocean CIA World Factbook. ngày 30 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2006.
  8. ^ a ă Physical Nutrients and Primary Productivity Professor Terry Whiteledge. National Oceanic and Atmospheric Administration. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2006.
  9. ^ “Backgrounder – Expanding Canadian Forces Operations in the Arctic”. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2007. mirror
  10. ^ The Arctic's New Gold Rush – BBC
  11. ^ The Battle for the Next Energy Frontier: The Russian Polar Expedition and the Future of Arctic Hydrocarbons, by Shamil Yenikeyeff and Timothy Fenton Krysiek, Oxford Institute for Energy Studies, August 2007
  12. ^ [1] US Congressional Hearing. "Strategic Importance of the Arctic in US Policy." Page 15.
  13. ^ Clean Air Online – Linking Today into Tomorrow
  14. ^ a ă Earth – melting in the heat? Richard Black, ngày 7 tháng 10 năm 2005. BBC News. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2006.
  15. ^ Russia the next climate recalcitrant Peter Wilson, ngày 17 tháng 11 năm 2008, The Australian. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2009.
  16. ^ Tới 2040, Bắc Cực sẽ không còn băng vào mùa hè VnExpress.net (tiếng Việt)
  17. ^ 400 million cubic meters of radioactive waste threaten the Arctic area Thomas Nilsen, Bellona, ngày 24 tháng 8 năm 2001. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2006.
  18. ^ Plutonium in the Russian Arctic, or How We Learned to Love the Bomb Bradley Moran, John N. Smith. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2006.
  19. ^ Continued Sea Ice Decline in 2005 Robert Simmon, Earth Observatory, and Walt Meier, NSIDC. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2006.

Liên kết ngoài

Tiếng Anh:

Tiếng Việt:

Biển Beaufort

Biển Beaufort (tiếng Anh: Beaufort Sea, tiếng Pháp: mer de Beaufort) là một biển ven lục địa thuộc Bắc Băng Dương, nằm ở phía bắc của Các Lãnh thổ Tây Bắc, Yukon, và Alaska, phía tây quần đảo Bắc Cực thuộc Canada. Biển được đặt tên theo nhà thủy văn học Francis Beaufort. Sông Mackenzie đổ vào phần thuộc Canada của biển, phía tây của Tuktoyaktuk, một trong vài điểm định cư thường xuyên dọc bờ biển.

Biển Beaufort có khí hậu khắc nghiệt, bị đóng băng trong hầu hết thời gian trong năm; Chỉ có một khe hẹp được mở ra rộng 100 km (62 mi) gần bờ từ tháng 8 đến tháng 9. Vùng bờ biển đã có dân cư sinh sống từ khoảng 30.000 năm trước, song mật độ dân cư rất thấp. Biển có chứa các tài nguyên đáng kể về dầu mỏ và khí thiên nhiên bên dưới thềm lục địa của nó, như mỏ Amauligak. Chúng được phát hiện trong thời gian từ thập niên 1950 đến 1980, và các thăm dò tài nguyên đã trở thành hoạt động chính của con người tại khu vực này từ thập niên 1980. Các ngành nghề truyền thống như thủy sản và săn bắn cá vôi và hải cẩu chỉ được tiến hành ở quy mô địa phương, và không có ý nghĩa về thương mại. Do vậy, biển có một trong những bầy lớn nhất của cá voi trắng, và không có dấu hiệu của việc đánh cá quá mức. Có một tranh chấp lâu dài giữa Hoa Kỳ và Canada về biên giới trên biển, song những bước đi quan trọng đã được tiến hành vào năm 2010 nhằm hướng tới việc giải quyết nó.

Biển Chukotka

Biển Chukotka hay biển Chukotskoye (tiếng Nga: Чукотское море) hoặc biển Chukchi là tên gọi của một biển trên thềm lục địa (biển ven bờ) trong Bắc Băng Dương. Nó có ranh giới về phía tây là eo biển De Long, chia tách đảo Wrangel ra khỏi châu Á đại lục, và về phía đông là mũi Barrow, Alaska. Vượt qua mũi đất này là các vùng nước của biển Beaufort. Eo biển Bering tạo thành giới hạn phía nam của biển Chukotka và nối nó với biển Bering trong Thái Bình Dương.

Hải cảng chính trên biển Chukotka là Uelen.

