Bắc Á

Bắc Á là một tiểu khu vực ở châu Á bao gồm phần châu Á của Nga (đôi khi còn được gọi là Nga thuộc châu Á). Thuật ngữ này không được phổ biến. Đôi khi, Bắc Á được sử dụng để chỉ những phần của Đông Á[1] trong khi phần châu Á của Nga được ghép với Đông Âu.

Phillips Illustrated Atlas of the World 1988 định nghĩa Bắc Á là khu vực thuộc phần lớn lãnh thổ của Liên bang Xô Viết cũ, những phần thuộc phía đông dãy núi Ural.

Tuy có diện tích lên tới 13.100.000 km². Nhưng dân số ở đây chỉ khoảng 40.000.000 người.Các thành phố lớn bao gồm:

Bắc Á
Map of North Asia
Diện tích13.100.000 km2
Dân số33,765,005
Các quốc gia Nga
Múi giờUTC+5 / MSK+2 to UTC+12 / MSK+9
Tên dân tộcNgười Bắc Á
Ngôn ngữTiếng Nga, Tiếng Ainu, Ngữ hệ Chukotka-Kamchatka, Ngữ hệ Eskimo-Aleut, Ngữ hệ Mông Cổ, Ngữ hệ Tungus, Ngữ hệ Turk, Ngữ hệ Ural, Ngữ hệ Enisei, Ngữ hệ Yukaghir
Các thành phố lớnNovosibirsk
Chelyabinsk
Omsk
Yakutsk
Khabarovsk
Vladivostok
Yekaterinburg

Nhân khẩu

Hầu hết các ước tính cho là có khoảng 38 triệu người Nga sống ở phía đông dãy núi Ural, ranh giới giữa châu Âu và châu Á. Người Siberia bản địa bây giờ là một dân tộc thiểu số ở Siberia / Bắc Á do quá trình Nga hóa trong ba thế kỷ qua. Các báo cáo tổng điều tra của Nga cho thấy họ chỉ chiếm khoảng 10% dân số trong khu vực với số lượng là 445,175 người, khiến họ trở thành nhóm dân tộc thiểu số lớn nhất ở Siberia. Có 443,852 người Yakuts (Tổng điều tra Dân số Nga năm 2002) sống ở Siberia. Theo cuộc điều tra dân số năm 2002, có 500.000 người Tatar sống ở Siberia, nhưng 300.000 trong số họ là những người Thổ Gia Volga định cư ở Siberia trong thời kỳ thuộc địa. Các nhóm dân tộc khác sống trong khu vực và chiếm một phần đáng kể là người Đức gốc Mông Cổ và khoảng 400.000 người.

Năm 1875, Chambers báo cáo dân số của Bắc Á là 8 triệu người. Trong khoảng 1801-1914, khoảng 7 triệu người định cư chuyển từ Nga sang Siberi, 85% trong suốt phần tư thế kỷ trước Thế chiến thứ nhất.

Địa lý

Vì lý do địa lý và thống kê, Liên hợp quốc đặt tất cả Nga vào châu Âu hoặc vùng Đông Âu. Không có dãy núi ở Bắc Á để ngăn chặn dòng không khí từ Bắc Cực chảy xuống như ở đồng bằng của Siberia và Turkestan.

Các cao nguyên và đồng bằng Bắc Á bao gồm các vùng đất thấp Siberia Tây; các lá chắn Angara, với bán đảo Taymyr, những vùng đất thấp ven biển, cao nguyên Putorana, các cao nguyên Anabar, các cao nguyên Tunguska, và cao nguyên Angara; và lưu vực sông Lena-Vilyuy.

Địa chất

Địa mạo của châu Á nhìn chung chưa được biết đến, mặc dù các mỏ và dãy núi rất nổi tiếng.

Để bù đắp cho mực nước biển mới đã được tạo ra ở lưu vực Siberia, toàn bộ lục địa Á - Âu đã xoay quanh một điểm tại Quần đảo Mới Siberi, gây áp lực ở các ngọn núi Verkhoyansk, được hình thành dọc theo lề phía đông của Angara kiến tạo nâng cao trong kỷ nguyên Mesozoi. Có một ranh giới phía nam của khu vực này qua biên giới phía bắc của nếp Alpine ở Afghanistanư, Ấn Độ, Nepalvà Bhutan, phía đông Brahmaputra quay về phía nam theo Vịnh Bengal dọc theo đường đồi Nagavà Arakan Yoma, tiếp tục vòng quanh Indonesia, đi theo rìa thềm lục địa dọc theo bờ biển phía đông của Trung Quốc. Các tấm Á-Âu và tấm Bắc Mỹ trải qua Alaska, theo đường rãnh Aleutian, chứ không phải gặp ở Eo biển Bering.

