Bán đảo Iberia

Bán đảo Iberia là bán đảo tọa lạc tại miền tây nam châu Âu, chủ yếu được phân chia giữa Bồ Đào NhaTây Ban Nha, hai quốc gia chiếm phần lớn diện tích bán đảo. Andorra và một phần nhỏ của Pháp dọc theo góc đông bắc bán đảo, cùng Gibraltar (một lãnh thổ hải ngoại của Vương quốc Liên hiệp), cũng nằm trong bán đảo này. Với diện tích khoảng 582.000 km2 (225.000 sq mi), đây là bán đảo lớn thứ nhì châu Âu, sau bán đảo Scandinavia.

Bán đảo Iberia

España y Portugal
Ảnh vệ tinh bán đảo Iberia.
Iberia (orthographic projection)
Địa lý
Vị tríTây Nam châu Âu
Tọa độ40°B 4°T / 40°B 4°TTọa độ: 40°B 4°T / 40°B 4°T
Diện tích582.000 km2 (224.700 mi2)
Độ cao tương đối lớn nhất3.478 m (11.411 ft)
Đỉnh cao nhấtMulhacén
Hành chính
Thành phố lớn nhấtAndorra la Vella
Điểm dân cư lớn nhấtLisboa
Điểm dân cư lớn nhấtMadrid
Điểm dân cư lớn nhấtGibraltar
Điểm dân cư lớn nhấtFont-Romeu-Odeillo-Via (phần thuộc bán đảo)
Nhân khẩu học
Dân sốHơn 57 triệu
Dân tộcNgười Andorra, người Pháp, người Gibraltar, người Bồ Đào Nhangười Tây Ban Nha (người Andalucia, người Aragon, người Asturias, người Basque, người Cantabria, người Castilla, người Catalunya, người Extremadura, người Galicia, người León, người Valencia)
Al-Andalus

Al-Andalus (tiếng Ả Rập: الأندلس, al-Andalus) là tên tiếng Ả Rập để chỉ một quốc gia và vùng lãnh thổ trên bán đảo Iberia của người Moor. Tên gọi này mô tả các phần của bán đảo Iberia và Septimania từng bị cai trị bởi người Hồi giáo (được đặt tên chung là người Moor), tại nhiều thời điểm khác nhau trong khoảng thời gian từ năm 711 tới 1492, mặc dù các ranh giới lãnh thổ liên tục trải qua các cuộc tấn công từ các vương quốc Kitô giáo.

Sau khi quân Hồi giáo chinh phục Tây Ban Nha, al-Andalus được chia thành năm khu vực hành chính tương ứng với Andalusia, Galicia và Bồ Đào Nha, Castilla và Léon, Aragon và Catalonia, và Septimania. Với tư cách như những lãnh thổ chính trị, chúng hình thành nên phần châu Âu thuộc tỉnh Bắc Phi (Magrib Africa) của vương triều Umayyad, ban đầu với sự cai quản của Khalip Al-Walid I (711-750). Sau đó là Tiểu vương quốc Córdoba (khoảng 750-929); tiếp theo là Triều Khalip của Córdoba (Califato de Córdoba) (929–1031); và cuối cùng phân rã từ Triều Khalip của Córdoba, là các vương quốc Taifa (sơ kỳ, trung kỳ và hậu kỳ). Kết thúc Al-Andalus Hồi giáo, bị thu nhỏ chỉ còn là Vương quốc Granada nhỏ bé, trước khi mất hẳn. Dưới sự thống trị của các vương quốc này, Tây Ban Nha đã trải qua thời kỳ trao đổi và hợp tác văn hóa giữa người Kitô giáo, Hồi giáo và người Do Thái. Dưới sự lãnh đạo bởi Triều Khalip của Córdoba, Al-Andalus đi đầu trong giáo dục, và thành phố Córdoba đã trở thành một trong những trung tâm văn hóa và kinh tế hàng đầu ở cả hai khu vực Địa Trung Hải và thế giới Hồi giáo.

Trong các thế kỷ sau, al-Andalus trở thành một tỉnh dưới triều đại Almoravid và Almohad của người Hồi giáo Berber, sau đó phân thành một số tiểu bang nhỏ, đáng chú ý nhất là Tiểu vương quốc Granada. Với sự hỗ trợ của người dân địa phương ở bán đảo Iberia, người Almoravid lật đổ các hoàng tử Hồi giáo Taifa, sau khi giúp để đẩy lùi các cuộc tấn công của người Kitô về khu vực của Alfonso VI. Sự điều hành của người Almoravid và Almohad đã chứng kiện sự sụt giảm trong giao lưu văn hóa, xã hội và gia tăng đàn áp tôn giáo với các dân tộc thiểu số, cùng sự trở lại của nhiều hình thức chính thống của đạo Hồi.