Đường đổi ngày quốc tế vượt qua biển Chukotka theo hướng tây bắc-đông nam. Nó phải dịch chuyển về hướng đông để tránh gây phức tạp hóa về giờ giấc cho đảo Wrangel cũng như khu tự trị Chukotka thuộc phần đại lục của Nga.

Biển Greenland

Biển Greenland là vùng biển tiếp giáp với Greenland về phía tây, quần đảo Svalbard về phía đông, eo biển Fram và Bắc Băng Dương về phía bắc, và biển Na Uy và Iceland về phía nam. Biển này thường được xem là một phần của Bắc Băng Dương, nhưng có khi được nhìn nhận như một phần của Đại Tây Dương. Biển Greenland là một nơi tiếp nối giữa Bắc Băng Dương và Đại Tây Dương.

Biển Laptev

Biển Laptev (tiếng Nga: море Лаптевых) là một biển ven bờ của Bắc Băng Dương. Nó nằm trong khu vực được bao quanh bằng phần bờ biển của miền đông Siberi, bán đảo Taimyr, quần đảo Severnaya Zemlya (Đất Mới) và Novosibirskiye ostrova (Siberi Mới). Ranh giới phía bắc của nó đi qua mũi Arkticheskiy (mũi Bắc cực, một địa danh trên đảo Komsomolets của Severnaya Zemlya) tới điểm có tọa độ 79° vĩ bắc và 139° kinh đông và đóng lại tại mũi Anisiy. Các biển cận kề là biển Kara ở phía tây, biển Đông Siberi ở phía đông. Diện tích của biển này ước tính khoảng 672.000 km².

Biển Laptev được đặt tên theo các nhà thám hiểm người Nga là D. Ya. Laptev và Kh. P Laptev. Trước đó biển Laptev được gọi là biển Nordenskjold (tiếng Nga chuyển tự: more Nordenshel'd), lấy theo tên nhà thám hiểm Adolf Erik Nordenskiöld.

Độ sâu chủ yếu là tới 50 m, độ sâu lớn nhất đạt tới 3.385 m. Các vịnh lớn nhất là Khatangsky, Olenjoksky, Buor-Khaya. Ở phần phía tây của biển Laptev có nhiều đảo lớn nhỏ. Đổ vào biển này có các sông như: sông Khatanga, sông Anabar, sông Olenjok, sông Lena, sông Yana. Sông Lena, với đồng bằng châu thổ lớn của nó, là con sông chính đổ ra biển Laptev. Phần lớn thời gian của năm biển bị đóng băng, nhưng nó có thể phục vụ cho giao thông đường biển trong khoảng thời gian từ tháng 8 tới tháng 9 hàng năm. Hải cảng chính là Tiksi.

Trong khu vực này có các loài thú sinh sống như hải tượng (Odobenus rosmarus), hải cẩu râu (Erignathus barbatus), hải cẩu vòng (Phoca hispida).

Biển Lincoln

Biển Lincoln là vùng biển ở Bắc Băng Dương, kéo dài từ mũi Columbia, Canada ở phía tây đến mũi Morris Jesup, Greenland, ở phía đông. Ranh giới phía đông được định nghĩa là đường vòng tròn lớn nằm giữa hai đầu đất mũi. Biển có băng bao phủ quanh năm, và là biển có băng nổi có độ dày nhất Bắc Băng Dương, khoảng 15 m (49 ft). Biển có độ sâu từ 100 m (330 ft) đến 300 m (980 ft). Nước và băng của từ biển Lincoln hầu hết thời gian đổ vào kênh Robeson và phần lớn phía bắc của eo biển Nares.

Biển được đặt tên sau khi Robert Todd Lincoln, Chỉ huy chiến tranh ở Hoa Kỳ, có chuyến thám hiểm Bắc Cực giai đoạn 1881-1884 vào vịnh Lady Franklin. Trạm Alert, trạm cực bắc của Canada, là nơi đông dân nhất trên bờ của biển Lincoln. Lượng nước phía đông biển Lincoln (phía đông mũi Morris Jesup) là biển Wandel.

Biển Na Uy

Biển Na Uy (tiếng Na Uy: Norskehavet) là một vùng biển thuộc Bắc Đại Tây Dương, ở tây bắc Na Uy, nằm giữa biển Bắc và biển Greenland.