Bắc Á được tạo ra xung quanh Angara, nằm giữa sông Yenisey và sông Lena. Nó phát triển từ các mảng của Laurasia, đất đá chủ yếu là đá tinh thể Precambrian, gneisses, và đá phiến, và Gondwana. Những tảng đá này có thể được tìm thấy ở Angara, Mông Cổ, Ordes và Đông Nam Á. Các mảnh vỡ đã chịu orogenesis xung quanh lề của họ, đưa ra một phức tạp của cao nguyên và các dãy núi.

Có ba giai đoạn chính của việc kiến tạo nên các ngọn núi ở Bắc Á, mặc dù nó đã xảy ra nhiều lần. Núi gấp nếp bên ngoài chỉ ảnh hưởng đến châu Á ở phía bắc của dãy Himalaya, được cho là do các thiên văn của Caledonian và Hercynian của Kỷ nguyên Palaeozoic cuối. Núi Alpine đã gây ra sự sụp đổ và đứt gãy lớn của các trầm tích Mesozoi và Tertiary sớm từ Tethys geosyncline. Cao nguyên Tây Tạng và Mông Cổ, và các lưu vực cấu trúc của bồn địa Tarim, Qaidam và Junggar, được giới hạn bởi các đứt gãy chủ yếu ở phía đông-tây có lẽ là kết quả của những áp lực do ảnh hưởng của tấm mảng Ấn Độ chống lại Laurasia. Sự xói mòn của các ngọn núi do khí hậu này gây ra đã tạo ra một lượng lớn trầm tích đã được vận chuyển về phía Nam để sản xuất đồng bằng phù sa ở Ấn Độ, Trung QuốcCampuchia và cũng đã được lưu giữ với số lượng lớn ở các bồn địa Tarim và Dzungarian.

Tham khảo

Ghi chú

  1. ^ MSN Encarta Encyclopedia lists Siberia as part of East Asia. Archived 2009-10-31.
Amur

Sông Amur (A-mua) hay Hắc Long Giang (tiếng Nga: Амур; tiếng Trung giản thể: 黑龙江, phồn thể: 黑龍江. bính âm: Hēilóng Jiāng), tức "Hắc Long Giang" hay là "sông Rồng đen"; tiếng Mông Cổ: Хара-Мурэн, Khara-Muren có nghĩa là "sông Đen"; tiếng Mãn: Sahaliyan Ula cũng có nghĩa là "sông Đen"), với tổng chiều dài lên đến 4.444 km, nó trở thành con sông lớn thứ 10 trên thế giới, tạo thành biên giới tự nhiên giữa miền Viễn Đông của Nga và vùng Mãn Châu (tỉnh Hắc Long Giang) của Trung Quốc.

Biển Okhotsk

Biển Otkhost (tiếng Nga: Охо́тское мо́ре, chuyển tự. Okhotskoye More, IPA [ɐˈxotskəɪ ˈmorʲɪ]; tiếng Nhật: オホーツク海, chuyển tự Ohōtsuku-kai) là vùng biển phía tây bắc Thái Bình Dương, nằm giữa bán đảo Kamchatka, quần đảo Kuril, đảo Sakhalin và đảo Hokkaidō. Tên của nó được lấy theo tên của khu dân cư người Nga đầu tiên ở miền Viễn Đông. Người Châu Âu biết đến biển Okhotsk là nhờ hai nhà thám hiểm Nga Ivan Moskvitin và Vassili Poyarkov giữa thế kỷ XVII.

Tổng diện tích biển Okhotsk là 1.583.000 km², độ sâu trung bình 859 m, nơi sâu nhất là 3.372 m.

Vào mùa đông, giao thông trên biển Okhotsk gần như đình trệ bởi biển đóng băng. Nước từ sông Amur chảy vào biển làm giảm độ mặn và do đó tăng nhiệt độ đóng băng của nước. Băng trên biển không đều nhau ở mọi nơi, phân bố và độ dày phụ thuộc vào địa điểm, thời điểm, dòng nước và nhiệt độ nước biển.

Trừ đảo Hokkaidō, tất cả các đảo và đất liền quanh biển Okhotsk đều thuộc Nga. Vì thế có thể coi biển này nằm dưới sự quản lý của Nga.

