Australasia

Australasia là một thuật ngữ được sử dụng một cách không thống nhất để miêu tả một khu vực của châu Đại Dương—bao gồm Úc, New Zealand, đảo New Guinea và các quần đảo cận kề trên Thái Bình Dương.

Thuật ngữ này được Charles de Brosses đề ra trong Histoire des navigations aux terres australes (1756). Ông viết từ này theo tiếng Latinh cho cụm từ "miền nam châu Á" và tách biệt khu vực này ra khỏi Polynesia (ở phía đông) và đông nam Thái Bình Dương (Magellanica); nó cũng được tách ra khỏi Micronesia (phía đông bắc).

LocationAustralasia
Australasia trên bản đồ thế giới

Địa lý tự nhiên

Về mặt địa lý tự nhiên, Australasia bao gồm vùng đất rộng lớn Úc (kể cả Tasmania), New Zealand và Melanesia: New Guinea và các đảo cận kề ở phía bắc và đông Úc trong Thái Bình Dương. Tên gọi này đôi khi cũng được áp dụng cho toàn bộ vùng đất liền và đảo thuộc Thái Bình Dương nằm giữa xích đạovĩ tuyến 47° vĩ nam.

Phần lớn Australasia nằm ở phần phía nam của mảng kiến tạo Ấn Độ-Australia, ở hai bên là Ấn Độ Dương (phía tây) và Nam Đại Dương (phía nam). Các lãnh thổ ngoại vi nằm trên mảng kiến tạo Á-Âu ở phía tây bắc, mảng kiến tạo Philippines ở phía bắc và trong Thái Bình Dương – bao gồm nhiều biển ven bờ – đỉnh của mảng kiến tạo Thái Bình Dương ở phía bắc và phía đông.

Địa lý nhân văn

Flag of Australasian team for Olympic games
Cờ của đại hội thể thao Australasia

Về mặt địa chính trị, Australasia đôi khi được dùng như là thuật ngữ để chỉ Úc và New Zealand cùng với nhau. Có nhiều tổ chức mà trong tên gọi của chúng có phần "Cộng đồng Australasia...", chỉ giới hạn trong phạm vi bao gồm Úc và New Zealand.

Trong quá khứ, Australasia cũng đã được dùng làm tên gọi cho các đội thể thao hỗn hợp Australia/New Zealand. Các ví dụ bao gồm đội tennis trong giai đoạn 1905 - 1913, khi Australia và New Zealand kết hợp các vận động viên hay nhất của mình để thi đấu tại giải quốc tế Davis Cup (trên thực tế, đội này đã vô địch các năm 1907, 1908, 1909 và 1911), cũng như tại Thế vận hội các năm 19081912.

Các nhà nhân loại học, mặc dù còn chưa thống nhất về nhiều chi tiết, nói chung ủng hộ các thuyết đề cập tới nguồn gốc Đông Nam Á của dân bản xứ trên các đảo tại khu vực Australasia và các tiểu khu vực cận kề.

Địa lý sinh thái

Tuy nhiên, từ quan điểm của sinh thái học thì Khu vực sinh thái Australasia là một khu vực riêng biệt với lịch sử tiến hóa chung và một lượng lớn các loài động - thực vật độc nhất. Trong ngữ cảnh này, Australasia được giới hạn bao gồm Úc, New Guinea và các đảo cận kề, bao gồm các đảo của Indonesia như LombokSulawesi.

Đường phân chia sinh học chia khu vực này ra khỏi châu Á là đường Wallace: BorneoBali nằm ở phía tây, ở phần châu Á.

Xem thêm

Biển Halmahera

Biển Halmahera là một biển khu vực nằm tại trung tâm phần phía đông của biển Mediterranean Australasia. Trung tâm của nó vào khoảng 1° vĩ nam, 129° kinh đông và có ranh giới với phần biển khơi của Thái Bình Dương ở phía bắc, đảo Halmahera ở phía tây, các đảo Waigeo cùng Irian Jaya ở phía đông và biển Ceram ở phía nam. Nó bao phủ diện tích khoảng 95.000 km² và địa hình của nó bao gồm một số bồn địa (lòng chảo) cũng như sống biển tách rời, với bồn địa chủ yếu trong số này là bồn địa Halmahera đạt độ sâu tới 2.039 m.

Bảng mã IOC

Ủy ban Olympic Quốc tế (IOC) sử dụng ba ký tự tiêu biểu cho mã quốc gia và chùm ký tự này sẽ đại diện cho các vận động viên trong các kì Đại hội Olympic. Mỗi chùm ký tự đại diện cho Ủy ban Olympic của các quốc gia; nhưng cũng có thể trong các sự kiện quá khứ nó được dùng để đại diện cho liên hiệp các quốc gia hay tập thể cá nhân không đại diện cho bất kì một quốc gia nào.