Vùng biển này tiếp giáp với biển Iceland về phía tây và biển Barents về phía đông bắc. Ở phần phía tây nam, nó bị phân cách với Đại Tây Dương bởi một rặng núi ngầm chạy giữa Ireland và quần đảo Faroe. Về phía bắc, rặng núi Jan Mayen phân cách biển Na Uy với Bắc Băng Dương.

Biển Pechora

Biển Pechora (tiếng Nga: Печо́рское мо́ре, hoặc Pechorskoye) là biển phía tây bắc nước Nga, tọa lạc ở phần phía đông nam của biển Barents. Giới hạn phía tây của biển là đảo Kolguyev, điểm tận cùng phía đông là bờ biển phía tây của đảo Vaygach và bán đảo Yugorsky, và phần biên giới phía bắc là phía nam của Novaya Zemlya.

Biển Pechora rất nông, độ sâu trung bình chỉ khoảng 6 m. Điểm sâu nhất khoảng 210 m. Phần phía nam của biển chảy về dòng Kolguyev về phía đông. Có một số đảo gần bờ, đảo lớn nhất là đảo Dolgiy. Biển Pechora có những tảng băng nổi từ tháng 11 đến tháng 6 năm sau. Dòng sông chính đổ vào biển là sông Pechora.

Biển Prince Gustav Adolf

Biển hoàng tử Prince Gustav Adolf, là một nhánh của Bắc Băng Dương, nằm ở vùng Qikiqtaaluk, Nunavut, Canada.

Biển nằm ở vùng quần đảo Bắc Cực. Biển được bao quanh từ phía tây bởi đảo Borden và đảo Mackenzie King, phía đông là đảo Ellef Ringnes, phía nam là đảo Lougheed. Biển vào từ Bắc Băng Dương và ra kênh Byam Marin và eo biển Maclean ở phía nam.

Biển được đặt tên theo tên hoàng tử Thụy Điển Gustaf VI Adolf.

Biển Trắng

Bạch Hải còn là tên của biển Aigaio

Biển Trắng hay Bạch Hải (tiếng Nga: Бeлое мoре) là vịnh nhỏ của biển Barents ở bờ biển miền tây bắc nước Nga. Nó được bao quanh bởi Karelia về phía tây và bán đảo Kola về phía bắc.

Cảng quan trọng Arkhangelsk nằm trên bờ Bạch Hải. Trong lịch sử nước Nga nó đã là trung tâm chính của Nga trong thương mại hàng hải quốc tế, được quản lý bởi các Pomor (помoры hay "những người dân sống ven biển") từ Kholmogory. Trong thời đại ngày nay nó trở thành căn cứ quan trọng của hải quân và tàu ngầm Xô viết.

Kênh Bạch Hải-Ban Tích nối Bạch Hải với biển Ban Tích.

Toàn bộ Bạch Hải thuộc chủ quyền của Nga (được coi là vùng nước nội thủy của Nga).

Biển Đông Xibia

Biển Đông Xibia là một vùng biển ở Bắc Băng Dương. Nó nằm giữa mũi Bắc Cực về phía bắc, eo biển Xibia về phía nam, quần đảo Tân Siberi về phía tây và mũi Billings về phía đông. Biển này giáp biển Laptev về phía tây và biển Chukchi về phía đông.

Canada

Canada (phiên âm: Ca-na-đa; phát âm tiếng Anh: /ˈkænədə/ nghe , phát âm tiếng Pháp: [kanadɑ] nghe ) là quốc gia có diện tích lớn thứ hai trên thế giới, và nằm ở cực bắc của Bắc Mỹ. Lãnh thổ Canada gồm 10 tỉnh bang và 3 vùng lãnh thổ liên bang, trải dài từ Đại Tây Dương ở phía đông sang Thái Bình Dương ở phía tây, và giáp Bắc Băng Dương ở phía bắc. Canada giáp với Hoa Kỳ lục địa ở phía nam, giáp với tiểu bang Alaska của Hoa Kỳ ở phía tây bắc. Ở phía đông bắc của Canada là đảo Greenland thuộc Vương quốc Đan Mạch. Ở ngoài khơi phía nam đảo Newfoundland của Canada có quần đảo Saint-Pierre và Miquelon thuộc Pháp. Biên giới chung của Canada với Hoa Kỳ về phía nam và phía tây bắc là đường biên giới dài nhất thế giới.