Trong tiếng Nhật, tên ban đầu của biển là Hokkai (北海), có nghĩa là "biển bắc". Tên này dễ nhầm lẫn với Biển Bắc ở Châu Âu nên ngày nay nó được gọi là Ohōtsuku-kai (オホーツク海) theo tên của Nga.

Cardcaptor Sakura

Cardcaptor Sakura (Nhật: カードキャプターさくら, Hepburn: Kādokyaputā Sakura), viết tắt là CCS và còn được biết đến với nhan đề Thủ lĩnh thẻ bài, là một loạt shōjo manga sáng tác và minh họa bởi nhóm nghệ sĩ Nhật Bản CLAMP. Manga đăng lần đầu tiên trên tạp chí Nakayoshi từ tháng 5 năm 1996 đến tháng 6 năm 2000, và sau đó được Kōdansha phát hành thành 12 tập tankōbon từ tháng 11 năm 1996 đến tháng 7 năm 2000. Câu chuyện xoay quanh Kinomoto Sakura, một học sinh tiểu học tình cờ phát hiện ra tiềm năng phép thuật của mình sau khi vô tình mở quyển sách chứa một bộ thẻ bài ma thuật bị niêm phong đã nhiều năm. Sau đó, cô được giao nhiệm vụ phải thu phục tất cả thẻ bài đang phân tán nhằm ngăn chặn chúng phá hủy thế giới. Phần tiếp theo của manga này, Cardcaptor Sakura – Thẻ bài pha lê, theo chân Sakura khi cô đã học cấp 2 trung học, bắt đầu đăng thường kỳ trên Nakayoshi từ tháng 7 năm 2016.Cardcaptor Sakura không giống với bất kỳ tác phẩm nào trước đó của CLAMP, và đây là lần đầu tiên nhóm tác giả thực hiện một manga thể loại mahō shōjo. Mặc dù lấy phép thuật làm phương tiện phát triển, chủ đề chính của tác phẩm là tình yêu và các mối quan hệ giữa người với người. Kịch bản được xây dựng theo hướng tránh phải suy xét về tính đúng đắn của các tình cảm đồng tính hay ái nhi, và tình yêu được chấp nhận ở mọi hình thái của nó. Phong cách nghệ thuật chính của tác phẩm là sự mềm mại và dễ thương, với rất nhiều loài hoa được minh họa làm nền. Trang phục chiến đấu của Sakura là một điểm nhấn vì sự phong phú và thay đổi thường xuyên. Những lá bài Clow chịu ảnh hưởng từ bài tarot đôi khi được xem là một phép ẩn dụ về số phận. Một số nhân vật trong Cardcaptor Sakura về sau đã trở thành hình mẫu khai thác thường xuyên của CLAMP, biến nó thành một phần trong vũ trụ hư cấu, cùng các đại diện tiêu biểu khác là ×××HOLiC và Tsubasa -RESERVoir CHRoNiCLE-.

Tác phẩm được chuyển thể thành một bộ anime truyền hình dài 70 tập bởi Madhouse, phát sóng tại Nhật Bản trên kênh NHK BS2 từ tháng 4 năm 1998 đến tháng 3 năm 2000. Hai bộ phim anime điện ảnh cũng được hãng này sản xuất và công chiếu vào tháng 8 năm 1999 và tháng 7 năm 2000. Một số loại hình truyền thông dựa theo khác gồm trò chơi điện tử, artbook, sách tranh, truyện tranh anime và tiểu thuyết anime. Manga Cardcaptor Sakura được dịch và phát hành tại gần 20 quốc gia ngoài Nhật Bản, trong đó TVM Comics mua bản quyền phát hành phiên bản tiếng Việt tại thị trường Việt Nam từ tháng 7 năm 2014 đến tháng 10 năm 2015, do Nhà xuất bản Hải Phòng ấn hành. Anime được phát sóng lần đầu trên kênh HTV3 năm 2008 với tên gọi Thủ lĩnh thẻ bài với đơn vị mua bản quyền và thực hiện lồng tiếng là Công ty Cổ phần Truyền thông Trí Việt (TVM Corp.)