Bảng mã này có một vài điểm khác biệt so với bảng chuẩn ISO 3166-1 alpha-3. Trong một số tổ chức thể thao khác, chẳng hạn FIFA hay Liên đoàn Thịnh vượng chung Anh, dùng ký hiệu giống với bảng này.

Celmisia

Celmisia là một chi thực vật có hoa trong họ Cúc (Asteraceae).

Chi Cồng

Chi Cồng hay chi Mù u, chi Hồ đồng (danh pháp khoa học: Calophyllum) là chi thực vật có hoa chứa khoảng 180-200 loài cây thường xanh nhiệt đới thuộc họ Cồng. Tên gọi Calophyllum có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp: từ καλος (kalos), nghĩa là "đẹp" và φυλλον (phullon) nghĩa là "lá". Các loài thuộc chi Cồng bản địa ở miền Australasia, Madagascar, Đông Phi, Nam Á và Đông Nam Á, các đảo Thái Bình Dương, Caribe và châu Mỹ Latin.

Calophyllum là biểu tượng quốc gia của Nauru, xuất hiện trên quốc huy của nước này.

Chi Lan hoa sâm

Wahlenbergia là một chi có khoảng 264 loài thực vật có hoa thuộc họ Campanulaceae, với sự phân bố rộng khắp thế giới ngoại trừ Bắc Mỹ; sự đa dạng loài cao nhất có ở châu Phi và miền Australasia. Các loài Wahlenbergia có sự phát tán rộng khắp, ngay cả trên các hòn đảo giữa đại dương, và có 4 loài có mặt trên đảo St Helena, kể cả loài hiện nay đã tuyệt chủng là W. roxburghii.

Chi Quế

Chi Quế (tên khoa học: Cinnamomum) là một chi các loài thực vật thường xanh thuộc họ Nguyệt quế (Lauraceae). Lá và vỏ cây các loài thuộc chi này có tinh dầu thơm. Chi này có khoảng hơn 300 loài, phân bố chủ yếu tại các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới của Bắc Mỹ, Trung Mỹ, Nam Mỹ, châu Á, châu Đại Dương và Australasia.

Các loài quế quan trọng trong chi bao gồm quế quan (Cinnamomum verum hay C. zeylanicum, còn gọi là "quế thực sự" hay quế Ceylon, quế Tích Lan), quế Trung Quốc (C. aromaticum hay C. cassia), long não (C. camphora), quế thanh (C. loureiroi, hay quế Thanh Hóa, quế Quỳ), Malabathrum (C. tamala, còn gọi là C. tejpata; tejpat hay tej pat theo tiếng Hindi.

Cryptocarya

Cryptocarya là một chi thực vật cây thường xanh thuộc họ Nguyệt quế (Lauraceae). Chi này có hơn 300 loài phân bố khắp các khu vực sinh thái Tân Nhiệt đới, nhiệt đới châu Phi, Indomalaya, và khu vực sinh thái Australasia.

Họ Dơi quạ

Họ Dơi quạ (danh pháp khoa học: Pteropodidae) là một họ thuộc Bộ Dơi (Chiroptera). Tên gọi khác của họ này là dơi hoa quả, dơi hoa quả của Cựu Thế giới. Tổng cộng có trên 250 loài. Việt Nam có 11 loài, như dơi chó (Cynopterus sphinx), dơi ngựa Thái Lan (Pteropus lylei). Đây là các loại dơi ăn trái cây có thân hình lớn. Loài nhỏ nhất có chiều dài 6 cm, loài lớn nhất có chiều dài lên đến 40 cm và sải cánh 150 cm. Chúng thường được gọi là cáo bay.

Sự phát triển của dơi quạ đã được xác định chủ yếu bằng dữ liệu di truyền, vì ghi chép hóa thạch cho họ phân mảnh nhất trong tất cả các loài dơi. Chúng có khả năng tiến hóa ở Australasia, với tổ tiên chung của tất cả các loài động vật sống còn tồn tại khoảng 31 triệu năm trước. Nhiều dòng dõi của chúng có lẽ có nguồn gốc từ Melanesia, sau đó phân tán theo thời gian đến lục địa châu Á, Địa Trung Hải và châu Phi. Ngày nay, chúng được tìm thấy ở các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới Á-Âu, Châu Phi và Châu Đại Dương.