Nhiều dân tộc Thổ dân cư trú tại lãnh thổ nay là Canada trong hàng thiên niên kỷ. Bắt đầu từ cuối thế kỷ XV, người Anh và người Pháp thành lập các thuộc địa trên vùng duyên hải Đại Tây Dương của khu vực. Sau các xung đột khác nhau, Anh Quốc giành được rồi để mất nhiều lãnh thổ tại Bắc Mỹ, và đến cuối thế kỷ XVIII thì còn lại lãnh thổ chủ yếu thuộc Canada ngày nay. Căn cứ theo Đạo luật Bắc Mỹ thuộc Anh vào ngày 1 tháng 7 năm 1867, ba thuộc địa hợp thành thuộc địa liên bang tự trị Canada. Sau đó thuộc địa tự trị dần sáp nhập thêm các tỉnh và lãnh thổ. Năm 1931, theo Quy chế Westminster 1931, Anh Quốc trao cho Canada tình trạng độc lập hoàn toàn trên hầu hết các vấn đề. Các quan hệ cuối cùng giữa hai bên bị đoạn tuyệt vào năm 1982 theo Đạo luật Canada 1982.

Canada là một nền dân chủ đại nghị liên bang và một quốc gia quân chủ lập hiến, Nữ hoàng Elizabeth II là nguyên thủ quốc gia. Canada là một thành viên của Khối thịnh vượng chung Anh. Canada là quốc gia song ngữ chính thức (tiếng Anh và tiếng Pháp) tại cấp liên bang. Do tiếp nhận người nhập cư quy mô lớn từ nhiều quốc gia, Canada là một trong các quốc gia đa dạng sắc tộc và đa nguyên văn hóa nhất trên thế giới, với dân số xấp xỉ 35 triệu người vào tháng 12 năm 2012. Canada có nền kinh tế rất phát triển và đứng vào nhóm hàng đầu thế giới, kinh tế Canada dựa chủ yếu vào nguồn tài nguyên tự nhiên phong phú và hệ thống thương mại phát triển cao. Canada có quan hệ lâu dài và phức tạp với Hoa Kỳ, mối quan hệ này có tác động đáng kể đến kinh tế và văn hóa của quốc gia.

Canada là một quốc gia phát triển và nằm trong số các quốc gia giàu có nhất trên thế giới, với thu nhập bình quân đầu người cao thứ tám toàn cầu, và chỉ số phát triển con người cao thứ 11. Canada được xếp vào hàng cao nhất trong các so sánh quốc tế về giáo dục, độ minh bạch của chính phủ, tự do dân sự, chất lượng sinh hoạt, và tự do kinh tế. Canada tham gia vào nhiều tổ chức quốc tế và liên chính phủ về kinh tế: G8, G20, Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương. Canada là một thành viên của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO).

Cá trứng

Cá trứng (Danh pháp khoa học: Mallotus villosus) là một loài cá có nguồn gốc từ Na Uy, có hình dạng nhỏ như con cá kèo, xương nhỏ, mềm, da cá mỏng và đặc biệt bụng cá (con cái) luôn chứa đầy trứng dù không phải mùa sinh sản. Đây là loại cá thường được tìm thấy ở vùng tây bắc Đại Tây Dương, và Bắc Băng Dương, những vùng nước lạnh tinh khiết, đặc biệt là vùng Bắc Âu như Na Uy, Green Land, hoặc Canada.

Hoa Kỳ

Hoa Kỳ (tiếng Anh: United States - U.S) hay Mỹ (tiếng Anh: America) tên gọi đầy đủ là Hợp chúng quốc Hoa Kỳ hoặc Hợp chúng quốc Mỹ (tiếng Anh: United States of America - USA) là một nước cộng hòa lập hiến liên bang gồm 50 tiểu bang và 1 đặc khu liên bang. Quốc gia này nằm gần hoàn toàn trong Tây Bán cầu: 48 tiểu bang lục địa và thủ đô Washington, D.C., nằm giữa Bắc Mỹ, giáp Thái Bình Dương ở phía tây, Đại Tây Dương ở phía đông, Canada ở phía bắc, và México ở phía nam. Tiểu bang Alaska nằm trong vùng tây bắc của lục địa Bắc Mỹ, giáp với Canada ở phía đông. Tiểu bang Hawaii nằm giữa Thái Bình Dương. Hoa Kỳ cũng có 14 lãnh thổ hay còn được gọi là vùng quốc hải rải rác trong vùng biển Caribe và Thái Bình Dương.