Các nhà phê bình đánh giá cao sự sáng tạo của manga và mô tả nó là tinh hoa của loại hình truyện tranh dành cho thiếu nữ. Nội dung sâu sắc cùng phong cách nghệ thuật đáng yêu của nó cũng gây nhiều chú ý. Cardcaptor Sakura được trao giải Seiun với danh hiệu Manga xuất sắc nhất vào năm 2001. Chuyển thể anime truyền hình được khen ngợi vì đã thu hút sự chú ý của mọi lứa tuổi khán giả từ trẻ em đến người lớn; mặc dù một vài mối quan hệ giữa các nhân vật bị kiểm duyệt tại một số quốc gia. Công nghệ hoạt họa và hình ảnh trong phim tạo được ấn tượng, đặc biệt là những màn thi triển phép thuật "gần như độc nhất" của Sakura. Phim đã thắng giải Animage Grand Prix với danh hiệu Anime xuất sắc nhất vào năm 1999, và sau đó được bình chọn vào danh sách 100 phim hoạt hình tiêu biểu của Nhật Bản nhân Liên hoan Nghệ thuật truyền thông lần thứ 10 năm 2006.

Chiến tranh biên giới Việt–Trung 1979

Chiến tranh biên giới 1979, hay thường được gọi là Chiến tranh biên giới Việt – Trung năm 1979, là một cuộc chiến ngắn nhưng khốc liệt giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, nổ ra vào ngày 17 tháng 2 năm 1979 khi Trung Quốc đưa quân tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới giữa 2 nước.Chiến tranh biên giới Việt - Trung bắt nguồn từ quan hệ căng thẳng kéo dài giữa hai quốc gia, kéo dài trong khoảng một tháng với thiệt hại về người và tài sản cho cả hai phía.

Cuộc chiến kết thúc khi Trung Quốc tuyên bố hoàn thành rút quân vào ngày 16 tháng 3 năm 1979 sau khi Chủ tịch Tôn Đức Thắng bên phía Việt Nam kí lệnh Tổng động viên toàn dân và Trung Quốc đã đánh chiếm các thị xã Lạng Sơn, Lào Cai, Cao Bằng và một số thị trấn vùng biên. Mặc dù chịu thiệt hại lớn và thất bại trong việc buộc Việt Nam phải rút quân khỏi Campuchia nhưng Trung Quốc đã chứng minh được rằng đối thủ Liên Xô sẽ không trực tiếp tham chiến để bảo vệ đồng minh Việt Nam của mình. Cuộc chiến cũng để lại hậu quả lâu dài đối với nền kinh tế Việt Nam và căng thẳng trong quan hệ giữa hai nước. Xung đột vũ trang tại biên giới giữa hai nước vẫn còn tiếp diễn thêm hơn mười năm. Tới năm 1991, Quan hệ ngoại giao Việt–Trung mới chính thức được bình thường hóa.

Châu Á

Châu Á hay Á Châu là châu lục lớn nhất và đông dân nhất thế giới nằm ở Bắc bán cầu và Đông bán cầu. Châu Á chiếm 8.6% tổng diện tích bề mặt Trái Đất (chiếm 29.9% diện tích mặt đất) và có 4 tỉ người, chiếm 60% dân số hiện nay của thế giới.

Sự phân chia ranh giới giữa châu Á và châu Phi là eo đất Suez (mặc dù bán đảo Sinai, một phần của Ai Cập, nằm về phía đông của kênh đào này thông thường về mặt địa lý-chính trị được coi là một phần của châu Phi). Ranh giới giữa châu Á và châu Âu chạy qua eo biển Dardanelles, biển Marmara, eo biển Bosphorus, tới Biển Đen, dãy núi Kavkaz, Biển Caspi, dọc theo dãy núi Ural tới Biển Kara của Nga.

Châu Á, khi được xem xét theo khía cạnh chính trị, bao gồm một phần của đại lục Á-Âu và các quần đảo gần kề trong Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, và thông thường không bao gồm Nga. Một số quốc gia châu Á có lãnh thổ vượt ra ngoài châu Á.

Coleophoridae

Coleophoridae là một họ bướm đêm thuộc siêu họ Gelechioidea. Chúng phân bố chủ yếu ở vùng Palearctic, và hiếm hơn ở vùng cận Sahara, Nam Mỹ và Úc; chúng có nguồn gốc từ bắc Á-Âu.

Krasnoyarsk (vùng)

Krasnoyarsk Krai (tiếng Nga:Красноярский край, Krasnoyarsky kray) là một chủ thể liên bang của Nga (một vùng). Vùng này là chủ thể liên bang lớn thứ 2 ở Nga sau Cộng hòa Sakha và là đơn vị vùng lớn nhất của Nga với diện tích 2.339.700 km2, chiếm 13% diện tích của toàn nước Nga. Trung tâm hành chính là thành phố Krasnoyarsk.