Trong phần lớn lịch sử, al-Andalus trải qua rất nhiều cuộc xung đột với các vương quốc Kitô giáo ở phía bắc, người Kitô lúc đầu mặc dù phải chịu quy phục nhưng cuối cùng đã lật đổ được người Hồi giáo ở phía nam. Năm 1085, Alfonso VI của León và Castile chiếm được Toledo, khởi đầu một sự suy tàn dần dần, đến năm 1236, với sự sụp đổ của Córdoba, Tiểu vương quốc Granada là lãnh thổ duy nhất mà người Hồi giáo còn cai trị trong khu vực mà ngày nay là Tây Ban Nha. Quá trình Reconquista ở Bồ Đào Nha lên đến đỉnh điểm năm 1249 với cuộc chinh phục Algrave của Afonso III. Năm 1238, Tiểu vương quốc Granada chính thức trở thành một chư hầu để Vương quốc Castilla, sau đó chịu sự cai trị của vua Ferdinand III. Ngày 02 tháng 1 năm 1492, Tiểu vương Muhammad XII đầu hàng trước Nữ hoàng Isabella I của Castilla, người cùng với chồng là vua Ferdinand II của Aragon được biết đến là những Los Reyes Católicos, hay còn gọi là "Các vị Vua Công giáo". Sự đầu hàng đã chấm dứt sự tồn tại của al-Andalus như một thực thể chính trị, nhưng những đóng góp về văn hóa và xã hội dưới thời kỳ Hồi giáo vẫn tiếp tục tồn tại trong khu vực Iberia cho đến ngày nay.

Clodius Albinus

Clodius Albinus (tiếng Latin: Decimus Clodius Septimius Albinus Augustus; khoảng 150 - 19, 197) là một người cướp ngôi La Mã được tuyên bố là hoàng đế bởi quân đoàn lê dương ở Anh và Hispania (bán đảo Iberia, bao gồm Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha ngày nay) khi xảy ra vụ vụ giết Pertinax vào năm 193.

Albinus sinh ra trong một gia đình quý tộc ở Hadrumetum ở châu Phi. Theo cha của ông thì ông đã nhận được tên của Albinus vì độ trắng bất thường của cơ thể của cậu bé. Thể hiện thiên hướng lớn đối với cuộc sống quân ngũ, ông nhập ngũ ở độ tuổi trẻ và phục vụ với sự ưu tú lớn, đặc biệt là trong các cuộc nổi loạn của Avidius Cassius chống lại hoàng đế Marcus Aurelius năm 175. Công lao của ông được công nhận bởi các hoàng đế trong hai chữ cái mà ông gọi là Albinus một người châu Phi, giống như đồng hương của mình nhưng ít, và đáng ca ngợi cho kinh nghiệm quân sự và vẻ nghiêm nghị trong tính cách của ông. Hoàng đế tuyên bố rằng không có Albinus các quân đoàn (ở Bithynia) sẽ đi qua Avidius Cassius, và rằng ông dự định để anh ta làm quan chấp chính tối cao.

Cộng đồng Madrid

Cộng đồng Madrid (tiếng Tây Ban Nha: Comunidad de Madrid) là một trong 17 cộng đồng tự trị của Tây Ban Nha. Nó nằm ở trung tâm của Tây Ban Nha, trên bán đảo Iberia. Cộng đồng này bao gồm Madrid, thủ đô của Tây Ban Nha đồng thời cũng là thủ phủ của cộng đồng. Cộng đồng Madrid tiếp giáp Castile-La Mancha về phía nam và phía đông, giáp Castile và León về phía bắc và tây. Dân số ước tính là 6,5 triệu người, trong đó tập trung phần lớn ở Vùng Đô thị Madrid.

Cộng đồng Valencia

Cộng đồng Valencia (tiếng Tây Ban Nha: Comunidad Valenciana, IPA: [komuniˈðað βalenˈθjana]) là một lãnh thổ tự trị của Tây Ban Nha nằm ở miền trung và đông-nam bán đảo Iberia. Thủ phủ và thành phố lớn nhất của nó là Valencia. Vùng này được chia làm 3 tỉnh: Alicante, Castellón và Valencia.

Lãnh thổ thành lập năm 1982 của Cộng đồng tự trị phần lớn là tương ứng với của Vương quốc cũ của Valencia.