Họ dơi quạ có nhiều loài dơi lớn nhất, với cá thể của một số loài nặng tới 1,45 kg và có sải cánh dài tới 1,7 m. Không phải tất cả các dơi quạ đều có thân hình to lớn; gần một phần ba của tất cả các loài nặng dưới 50 g. Chúng có thể được phân biệt với những con dơi khác do khuôn mặt giống chó của chúng, vuốt các chữ số thứ hai và màng dù đuôi giảm. Chỉ các thành viên của một chi, Notopteris, có đuôi. Dơi quạ có một số điều chỉnh cho chuyến bay, bao gồm tiêu thụ oxy nhanh, khả năng duy trì nhịp tim hơn 700 nhịp mỗi phút và thể tích phổi lớn.

Họ Hải đồng

Họ Hải đồng, Họ Khuy áo hay họ Hắc châu (danh pháp khoa học: Pittosporaceae) là một họ trong thực vật có hoa. Họ này bao gồm khoảng 200-250 (tùy theo hệ thống phân loại) loài cây thân gỗ, cây bụi và dây leo trong 6-10 chi. Các loài trong họ Pittosporaceae phân bố trong khu vực từ nhiệt đới tới ôn đới ấm của các vùng sinh thái châu Phi, Indomalaya, Australasia, đặc biệt đa dạng về loài tại Australia. Bên ngoài Australia hầu như chỉ có các loài của chi Pittosporum.

Họ Nhựa ruồi

Họ Nhựa ruồi hay họ Bùi (danh pháp khoa học: Aquifoliaceae, đồng nghĩa: Ilicaceae) là một họ nhỏ trong thực vật có hoa với chỉ một chi, Ilex, bao gồm các loài nhựa ruồi hay còn gọi là bùi. Chi này là một chi lớn với khoảng 400-600 loài, phân bố gần như rộng khắp trên thế giới, chỉ vắng mặt tại khu vực Australasia và miền tây Bắc Mỹ. Chúng là các cây bụi hay cây gỗ nhỏ, bao gồm cả cây thường xanh và cây lá sớm rụng. Nhiều loài có thể dùng làm cây cảnh.

Họ này có thể được nhận ra bằng các lá thường có răng cưa, mọc vòng và có thể có các bướu cây li e nhỏ trên mặt sau của phiến lá; các lá kèm nhỏ màu hơi đen. Cụm hoa dạng xim và thường là dạng dưới tán.Quả thường có dạng hình chai, khô, có chỏm là núm nhụy màu đen, không cuống, rộng bản; bên trong chứa một vài hạch.

Một chi khác, Nemopanthus, trước đây được công nhận trong họ này, chỉ chứa một loài là Nemopanthus mucronatus, được tách ra khỏi chi Ilex trên cơ sở là hoa của nó có đài hoa suy giảm và các cánh hoa hẹp, cũng như trên cơ sở của tế bào học, do nó là tứ bội, trong khi các loài trong chi Ilex là lưỡng bội. Tuy nhiên, theo kết quả từ các phân tích phân tử, hiện nay nó được nhập lại vào chi Ilex, với tên gọi Ilex mucronata [1], [2].

Họ Đào kim nương

Họ Đào kim nương hay họ Sim (theo tên gọi của chi Rhodomyrtus), còn gọi là họ Hương đào (theo chi Myrtus) (danh pháp khoa học: Myrtaceae) là một họ thực vật hai lá mầm, được đặt trong bộ Đào kim nương (Myrtales). Sim (đào kim nương), đinh hương, ổi, bạch đàn, tiêu Jamaica và ổi dứa đều thuộc họ này. Tất cả các loài đều có thân gỗ, chứa tinh dầu và hoa mọc thành cụm từ 4-5 hoa đơn. Một đặc trưng nổi bật của họ này là li be nằm ở cả hai bên của xylem (chất gỗ), chứ không ở bên ngoài như ở phần lớn các loài thực vật khác. Lá của chúng thuộc loại thường xanh, mọc so le hay mọc đối, lá đơn và thông thường có mép lá nhẵn (không khía răng cưa). Hoa thường có 5 cánh hoa, mặc dù ở một vài chi thì cánh hoa rất nhỏ hay không có. Nhị hoa thường rất dễ thấy, có màu sáng và nhiều về lượng.