Mãn Châu

Mãn Châu (chữ Mãn: , latinh hóa: Manju; chữ Hán giản thể: 满洲; chữ Hán phồn thể: 滿洲; bính âm: Mǎnzhōu; tiếng Mông Cổ: Манж)) là một địa danh ở Đông Bắc Á bao gồm vùng Đông Bắc Trung Quốc và một phần ở Viễn Đông của Nga. Đây là địa bàn của các vương quốc cổ như Cổ Triều Tiên (2333 TCN - thế kỷ 2 TCN), Phù Dư (thế kỷ 2 TCN - 494), Cao Câu Ly (37 TCN - 668), Bách Tế (698 - 926), Liêu, Kim, và là nơi xuất thân của nhà Thanh.

Phạm vi của Mãn Châu có thể khác nhau tùy theo từng quan niệm:

Có quan niệm cho rằng Mãn Châu chỉ gồm vùng Đông Bắc của Trung Quốc, tức là gồm các địa phương Liêu Ninh, Cát Lâm, Hắc Long Giang.

Lại có quan niệm cho rằng Mãn Châu là vùng lãnh thổ của nhà nước Mãn Châu; và theo quan niệm này Mãn Châu lại bao gồm các địa phương của Trung Quốc nói trên cộng với Nội Mông.

Quan niệm thứ ba cho rằng Mãn Châu phải bao gồm cả tỉnh Nhiệt Hà trước đây của Trung Quốc. Tỉnh này bao trùm một phần tỉnh Hà Bắc và Sơn Tây ngày nay.

Lại có quan niệm thứ tư cho rằng Mãn Châu như quan niệm thứ ba chỉ là Nội Mãn Châu. Mãn Châu đầy đủ phải bao gồm cả Ngoại Mãn Châu nằm trong lãnh thổ Nga.

Người Evenk

Người Evenk (Ewent hay Event) (tên tự gọi: Эвэнкил Evenkil; tiếng Nga: Эвенки Evenki; Tiếng Trung:鄂温克族 Bính âm: Èwēnkè Zú, Hán Việt: Ngạc Ôn Khắc tộc; trước đây gọi là Tungus hay Tunguz; tiếng Mông Cổ: Khamnigan Хамниган) là một dân tộc Tungus sống tại Bắc Á. Tại Nga, người Evenk được công nhận là một trong các dân tộc bản xứ của Bắc Nga, với dân số 35,527 (Thống kê của Nga năm 2002). Tại Trung Quốc, người Evenk là một trong 56 dân tộc được công nhận chính thức với dân số là 30505 theo thống kê năm 2000. Cũng có một nhóm nhỏ người Evenk bị Mông Cổ hóa tại Mông Cổ, tại đây họ được gọi là Khamnigan.

Nhật Bản

Nhật Bản (Nhật: 日本, Hepburn: Nihon hoặc Nippon, hay Nhật Bản Quốc (日本国)) là một đảo quốc nằm ở vùng Đông Á. Tọa lạc trên Thái Bình Dương, nước này nằm bên rìa phía đông của Biển Nhật Bản, Biển Hoa Đông, Trung Quốc, bán đảo Triều Tiên và vùng Viễn Đông Nga, trải dài từ Biển Okhotsk ở phía bắc xuống Biển Hoa Đông và đảo Đài Loan ở phía nam. Chữ kanji (Hán tự) trong quốc hiệu Nhật Bản nghĩa là "gốc của Mặt Trời," và thường được biết đến qua biệt danh "Đất nước Mặt Trời mọc."

Nhật Bản là một quần đảo núi lửa gồm khoảng 6.852 đảo, chủ yếu nằm trong khu vực ôn đới với bốn mùa rõ rệt, nhưng có khí hậu khác biệt dọc theo chiều dài đất nước. Năm hòn đảo chính yếu là Honshu, Hokkaido, Kyushu, Shikoku và Okinawa, chiếm khoảng 97% diện tích đất liền của nước này, nhưng phần nhiều chỉ là rừng và núi với nguồn tài nguyên khoáng sản rất hạn chế. Quần đảo được chia thành 47 tỉnh thuộc 8 vùng địa lý. Dân số Nhật Bản vào khoảng 126 triệu người, đứng thứ 11 thế giới và là đảo quốc đông dân thứ hai, tập trung chủ yếu ở các vùng đồng bằng nhỏ hẹp ven biển. Người Nhật chiếm khoảng 98,1% tổng dân số đất nước. Gần 13,8 triệu cư dân sống tại trung tâm Tokyo, thủ đô không chính thức của đất nước. Vùng thủ đô Tokyo, bao gồm thủ đô và một vài tỉnh xung quanh nó, là đại đô thị lớn nhất thế giới với hơn 35 triệu dân và có nền kinh tế đô thị hóa cao nhất hành tinh. Đại đa số người dân Nhật Bản thực hành tín ngưỡng Thần đạo theo truyền thống bản địa, kết hợp với Phật giáo vốn được du nhập từ bên ngoài.