Galicia (Tây Ban Nha)

Galicia (tiếng Galicia: [ɡaˈliθja] (), [ħaˈliθja], hay [ħaˈlisja]; tiếng Tây Ban Nha: [ɡaˈliθja]; tiếng Galicia và tiếng Bồ Đào Nha: Galiza, tiếng Galicia: [ɡaˈliθa] (), [ħaˈliθa], [ħaˈlisa], tiếng Bồ Đào Nha: [ɡɐˈlizɐ]) là một cộng đồng tự trị của Tây Ban Nha và một vùng dân tộc lịch sử dưới luật Tây Ban Nha. Tọa lạc ở miền tây bắc bán đảo Iberia, nó bao gồm các tỉnh A Coruña, Lugo, Ourense và Pontevedra, giáp với Bồ Đào Nha về phía nam, các cộng đồng tự trị Castilla và León và Asturias về phía đông, Đại Tây Dương về phía tây, và biển Cantabria về phía bắc. Nó có dân số 2.718.525 (2016) và tổng diện tích 29.574 km2 (11.419 sq mi). Galicia có hơn 1.660 km (1.030 mi) đường bờ biển, với những đảo ven bờ, gồm quần đảo Cíes, Ons, Sálvora, Cortegada, và A Illa de Arousa (đảo lớn nhất và đông dân nhất).

Khu vực mà nay gọi là Galicia đã được con người đến định cư vào thời Trung kỳ đồ Đá cũ, với tên gọi xuất phát từ Gallaeci, một dân tộc Celt sinh sống ở phía bắc sông Douro vào thiên niên kỷ 1 TCN, ở một vùng trùng khớp với của nền văn hóa Castro địa phương. Galicia được sáp nhập vào đế quốc La Mã vào cuối các cuộc chiến tranh Cantabria năm 19 TCN, và trở thành một tỉnh Lã Mã vào thế kỷ 3. Năm 410, người Suebi (một dân tộc German) thiết lập một vương quốc với thủ đô đặt tại Braga (Bồ Đào Nha); vương quốc này được sáp nhập vào vương quốc của người Visigoth năm 585. Năm 711, Khalip quốc Omeyyad xâm lược bán đảo Iberia, thắng lợi trước vương quốc Visigoth Hispania năm 718, nhưng không lâu sau Galicia được hợp nhất vào vương quốc Asturias theo Kitô giáo năm 740. Vào thời Trung cổ, vương quốc Galicia có khi được cai trị bởi các vị vua của chính mình, nhưng thường thì nó phụ thuộc vào vương quốc Leon và sau đó là Castilla, tuy vẫn giữ phong tục tập quán và văn hóa của riêng mình. Từ thế kỷ thứ 13, vua của Castilla, dưới danh nghĩa vua Galicia, chọn ra một Adiantado-mór để quan lý nơi đây. Vị toàn quyền này cũng điều khiển Real Audiencia do Reino de Galicia, một cơ quan chính phủ và tòa án hoàng gia. Từ thế kỷ 16, quyền đại diện và tiếng nói của vương quốc Galicia được nắm giữ trong tay một hội đồng các ủy viên và người đại diện từ các thành phố của vương quốc, gọi là Cortes hay Junta của Vương quốc Galicia. Hội đồng này bị phá vỡ năm 1833 khi vương quốc Galicia bị chia ra thành bốn tỉnh hành chính ít có quan hệ tương tác. Thế kỷ 19-20, những yêu cầu quyền tự trị và sự công nhận văn hóa Galicia lên cao. Điều này dẫn đến Đạo luật Tự trị năm 1936, nhưng sớm đổ vỡ bởi cuộc đảo chính của Franco và chế độ độc tài sau đó. Sau khi nền dân chủ được tái lập, cơ quan lập pháp đã thông qua Đạo luật Tự trị năm 1981, cho Galicia quyền tự quản, đã đồng thuận trong cuộc trưng cầu dân ý và hiện tại đang có hiệu lực.