Với 3,79 triệu dặm vuông (9.833.520 triệu km²) và 324,1 triệu dân (2018), Hoa Kỳ là quốc gia lớn thứ 3 hoặc thứ 4 về tổng diện tích (xem phần địa lý để biết thêm chi tiết) và thứ 3 về dân số trên thế giới. Hoa Kỳ là một trong những quốc gia đa dạng chủng tộc nhất trên thế giới, do kết quả của những cuộc di dân đến từ nhiều quốc gia khác trên thế giới. Nền kinh tế quốc dân của Hoa Kỳ lớn nhất trên thế giới và đứng thứ 2 thế giới (tính theo sức mua tương đương). Tổng sản phẩm nội địa (GDP) của Mỹ được ước tính cho năm 2015 là trên 18,1 ngàn tỷ đô la (khoảng 23% tổng sản lượng thế giới dựa trên GDP danh nghĩa, và khoảng 16% theo sức mua tương đương). GDP bình quân đầu người của Hoa Kỳ là 56.421 đô la, đứng hạng 5 thế giới theo giá trị thực và hạng 10 theo sức mua tương đương.Quốc gia được thành lập ban đầu với 13 thuộc địa của Liên hiệp Anh nằm dọc theo bờ biển Đại Tây Dương. Sau khi tự tuyên bố trở thành các "tiểu quốc", cả 13 cựu thuộc địa này đã đưa ra tuyên ngôn độc lập vào ngày 4 tháng 7 năm 1776. Các tiểu bang nổi loạn đã đánh bại Đế quốc Anh trong Chiến tranh Cách mạng Mỹ, đây là cuộc chiến tranh thuộc địa giành độc lập đầu tiên thành công trong lịch sử. Hội nghị Liên bang quyết định sử dụng bản Hiến pháp Hoa Kỳ hiện tại vào ngày 17 tháng 9 năm 1787. Việc thông qua bản hiến pháp một năm sau đó đã biến các cựu thuộc địa thành một phần của một nước cộng hòa duy nhất. Đạo luật nhân quyền Hoa Kỳ gồm có mười tu chính án hiến pháp được thông qua năm 1791.

Theo tư tưởng Vận mệnh hiển nhiên, Hoa Kỳ đã bắt đầu cuộc mở rộng lãnh thổ mạnh mẽ trên khắp Bắc Mỹ trong thế kỷ XIX. Sự kiện này bao gồm việc tiêu diệt các dân tộc bản địa (Diệt chủng người da đỏ), đánh chiếm những lãnh thổ mới, và từng bước thành lập các tiểu bang mới. Nội chiến Hoa Kỳ kết thúc chế độ nô lệ tại Hoa Kỳ và ngăn ngừa sự chia xé quốc gia. Đến cuối thế kỷ XIX, Hoa Kỳ đã mở rộng đến Thái Bình Dương, và trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới. Chiến tranh Tây Ban Nha – Hoa Kỳ và Chiến tranh thế giới thứ nhất đã xác định vị thế cường quốc quân sự toàn cầu của Hoa Kỳ. Chiến tranh thế giới thứ hai đã xác định vị thế siêu cường toàn cầu của Hoa Kỳ, là quốc gia đầu tiên có vũ khí hạt nhân, và là một trong năm thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Là siêu cường duy nhất còn lại sau Chiến tranh Lạnh, Hoa Kỳ được nhiều quốc gia nhìn nhận như là một thế lực quân sự, văn hóa, và kinh tế có ảnh hưởng lớn nhất trên thế giới. Tuy nhiên, xã hội Hoa Kỳ cũng đang tồn tại những vấn đề nan giải khó giải quyết (chênh lệch giàu nghèo cao, nạn xả súng bừa bãi, nạn phân biệt chủng tộc, tỷ lệ tội phạm cao, chi phí y tế đắt đỏ...).

Tự nhiên

Tự nhiên hay cũng được gọi thiên nhiên, thế giới vật chất, vũ trụ và thế giới tự nhiên (tiếng Anh: nature) là tất cả vật chất và năng lượng chủ yếu ở dạng bản chất. "Tự nhiên" nói đến các hiện tượng xảy ra trong thế giới vật chất, và cũng nhắc đến sự sống nói chung. Phạm vi bao quát của nó từ cấp hạ nguyên tử cho tới những khoảng cách lớn trong vũ trụ. Nghiên cứu về tự nhiên là một mảnh ghép lớn trong thế giới khoa học. Dù cho con người hiển nhiên là một phần của tự nhiên, nhưng những hoạt động của con người thường được phân biệt rạch ròi khỏi những hiện tượng tự nhiên.