Các nghiên cứu khảo cổ chỉ ra rằng đã có người định cư tại Nhật Bản từ thời Thượng kỳ đồ đá cũ. Những ghi chép đầu tiên đề cập đến quốc gia này nằm trong các thư liệu lịch sử Trung Hoa có từ thế kỷ thứ nhất Công Nguyên. Thoạt đầu chịu ảnh hưởng từ các vùng đất khác, chủ yếu là Đế quốc Trung Quốc, tiếp đến là giai đoạn tự cách ly, về sau thoát khỏi sự chi phối của thế giới phương Tây, đã hình thành những nét đặc trưng trong lịch sử và văn hóa Nhật Bản. Từ thế kỷ 12 đến năm 1868, Nhật Bản liên tục thuộc quyền cai trị của các quân nhân phong kiến shogun nhân danh Thiên hoàng. Quốc gia này bước vào quá trình cô lập kéo dài suốt nửa đầu thế kỷ 17, và chỉ kết thúc vào năm 1853 khi một hạm đội của Hoa Kỳ gây áp lực buộc Nhật Bản phải mở cửa với phương Tây. Gần hai thập kỷ nội chiến và bạo loạn đã xảy ra trước khi Thiên hoàng Minh Trị tái thiết lại đất nước trong vai trò nguyên thủ vào năm 1868 và khai sinh Đế quốc Nhật Bản, với Thiên hoàng trở thành biểu tượng thiêng liêng của dân tộc. Trong những năm cuối thế kỷ 19, công nghiệp hóa tại Nhật Bản diễn ra mạnh mẽ, đất nước phát triển nhanh chóng, và đến đầu thế kỷ 20 thì Nhật Bản đã trở thành quốc gia có trình độ hiện đại hóa cao nhất châu Á, sánh ngang nhiều nước Tây Âu. Những thắng lợi sau chiến tranh Thanh-Nhật, chiến tranh Nga-Nhật và Chiến tranh thế giới thứ nhất đã cho phép Nhật Bản đánh chiếm nhiều vùng lãnh thổ tại Trung Quốc và Triều Tiên, mở rộng đế chế của mình và củng cố quyền lực của chủ nghĩa quân phiệt. Cuộc chiến tranh Trung-Nhật năm 1937 đã nhanh chóng lan rộng thành một phần của Chiến tranh thế giới thứ hai từ năm 1941, mà cuối cùng kết thúc vào năm 1945 sau vụ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki. Từ thời điểm bản Hiến pháp mới được ban hành năm 1947, Nhật Bản là một nhà nước đơn nhất duy trì chế độ quân chủ lập hiến kết hợp dân chủ đại nghị, trong đó cơ quan lập pháp dân cử là Quốc hội.

Nhật Bản là nước thành viên của Liên Hợp Quốc, khối APEC, các nhóm G7, G8 và G20, đồng thời được xem như một cường quốc. Quốc gia này có nền kinh tế đứng hạng ba thế giới theo GDP danh nghĩa và hạng tư thế giới theo sức mua tương đương. Nó cũng đứng hạng tư hành tinh cả về kim ngạch nhập khẩu lẫn xuất khẩu. Mặc dù Nhật Bản đã chính thức từ bỏ quyền tuyên chiến, nước này vẫn sở hữu một lực lượng quân đội hiện đại có ngân sách cao thứ tám thế giới, được huy động với mục đích tự vệ và gìn giữ hòa bình. Nhật Bản là một nước phát triển với mức sống và Chỉ số phát triển con người rất cao, trong đó người dân được hưởng tuổi thọ cao nhất thế giới, đứng hạng ba trong số những quốc gia có tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh thấp nhất thế giới, và vinh dự có số người đoạt giải Nobel nhiều nhất châu Á. Nhật Bản là quốc gia dẫn đầu về Chỉ số thương hiệu quốc gia, hạng sáu trong Báo cáo cạnh tranh toàn cầu 2019 và giữ vị trí cao thứ hai châu Á về Chỉ số hòa bình toàn cầu. Nhật Bản cũng là quốc gia châu Á đầu tiên đăng cai tổ chức Thế vận hội Mùa hè và Mùa Đông. Mặt khác, Nhật Bản là quốc gia có tỉ lệ tự sát cao, kết hợp với tình trạng sinh đẻ thấp ở mức báo động đã góp phần khiến cho quá trình lão hóa dân số diễn ra ngày càng trầm trọng.