Về địa lý, vùng nội địa Galicia có cảnh quan đồi núi; những dãy núi đặt 2.000 m (6.600 ft) ở miền đông và nam. Vùng duyên hải lả những rías và vách đá xen kẻ nhau. Khí hậu Galicia mang tính ôn đới và nhiều mưa, mùa hè khô; đây được phân loại là khí hậu đại dương. Điều kiện địa lý và khí hậu này khiến chăn nuôi gia xúc và trồng trọt trở thành ngành kinh tế chính của Galicia trong gần suốt chiều dài lịch sử, cho phép Galicia nuôi đủ một lượng dân cư tương đối lớn thời điểm đó. Trừ đóng tàu và chế biến thực phẩm, kinh tế Galicia dựa trên nuôi trồng và đánh bắt hải sản cho tới giữa thế kỷ 20, khi nơi đây bắt đầu công nghiệp hóa. Năm 2012, tổng sản phẩm nội địa (GDP) là 56.000 triệu €, với GDP trên đầu người danh nghĩa 20.700 €. Dân cư chủ yếu tập trung ở hai khu vực: từ Ferrol tới A Coruña ở duyên hải miền bắc, và vùng Rías Baixas ở tây nam, gồm các thành phố Vigo, Pontevedra, và Santiago de Compostela. Có những điểm dân cư nhỏ hơn ở nội địa như Lugo và Ourense. Thủ phủ chính trị là Santiago de Compostela, tại tỉnh A Coruña. Vigo, thuộc tỉnh Pontevedra, là municipio đông dân nhất, với dân số 292.817 (2016), trong khi A Coruña là thành phố đông dân nhất, với 215.227 người (2014).Hai ngôn ngữ có địa vị chính thức và sử dụng phổ biến tại Galicia: tiếng Galicia, một ngôn ngữ Rôman có quan hệ chặt chẽ với tiếng Bồ Đào Nha (cả hai xuất phát từ tiếng Galicia-Bồ Đào Nha chung thời Trung cổ), và tiếng Tây Ban Nha, thường được gọi là tiếng Castilla ("lingua castelá"). 56% dân số Galicia nói tiếng Galicia như ngôn ngữ thứ nhất (tiếng mẹ đẻ), 43% còn lại nói chủ yếu tiếng Castilla.

Gibraltar

Gibraltar là vùng lãnh thổ hải ngoại thuộc Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, nằm gần cực Nam bán đảo Iberia, bên trên eo biển Gibraltar, giáp Tây Ban Nha ở phía Bắc. Trước kia, Gibraltar là một căn cứ quân sự quan trọng của lực lượng vũ trang và hải quân Hoàng gia Anh.

Tên gọi của vùng đất này bắt nguồn từ tiếng Ả Rập Jabal Tāriq (جبل طارق, có nghĩa là "ngọn núi Tariq"), hay Gibel Tāriq (có nghĩa là "tảng đá Tariq"). Tuy nhiên, theo các nhà địa chất học thì tên gọi "tảng đá Tariq" có lý hơn.

Năm 711, Tariq ibn-Ziyad đã lãnh đạo một đội quân đánh chiếm vào bán đảo Iberia trước khi quân Maroc tiến vào đấy. Trước đó, vùng đất Gibraltar mang tên Mons Calpe, là một trong số Trụ Hercules.

Trong một thời gian dài, hai thế lực đế quốc hùng mạnh Anh và Tây Ban Nha đã tranh giành nhau sự thống trị của vùng đất này. Sau này Tây Ban Nha yêu cầu trả lại Gibraltar, vốn dĩ nước này đã từ bỏ vào năm 1713 theo Hiệp ước Utrecht kết thúc Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha. Điều này đã bị phần đông người dân Gibraltar phản đối, kể cả bất kỳ đề nghị chia sẻ nền tự chủ nào khác.

Gibraltar có Sân bay quốc tế Gibraltar.

Granada (tỉnh)

Granada là một tỉnh ở miền nam Tây Ban Nha, tại khu phía đông của cộng đồng tự trị Andalusia. Tỉnh này giáp các tỉnh Córdoba, Málaga ở phía tây, Jaén ở phía bắc, Albacete, Murcia ở phía đông bắc, Almería ở phía đông và Địa Trung Hải ở phía nam. Tỉnh lỵ là Granada.

Tỉnh có diện tích 12.635 km². Dân số năm 2008 là 901.220 người, trong đó có khoảng 30% sinh sống ở tỉnh lỵ. Tỉnh có 168 đô thị. Núi cao nhất ở bán đảo Iberia, Mulhacén, nằm ở Granada với độ cao 3.481 m.

Granada có một phần vườn quốc gia Sierra Nevada (ở dãy núi Sierra Nevada) chung với tỉnh Almería.

Hispania

Hispania(; tiếng Latinh: [hɪsˈpaːnia]) từng là tên gọi được người La Mã và Hy Lạp đặt cho bán đảo Iberia. Dưới chế độ Cộng hòa, Hispania được chia thành hai tỉnh: Hispania Citerior và Hispania Ulterior. Trong thời kỳ nguyên thủ, Hispania Ulterior được chia thành 2 tỉnh mới, Baetica và Lusitania, trong khi Hispania Citerior được đổi tên thành Hispania Tarraconensis. Sau đó, phần phía tây của Tarraconensis lại được tách ra, đầu tiên là Hispania Nova, sau đó đổi tên thành Callaecia (hay Gallaecia, ngày nay là Galicia). Từ thời Diocletianus(năm 284 CN) trở đi, phần phía nam của Tarraconensis lại chia tách ra lần nữa thành Carthaginensis, và sau đó có thể đối với quần đảo Balearic và tất cả các tỉnh sau khi chia tách hình thành một giáo phận dân sự dưới quyền vicarius của Hispaniae (là các tỉnh Celt). Tên gọi Hispania còn được sử dụng vào thời kỳ người Visigoth cai trị