Từ nature có nguồn gốc từ natura trong tiếng Latin, có nghĩa là "phẩm chất thuần khiết, thiên hướng bẩm sinh", và trong thời cổ đại nó có nghĩa đen là "sự sinh nở". Natura trong tiếng Latin là dịch từ physis (φύσις) trong tiếng Hy Lạp, một từ có nguồn gốc liên quan đến đặc tính nội tại của thực vật, động vật và những đặc trưng khác trong thế giới do chính người cổ đại nghĩ ra hoặc ghi chép lại.1 2 Khái niệm tự nhiên theo nghĩa tổng thể, hay vũ trụ vật chất, là một trong vài khái niệm mở rộng của khái niệm ban đầu; nó bắt đầu bằng những cách thông hiểu trọng tâm của từ φύσις bởi các triết gia trước Sokrates, và đã thu được sự chú ý dần dần theo thời gian kể từ đó. Cách sử dụng này dần được chấp nhận trong giai đoạn phát triển của phương pháp khoa học hiện đại trong vài thế kỷ qua.3 4Với nhiều cách sử dụng và ý hiểu ngày nay, "tự nhiên" cũng nhắc đến địa chất và thế giới hoang dã. Tự nhiên cũng bao gồm nhiều loại động thực vật sống khác nhau, và trong một số trường hợp liên quan tới tiến trình của những vật vô tri vô giác – cách mà những kiểu riêng biệt của sự vật tồn tại và làm biến đổi môi trường quanh nó, tỉ như thời tiết và hoạt động địa chất của Trái Đất, cũng như vật chất và năng lượng của tất cả mọi thứ mà chúng cấu thành lên. Khi hiểu theo nghĩa là "môi trường tự nhiên" hoặc vùng hoang dã – động vật hoang dã, đá, rừng, bờ biển, và nói chung những thứ không bị tác động của con người thay đổi hoặc phản kháng trước những tác động của con người. Ví dụ, các sản phẩm được sản xuất hoặc có tác động bởi con người nói chung sẽ không được coi là thuộc về tự nhiên, trừ khi được định nghĩa thành những lớp lang phù hợp, ví dụ, "bản chất con người" (nhân tính) hay "toàn thể tự nhiên". Khái niệm truyền thống này về các vật tự nhiên mà đôi khi ngày nay vẫn sử dụng hàm ý sự phân biệt giữa thế giới tự nhiên và nhân tạo, với những thứ nhân tạo được ngầm hiểu từ tâm thức hoặc tư duy của con người. Phụ thuộc vào từng ngữ cảnh, thuật ngữ "tự nhiên" cũng có thể khác hẳn với từ "không tự nhiên" hay "siêu nhiên".

Vịnh Amundsen

Vịnh Amundsen là vịnh dạng đất mũi ở vùng tây bắc Canada, khác với vịnh Amundsend (Nam Cực), giữa đảo Banks, đảo Victoria và lục địa. Chiều dài vịnh xấp xỉ 250 mi (400 km) và chiều ngang khoảng 93 mi (150 km) tới biển Beaufort.

Vịnh Amundsen được khám phá bởi nhà thám hiểm Na Uy Roald Amundsen vào giai đoạn năm 1903 và 1906. Vịnh là nơi kết thúc của tuyến đường biển tây bắc (Northwest Passage), từ Bắc Băng Dương xuyên biển Đại Tây Dương và đến biển Thái Bình Dương.

Vài người sống dọc theo bờ vịnh và một vài thị trấn nhỏ bao gồm: Sachs Harbour, Ulukhaktok và Paulatuk. Hướng lên phía bắc ở vịnh người ta có thể tìm thấy eo biển nữ hoàng xứ Wales. Hướng về phía đông & đông nam vịnh sẽ tới eo biển Dolphin and Union, qua vịnh Simpson và tới vịnh Coronation. Từ đó có thể tới eo biển Dease và vào vịnh nữ hoàng Maud. Hướng về phía đông bắc của vịnh Amundsen là eo biển Victoria. Hướng về phía tây & tây bắc có thể tới biển Beaufort và sau đó là Bắc Băng Dương.