Quần đảo Kuril

Bản mẫu:Infobox disputed islands

Quần đảo Kuril theo cách gọi của Nga (tiếng Nga: Курильские острова [kuˈrʲilskiɪe əstrʌˈva], Kuril'skie ostrova), hay quần đảo Chishima theo cách gọi của Nhật Bản (tiếng Nhật: 千島列島; âm Hán Việt: Thiên Đảo liệt đảo; nghĩa là "chuỗi 1000 đảo") nay thuộc tỉnh Sakhalin của Nga, là một quần đảo núi lửa trải dài khoảng 1.300 km về phía đông bắc từ Hokkaidō, Nhật Bản tới Kamchatka của Nga, ngăn biển Okhotsk bên tây bắc và Thái Bình Dương phía đông nam. Quần đảo này có khoảng 56 đảo và nhiều đảo đá nhỏ khác.

Sau phát xít Nhật bại trận vào năm 1945, Liên Xô chiếm đóng toàn bộ quần đảo Kuril từ phía Nhật, và nay là của Nga. Tất cả cư dân trên đảo sau đó đã được đưa sang định cư ở vùng Trung Á thuộc Liên Xô. Tuy nhiên đến nay Nhật vẫn khẳng định chủ quyền của mình ở 4 đảo cực nam của quần đảo này.

Quần đảo Trường Sa

Quần đảo Trường Sa (tiếng Anh: Spratly Islands; giản thể: 南沙群岛; phồn thể: 南沙群島; bính âm: Nánshā Qúndǎo; tiếng Mã Lai và tiếng Indonesia: Kepulauan Spratly; tiếng Tagalog: Kapuluan ng Kalayaan) là một tập hợp thực thể địa lý được bao quanh bởi những vùng đánh cá trù phú và có tiềm năng dầu mỏ, khí đốt thuộc biển Đông. Tuy nhiên, quần đảo này đang trong tình trạng tranh chấp ở các mức độ khác nhau giữa sáu bên là Brunei, Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan), Malaysia, Philippines, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc) và Việt Nam. Ở cấp độ quốc tế, phạm vi của khái niệm Spratly Islands vẫn chưa được xác định rõ và đang trong vòng tranh cãi. Ở cấp độ quốc gia cũng có các cách hiểu khác nhau. Tuy Đài Loan, Trung Quốc và Việt Nam trên danh nghĩa đều tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ quần đảo, nhưng khái niệm quần đảo Nam Sa trong nhận thức của Đài Loan và Trung Quốc là bao hàm toàn bộ các thực thể địa lý nằm bên trong phần phía nam của đường chín đoạn. Đối với Philippines, phạm vi tuyên bố chủ quyền của nước này bao trùm hầu hết quần đảo và được gọi là Nhóm đảo Kalayaan. Về phần Malaysia, nước này đòi hỏi một số thực thể ở phía nam của quần đảo. Cuối cùng, chưa rõ Brunei đòi hỏi cụ thể thực thể địa lý nào vì chỉ thấy nước này đưa ra yêu sách về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa mà trong vùng đó có vài thực thể thuộc biển Đông.

Tại Hội nghị San Francisco năm 1951 về việc phân định các lãnh thổ hải đảo mà Đế quốc Nhật Bản từng chiếm giữ, quần đảo Trường Sa là đối tượng tuyên bố chủ quyền của nhiều bên tranh chấp: Liên hiệp Pháp, Trung Quốc, Đài Loan, Philippines, Malaysia và Indonesia. Kết quả là Hội nghị không công nhận chủ quyền của quốc gia nào, quần đảo này được coi là vô chủ và càng gây ra tranh chấp dữ dội hơn sau này.

Tất cả những nước tham gia tranh chấp này, trừ Brunei, đều có quân đội đồn trú tại nhiều căn cứ trên các đảo nhỏ và đá ngầm khác nhau. Năm 1956, Đài Loan chiếm giữ đảo Ba Bình. Đầu thập niên 1970, Philippines chiếm 7 đảo và rạn đá phía đông quần đảo. Tháng 3 năm 1988, Việt Nam và Trung Quốc đụng độ quân sự tại ba rạn đá là Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao. Tháng 2 năm 1995 và tháng 11 năm 1998, giữa Trung Quốc và Philippines đã hai lần bùng phát căng thẳng chính trị do hành động giành và củng cố quyền kiểm soát đá Vành Khăn của phía Trung Quốc. Dù rằng Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển đã ra đời nhằm xác định các vấn đề về ranh giới trên biển nhưng bản thân Công ước không có điều khoản nào quy định cách giải quyết các tranh chấp về chủ quyền đối với đảo.