Napoléon Bonaparte

Napoléon Bonaparte (phiên âm: Na-pô-lê-ông Bôn-na-pác; tiếng Pháp: Napoléon Bonaparte [napoleɔ̃ bɔnɑpaʁt], tiếng Ý: Napoleone Buonaparte; một số sách Việt còn ghi tên ông là Nã Phá Luân (拿破侖); 15 tháng 8 năm 1769 – 5 tháng 5 năm 1821) là một nhà quân sự và nhà chính trị tiêu biểu của Pháp trong và sau cuộc cách mạng Pháp cũng như các cuộc chiến tranh liên quan ở châu Âu.

Với đế hiệu Napoléon I, ông là Hoàng đế của người Pháp từ năm 1804 đến năm 1815. Cuộc cải cách pháp luật của ông, Bộ luật Napoléon, đã có những ảnh hưởng lớn lên nhiều bộ luật dân sự trên toàn thế giới, nhưng ông được nhớ đến nhất bởi vai trò của mình trong các cuộc chiến tranh mà Pháp phải đương đầu với hàng loạt liên minh, được gọi là các cuộc chiến tranh Napoléon. Ông đã thiết lập quyền bá chủ trên phần lớn lục địa châu Âu và tìm cách truyền bá những lý tưởng của cách mạng Pháp, đồng thời củng cố nền đế chế làm phục hồi những nét của chế độ cũ Pháp (Ancien Régime). Nhờ thắng lợi trong những cuộc chiến này, thường là chống lại đối phương có ưu thế về quân số, ông được coi là một trong những nhà chỉ huy quân sự tài ba nhất mọi thời đại, và các chiến dịch của Napoléon

được nghiên cứu tại các học viện quân sự trên khắp thế giới.

Napoléon được sinh ra ở Ajaccio thuộc Corse, trong một gia đình thuộc dòng dõi quý tộc Genova (Ý). Ông được đào tạo thành một sĩ quan pháo binh ở Pháp. Bonaparte trở nên nổi tiếng dưới thời Đệ Nhất Cộng hòa Pháp khi chỉ huy thành công nhiều chiến dịch chống lại Liên minh thứ nhất và thứ hai chống Pháp. Ông cũng tiến hành cuộc chinh phạt bán đảo Ý.

Năm 1799, ông đã tổ chức một cuộc đảo chính và tự đưa mình trở thành vị Tổng tài thứ nhất; năm năm sau đó Thượng viện Pháp tuyên xưng ông là Hoàng đế Pháp. Trong thập niên đầu tiên của thế kỷ XIX, Đệ Nhất Đế chế Pháp dưới quyền Napoléon đã tham gia vào một loạt xung đột — những cuộc chiến tranh Napoléon — lôi kéo mọi cường quốc chính ở châu Âu tham gia. Sau một loạt thắng lợi, Pháp đạt được vị trí thống trị ở lục địa châu Âu, và Napoléon duy trì phạm vi ảnh hưởng của Pháp thông qua việc thành lập của những mối đồng minh rộng lớn và bổ nhiệm bạn bè và người thân cai trị các quốc gia châu Âu khác như những chư hầu của Pháp.

Cuộc chiến kéo dài ở bán đảo Iberia và cuộc xâm lược nước Nga năm 1812 đánh dấu bước ngoặt trong cơ đồ của Napoléon. Quân đội chủ lực của Pháp, Grande Armée, bị tổn thất nặng nề trong chiến dịch và không bao giờ có thể khôi phục lại hoàn toàn. Năm 1813, Liên minh thứ sáu đã đánh bại quân đội của ông tại Leipzig, năm sau đó Liên minh xâm lược Pháp, buộc Napoléon phải thoái vị và đày ông đến đảo Elba. Chưa đầy một năm sau, ông thoát khỏi Elba và trở lại nắm quyền, nhưng đã bị đánh bại trong trận Waterloo vào tháng 6 năm 1815. Napoléon trải qua sáu năm cuối cùng của cuộc đời trong sự giam cầm của người Anh trên đảo Saint Helena. Cái chết của ông gây ra nhiều tranh cãi về sau, chẳng hạn một số học giả cho rằng ông là nạn nhân của một vụ đầu độc bằng arsen.