Toàn bộ vịnh ở trong vùng thời tiết Bắc Cực, đặc biệt là rất lạnh. Vào cuối đông, vịnh Amundsen đều được bao phủ bởi băng đá. Thông thường, vào tháng 7 trong năm, hầu hết băng sẽ vỡ, tuy nhiên ở một số vùng ở phía đông và đông bắc của vịnh, băng vỡ vào tháng 8.

Vịnh Baffin

Vịnh Baffin (tiếng Inuktitut: Saknirutiak Imanga; tiếng Greenland: Avannaata Imaa; tiếng Pháp: Baie de Baffin) là một phần biển nằm giữa đảo Baffin và Greenland. Nó dài khoảng 1.300 km (800 dặm Anh) tính từ bắc xuống nam và rộng trung bình khoảng 540 km (335 dặm Anh) tính từ tây sang đông. Diện tích ước khoảng 700.000 km². Nó gần như không thuận lợi cho giao thông đường biển trong cả năm do sự tồn tại của một lượng lớn các núi băng trôi.

Vịnh Hudson

Vịnh Hudson (tiếng Anh: Hudson Bay; tiếng Pháp: Baie d'Hudson) là một vịnh lớn ở các vùng Keewatin và Baffin của lãnh thổ Nunavut của Canada. Vịnh này có thể được xem là một nhánh của Đại Tây Dương mà nó nối thông qua bằng eo biển Hudson, hay một nhánh của Bắc Băng Dương mà vịnh này nối thông qua bằng Foxe Basin. Vịnh Hudson, cùng với phần nối dài của nó, vịnh James, có chiều dài khoảng 1450 km và chiều rộng 965 km, diện tích khoảng 1.230.000 km². Vịnh này giáp Québec về phía đông và giáp Ontario về phía nam, giáp Manitoba và Keewatin về phía tây. Cuối phía nam của vịnh có các đảo lớn, đáng chú ý là đảo Southampton (41.214 km²), đảo Coats (5499 km²) và đảo Mansel (3181 km²). Một đảo lớn khác, đảo Akimiski, nằm trong vịnh James. Ngoài ra còn có nhiều đảo nhỏ hơn nằm ngoài khơi của bờ đông. Vịnh này khá nông, chiều sâu trung bình của vịnh khoảng 101 m và chiều sâu tối đa là khoảng 867.

Địa cực

Các vùng địa cực, còn được gọi là các vùng băng giá, của Trái đất là các khu vực của hành tinh bao quanh các cực địa lý của nó (cực Bắc và Nam), nằm trong các vòng cực. Những vĩ độ cao này bị chi phối bởi các khối băng cực của Trái đất: phía bắc nằm trên Bắc Băng Dương và phía nam trên lục địa Nam Cực.

Địa lý châu Á

Địa lý châu Á có thể coi là phức tạp và đa dạng nhất trong số 5 châu lục trên mặt đất. Châu Á được phân biệt với các châu khác không chỉ bởi các biển và đại dương, mà còn bởi nhiều đặc điểm tự nhiên độc đáo khác: một châu lục có kích thước vĩ đại nhất, trên 44,4 triệu km², có lịch sử phát triển và cấu tạo địa chất phức tạp nhất, có địa hình bề mặt bị chia cắt mạnh nhất và có sự phân hóa cảnh quan, khí hậu vô cùng phong phú, đa dạng: từ băng giá vĩnh cửu, rừng lá kim cho tới hoang mạc nóng bỏng, rừng rậm nhiệt đới xanh um. Với sự phối hợp của các điều kiện tự nhiên nói trên, châu Á đã hình thành các khu vực địa lý tự nhiên có đặc điểm hoàn toàn khác nhau như Bắc Á, Trung Á, Đông Á, Đông Nam Á, Nam Á và Tây Nam Á.

Về mặt địa lý xã hội, châu Á cũng là châu lục đông dân cư nhất với hơn 4,4 tỉ người, có đủ các thành phần chủng tộc như Mongoloid, Europeoid, Negroid. Tôn giáo cũng rất đa dạng và đã có từ lâu đời như Phật giáo, Hồi giáo, Thiên Chúa giáo, Ấn Độ giáo...

Các khu vực trên thế giới

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.