Viễn Đông Nga

Viễn Đông Nga (tiếng Nga: Да́льний Восто́к; phát âm [ˈdalʲnʲɪj vʌˈstok]) hay Transbaikalia là một thuật ngữ chỉ những vùng của Nga ở Viễn Đông, ví dụ, những vùng cực đông của Nga, giữa Hồ Baikal ở Trung Siberia, và Thái Bình Dương. Quận Viễn Đông Liên bang của Nga, bao phủ vùng này, không nên bị nhầm lẫn với Quận Liên bang Siberia.

Vùng liên bang Viễn Đông

Vùng liên bang Viễn Đông (tiếng Nga: Дальневосточный федеральный округ, chuyển tự Dalnevostochny federalny okrug) là vùng liên bang lớn nhất trong 8 vùng liên bang của Nga, đây cũng là vùng có dân số ít nhất, với 6.692.865 người (74,3% dân thành thị) và diện tích 6.215.900 km². Vùng liên bang Viễn Đông được thành lập năm 2000 bởi tổng thống Vladimir Putin. Vùng liên bang Viễn Đông bao gồm phần lớn lãnh thổ của khu vực Viễn Đông Nga.

Đông Bắc Trung Quốc

Đông Bắc Trung Quốc bao gồm các địa phương Hắc Long Giang, Liêu Ninh và Cát Lâm. Miền này phía tây giáp Hoa Bắc, phía bắc giáp Nga, phía đông giáp Nga, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, phía nam trông ra vịnh Bột Hải. Đông Bắc Trung Quốc còn gọi là Quan Đông vì trước đây, từ miền này muốn vào vùng Hoa Bắc phải đi qua Sơn Đông Quan trên dãy Vạn Lý Trường Thành.

Đông Bắc Á

Đông Bắc Á là một khu vực Đại Đông Á.

Đông Á

Đại Đông Á, Đông Á hoặc đôi khi Viễn Đông là những thuật ngữ mô tả một khu vực của châu Á có thể được định nghĩa theo các thuật ngữ địa lý hay văn hóa.

Khu vực địa lý này bao gồm Trung Quốc, Hồng Kông, Ma Cao, Nhật Bản, Mông Cổ, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc và Đài Loan. Người dân bản địa trong khu vực được gọi là người Đông Á. Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam thuộc về khu vực văn hóa Đông Á.Về mặt địa lý, nó chiếm khoảng 11.839.074 km², hay 25% diện tích của châu Á.

Về mặt văn hóa, nó bao gồm các cộng đồng là một phần của ảnh hưởng của nền văn minh Trung Hoa, thể hiện rõ nét trong các ảnh hưởng lịch sử từ chữ Hán, Khổng giáo và Tân Khổng giáo, Phật giáo Đại thừa, Lão giáo. Tổ hợp này của ngôn ngữ, quan niệm chính trị và tín ngưỡng bao phủ sự phân chia địa lý của Đông Á.

Địa lý châu Á

Địa lý châu Á có thể coi là phức tạp và đa dạng nhất trong số 5 châu lục trên mặt đất. Châu Á được phân biệt với các châu khác không chỉ bởi các biển và đại dương, mà còn bởi nhiều đặc điểm tự nhiên độc đáo khác: một châu lục có kích thước vĩ đại nhất, trên 44,4 triệu km², có lịch sử phát triển và cấu tạo địa chất phức tạp nhất, có địa hình bề mặt bị chia cắt mạnh nhất và có sự phân hóa cảnh quan, khí hậu vô cùng phong phú, đa dạng: từ băng giá vĩnh cửu, rừng lá kim cho tới hoang mạc nóng bỏng, rừng rậm nhiệt đới xanh um. Với sự phối hợp của các điều kiện tự nhiên nói trên, châu Á đã hình thành các khu vực địa lý tự nhiên có đặc điểm hoàn toàn khác nhau như Bắc Á, Trung Á, Đông Á, Đông Nam Á, Nam Á và Tây Nam Á.

Về mặt địa lý xã hội, châu Á cũng là châu lục đông dân cư nhất với hơn 4,4 tỉ người, có đủ các thành phần chủng tộc như Mongoloid, Europeoid, Negroid. Tôn giáo cũng rất đa dạng và đã có từ lâu đời như Phật giáo, Hồi giáo, Thiên Chúa giáo, Ấn Độ giáo...

Các khu vực trên thế giới

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.