Ảnh hưởng của Napoléon đối với thế giới hiện đại là đã mang lại những cải cách tự do cho nhiều vùng lãnh thổ mà ông đã chinh phục và kiểm soát, chẳng hạn như Hà Lan, Thụy Sĩ và một phần lớn của nước Ý và Đức hiện đại. Ông đã thực hiện các chính sách tự do cơ bản ở Pháp và khắp Tây Âu. Bộ luật Napoleon của ông đã ảnh hưởng đến hệ thống pháp luật của hơn 70 quốc gia trên thế giới. Nhà sử học Anh, Andrew Roberts bình luận: "Những ý tưởng củng cố thế giới hiện đại của chúng ta — công lý, chế độ nhân tài (chính quyền do những người thực sự có tài năng nắm giữ), bình đẳng trước pháp luật, quyền sở hữu, sự khoan dung tôn giáo, giáo dục thế tục hiện đại, tài chính ổn định, và nhiều thứ khác... — đã được bảo vệ, củng cố, chỉnh lý và mở rộng về mặt địa lý bởi Napoleon. Ông còn bổ sung theo đó là một chính quyền địa phương hợp lý và có năng lực, chấm dứt nạn cướp bóc ở nông thôn, khuyến khích khoa học và nghệ thuật, việc bãi bỏ chế độ phong kiến và sự lập pháp lớn nhất kể từ khi Đế quốc La Mã sụp đổ".

Người Bồ Đào Nha

Người Bồ Đào Nha (tiếng Bồ Đào Nha: os Portugueses) là một nhóm dân tộc bản địa ở Bồ Đào Nha, nằm ở tây Bán đảo Iberia thuộc tây nam châu Âu. Ngôn ngữ chính là tiếng Bồ Đào Nha, tôn giáo chủ yếu là Công giáo Rôma.

Do ảnh hưởng phạm vi lịch sử của Đế quốc Bồ Đào Nha và sự xâm chiếm thuộc địa ở châu Phi, châu Á và châu Mỹ cũng như làn sóng di cư mà cộng đồng người Bồ Đào Nha có mặt ở nhiều khu vực khác nhau trên thế giới.

Passer hispaniolensis

Passer hispaniolensis là một loài chim trong họ Passeridae.

Pyrénées

Pyrénées (tiếng Việt: Pi-rê-nê hoặc Phì Nhiêu; tiếng Anh: Pyrenees ; tiếng Aragon: Perinés; tiếng Basque: Pirinioak; tiếng Catalan: Pirineus; tiếng Occitan: Pirenèus; tiếng Tây Ban Nha: Pirineos) là một dãy núi phía tây nam châu Âu tạo thành đường biên giới tự nhiên giữa Pháp và Tây Ban Nha. Dãy núi này cũng là ranh giới giữa Pháp với bán đảo Iberia.

Pyrénées dài 430 km (267 dặm), kéo dài từ vịnh Biscay thuộc Đại Tây Dương đến Cap de Creus (vùng Catalan) thuộc Địa Trung Hải.

Reconquista

Reconquista (một từ tiếng Tây Ban Nha và tiếng Bồ Đào Nha, có nghĩa là "tái chinh phục", trong tiếng Ả Rập gọi là: الاسترداد‎ al-ʼIstirdād, "tái chiếm") là một quá trình hơn 700 năm (539 năm ở Bồ Đào Nha) ở thời Trung Cổ, trong đó những vương quốc Kitô giáo đã thành công trong việc chiếm lại bán đảo Iberia từ tỉnh Al-Andalus của người Hồi giáo. Cuộc chinh phục vương quốc Visigoth của người Hồi giáo vào thế kỷ thứ 8 đã trải rộng khắp bán đảo (trừ phần lớn của Galicia, Asturias, Cantabria và Vasconia). Sau 500 năm, chính quyền Moor cuối cùng là triều đại Nasrid ở vương quốc Granada phía nam bán đảo Iberia. Với thất bại năm 1492, toàn bộ bán đảo Iberia đã trở lại dưới quyền của các vương quốc Kitô giáo, hoàn tất quá trình Reconquista.

Quá trình Reconquista Al-Andalus bắt đầu sau sự xâm chiếm của người Hồi giáo và trải qua nhiều giai đoạn trong nhiều thế kỷ trước khi kết thúc. Sự hình thành Vương quốc Asturias dưới trướng Pelagius và Trận Covadonga năm 722 là những sự kiện chính. Charlemagne (768–814) tái chiếm phía tây Pyrenees và Septimania và thành lập Marca Hispánica để bảo vệ biên giới giữa Francia và những người Hồi giáo. Sau các cuộc Thập tự chinh, phần lớn ý tưởng Reconquista được gộp lại trong khuôn khổ rộng hơn của thập tự chinh. Những người Thập tự chinh dưới sự lãnh đạo của Afonso Henriques tới Bá quốc Bồ Đào Nha. Đến năm 1249, việc tái chiếm Bồ Đào Nha hoàn tất và những người Moor bị trục xuất.

Reconquista là một quá trình lâu dài và phức tạp. Những nhà lãnh đạo Kitô giáo và Hồi giáo thường bị chia rẽ trong nội bộ và giao tranh. Những liên minh vượt qua cả ranh giới niềm tin không phải là hiếm. Cuộc chiến đấu giữa Kitô giáo-Hồi giáo cũng được đánh dấu bởi những thời kỳ hòa bình và ngừng bắn lâu dài. Vấn đề làm sự việc trở nên phức tạp là lính đánh thuê thường chiến đấu cho phe nào trả nhiều tiền nhất.

Giai đoạn quan trọng của quá trình Reconquista được hoàn thành năm 1249, sau Trận Navas de Tolosa, khi nhà nước Hồi giáo cuối cùng ở bán đảo Iberia là Emirate of Granada trở thành chư hầu cho vương quốc Kitô giáo Vương quốc Castilla. Điều này diễn ra trong 250 năm trước khi người Castilla khởi đầu cuộc Chiến tranh Granada năm 1492 và đã thành công trục xuất tất cả quyền lực Hồi giáo khỏi Tây Ban Nha. Nhà lãnh đạo Hồi giáo cuối cùng của Granada, Muhammad XII, đầu hàng trước nữ hoàng Isabella I của Castilla, người cùng với chồng Ferdinand II của Aragon, được biết đến là những Quốc vương Công giáo.

Segovia

Segovia là một thành phố ở bán đảo Iberia, Tây Ban Nha, thủ phủ của tỉnh Segovia thuộc Cộng đồng tự trị Castile và Leon, mà trung tâm hành chính là Valladolid. Thành phố này nằm ở phía bắc thủ đô Madrid, cách đó khoảng 95 km, mất khoảng 2 tiếng với tàu hỏa địa phương. Dân số thành phố khoảng 55.500 người.

Năm 1985, trung tâm thành phố với cầu dẫn nước, nhà thờ chính tòa và thành trì Alcázar of Segovia được công nhận là di sản thế giới.

Sideritis

Sideritis là một chi thực vật có hoa, gồm những loài được sử như cây thuốc. Chúng phổ biến khắp vùng Địa Trung Hải, Balkan, bán đảo Iberia và Macaronesia, nhưng có mặt ở cả Trung Âu và châu Á ôn đới.

Tagus

Sông Tagus (tiếng Tây Ban Nha: Tajo; tiếng Bồ Đào Nha: Tejo; tiếng La Tinh: Tagus) là con sông dài nhất ở bán đảo Iberia. Tổng chiều dài là 1.038 km, trong đó 716 km thuộc Tây Ban Nha, 47 km biên giới giữa Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, và 275 km còn lại nằm ở Bồ Đào Nha, nơi nó đổ ra Đại Tây Dương tại Lisbon. Con sông dẫn nước cho một khu vực có diện tích 80.100 km² (lớn thứ 2 ở bán đảo Iberia sau Sông Douro). Tagus được sử dụng cho việc xây đập và cung cấp nước cho phần lớn miền trung Tây Ban Nha bao gồm Madrid và Bồ Đào Nha, rất nhiều nhà máy thủy điện tạo ra điện năng từ con sông này. Các thành phố lớn mà con sông chảy qua bao gồm Aranjuez, Toledo, Talavera de la Reina và Alcántara ở Tây Ban Nha và Abrantes, Santarém, Almada và Lisboa ở Bồ Đào Nha.

Trung Cổ

Thời kỳ Trung Cổ (hay Trung Đại) là giai đoạn trong lịch sử châu Âu bắt đầu từ sự sụp đổ của Đế quốc Tây Rôma vào thế kỷ 5, kéo dài tới thế kỉ 15, hòa vào thời Phục hưng và Thời đại khám phá. Thời Trung Cổ (Trung đại) là thời đại thứ hai trong ba thời đại lịch sử theo cách phân kỳ truyền thống của lịch sử phương Tây, cùng với Cổ đại và Hiện đại. Thời kỳ Trung Cổ tự nó chia làm ba giai đoạn, Sơ kỳ Trung Cổ, Trung kỳ Trung Cổ và Hậu kỳ Trung Cổ.

Suy giảm dân số, sự đảo ngược đô thị hóa, xâm lược, và di dân, bắt đầu từ Hậu kỳ Cổ đại, tiếp diễn trong thời Sơ kỳ Trung Cổ. Những man tộc xâm lược, bao gồm các dân tộc German, lập nên những vương quốc mới trên tàn tích của Đế quốc Tây Rôma. Bắc Phi, Trung Đông và bán đảo Iberia rơi vào tay người Hồi giáo, tuy Đế quốc Đông Rôma (tức Byzantine) vẫn duy trì vai trò một cường quốc quan trọng ở phương Đông. Quá trình Kitô hóa vẫn tiếp tục, chế độ tu viện được thành lập. Người Frank, dưới triều đại Nhà Carolingien, đã thiết lập nên một đế chế ngắn ngủi bao phủ phần lớn Tây Âu, trước khi tàn lụi dưới áp lực của nội chiến cộng với ngoại xâm.

Trong thời Trung kỳ Trung Cổ, bắt đầu từ thế kỉ 11, dân số châu Âu tăng nhanh khi các tiến bộ kĩ thuật và thời tiết thuận lợi giúp sản xuất phát triển và theo đó là thương mại phát đạt. Chế độ trang viên và chế độ phong kiến xác lập nên cấu trúc kinh tế-chính trị của xã hội thời Trung kỳ Trung Cổ. Giáo hội Công giáo củng cố sức ảnh hưởng trong khi những cuộc thập tự chinh được kêu gọi để tái chiếm Đất Thánh từ tay người Hồi giáo. Các nhà quân chủ ở nhiều quốc gia củng cố nhà nước trung ương tập quyền, giảm bớt tình trạng cát cứ. Đời sống trí thức ghi nhận sự thống trị của chủ nghĩa kinh viện và sự thành lập những trường đại học, trong khi nghệ thuật chứng kiến phong cách Gothic lên đến đỉnh cao.

Thời Hậu kỳ Trung Cổ đánh dấu một loạt những khó khăn và tai họa bao gồm nạn đói, dịch hạch, và chiến tranh, gây suy giảm nghiêm trọng dân số Tây Âu; chỉ riêng Cái chết Đen đã hủy diệt một phần ba dân số châu Âu. Tranh cãi giáo lý, dị giáo và ly giáo bên trong Giáo hội song hành với chiến tranh quy mô giữa các cường quốc, nội chiến, khởi nghĩa nông dân nổ ra trong khắp châu lục. Trong khi đó, những phát triển và văn hóa biến đổi xã hội châu Âu, khép lại thời Trung Cổ và bắt đầu thời kỳ Cận đại.

Vương quốc Bồ Đào Nha

Vương quốc Bồ Đào Nha và Algarve (tiếng Bồ Đào Nha: Reino de Portugal e dos Algarves; tiếng Latinh: Regnum Portugalliae et Algarbia), là tên gọi chung của Bồ Đào Nha dưới chính thể quân chủ. Vương quốc nằm ở phía tây bán đảo Iberia thuộc châu Âu và tồn tại từ năm 1139 đến 1910. Chế độ quân chủ ở Bồ Đào Nha đã bị bãi bỏ và thay thế bằng nền Đệ nhất Cộng hòa Bồ Đào Nha từ sau cuộc Cách mạng ngày 5 tháng 10 năm 1910.

Vương quốc Castilla

Vương quốc Castilla (tiếng Anh: Kingdom of Castile; tiếng Tây Ban Nha: Reino de Castilla; tiếng Latinh: Regnum Castellae), cũng gọi Castile, là một trong những vương quốc thời Trung cổ trên bán đảo Iberia. Vương quốc này bắt đầu là hạt Castilla, một vùng biên cương của vương quốc León vào thế kỷ 9. Tên của vương quốc này bắt nguồn từ người chủ của những tòa lâu đài xây dựng tại vùng này. Từ thế kỉ 9, vùng này có tên là Bá quốc Castilla (Condado de Castilla).

Đến thế kỷ 10 thì hạt này càng ngày càng có nhiều quyền tự trị, nhưng mãi đến năm 1065, nó mới tách ra khỏi León, trở thành một vương quốc độc lập. Giữa năm 1072 và 1157, nó lại thống nhất với León, và sau 1230 đây là một liên minh lâu dài. Cũng chính vì thế, từ năm 1230 trở đi thì ngôi trị vì của vương thất Castilla hay được biết đến với tên gọi [Crown of Castile], dịch nôm na có thể hiểu là "Ngai vàng xứ Castilla" hay "Vương quyền của Castilla". Sau đó những vị Vua của Castilla chiếm dần những lãnh thổ ở phía Nam bán đảo Iberia của quốc gia hồi giáo Al-Andalus.

Cuộc hôn nhân của Quân chủ Công giáo, Song vương Isabella và Ferdinand đã góp phần hợp nhất Castilla và Aragon, là mấu chốt quan trọng trong việc hình thành Vương quốc Tây Ban Nha vào năm 1516.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.