Họ Myrtaceae chứa ít nhất 3.000 loài, phân bổ trong 130-150 chi. Chúng phân bổ rộng khắp ở vùng nhiệt đới và ôn đới ấm áp trên thế giới, và nói chung rất phổ biến trong nhiều khu vực đa dạng sinh học của thế giới. Các chi với quả nang như Eucalyptus, Corymbia, Angophora, Leptospermum, Melaleuca, Metrosideros chỉ có ở khu vực Cựu thế giới, tách biệt với chi một loài là Tepualia ở Chile. Các chi với quả nhiều cùi thịt tập trung nhiều ở miền đông Úc và Malesia (khu sinh thái Australasia) và khu vực nhiệt đới Trung- Nam Mỹ. Eucalyptus (bạch đàn) là chi chiếm đa số, gần như có mặt ở khắp mọi nơi trong khu vực ẩm thấp hơn của Úc và kéo dài về phía bắc với mật độ thưa hơn tới tận Philipin. Một cây trong loài Eucalyptus regnans hiện nay là loại thực vật có hoa cao nhất thế giới. Các chi quan trọng khác ở Úc là Callistemon (tràm liễu), Syzygium (trâm, roi), và Melaleuca (tràm). Chi Osbornia, có nguồn gốc ở khu vực Australasia, là các loại cây đước. Eugenia, Myrcia và Calyptranthes là các chi trong số các chi lớn nhất ở Trung và Nam Mỹ. Hệ thống APG III năm 2009 công nhận 131 chi và khoảng 4.620 loài cho họ này.

Trong lịch sử, họ Myrtaceae đã từng được chia thành hai phân họ.

Phân họ Myrtoideae có quả nhiều cùi thịt và lá đối, mép trơn. Phần lớn các chi trong phân họ này có một trong ba dạng dạng phôi dễ nhận ra. Các chi của Myrtoideae có thể rất khó phân biệt khi không có quả đã chín. Phân họ Myrtoideae được tìm thấy khắp thế giới trong các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới, với các trung tâm đa dạng nằm ở Trung Mỹ, Nam Mỹ, đông bắc Úc và Malesia.

Phân họ Leptospermoideae có quả khô, không nứt (quả nang) và các lá mọc so le hay theo vòng xoắn. Phân họ Leptospermoideae tìm thấy chủ yếu ở Australasia, với trung tâm đa dạng nằm ở Úc. Nhiều chi ở miền tây Úc có các lá bị suy thoái mạnh và các hoa mang các đặc điểm điển hình cho vùng sinh trưởng khô cằn hơn.Sự phân chia Myrtaceae thành Leptospermoideae và Myrtoideae đã bị nhiều tác giả nghi ngờ, trong đó có Johnson và Briggs (1984), các ông đã xác định 14 tông hay nhánh trong họ Myrtaceae, và phát hiện ra là phân họ Myrtoideae là đa ngành. Phân tích ở mức độ phân tử của Wilson, O'Brien và những người khác vào năm 2001 đã phát hiện thấy 11 phân nhóm rõ nét trong phạm vi họ này, bao gồm nhiều phân nhóm đã được Johnson và Briggs xác định. Phân tích phân tử sau đó của Sytsma và Litt (2002) đã phát hiện phân nhóm Myrtoideae ở Trung - Nam Mỹ phù hợp với phân họ đa ngành Leptopermoideae.

Các chi Heteropyxis và Psiloxylon, được một số học giả đưa vào trong họ Myrtaceae, nhưng trong khoảng thời gian gần đây lại được tách ra thành các họ riêng rẽ bởi nhiều học giả, dựa trên chứng cứ về sự tách ra của chúng trước khi có sự xuất hiện của tổ tiên chung cho họ Myrtaceae. Tuy nhiên, hệ thống APG III năm 2009 vẫn coi các chi này là các thành phần cơ sở của họ Myrtaceae.

Indomalaya

Khu vực sinh thái Indomalaya trước đây được gọi là khu vực sinh thái Đông Dương.

Nó trải rộng từ khu vực Makran ở miền nam Pakistan qua tiểu lục địa Ấn Độ và Đông Nam Á tới các vùng đất thấp ở miền nam Trung Quốc, và qua Indonesia tới Java, Bali và Borneo, phía đông của nó nằm trên đường Wallace, ranh giới sinh thái được đặt theo tên của Alfred Russel Wallace, là người đã tách Indomalaya ra khỏi Australasia. Indomalaya còn bao gồm cả Philipin, vùng đất thấp của Đài Loan và quần đảo Lưu Cầu của Nhật Bản.

Phần lớn khu vực sinh thái Indomalaya nguyên thủy được che phủ bởi rừng, chủ yếu là các rừng ẩm ướt lá bản rộng nhiệt đới và cận nhiệt đới, trong đó rừng khô lá bản rộng nhiệt đới và cận nhiệt đới chiếm đa số ở Ấn Độ và một phần của Đông Nam Á. Các rừng ẩm nhiệt đới của Indomalaya chủ yếu là các loài cây thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae).

Malesia là một tiểu khu vực thực vật nằm trên ranh giới giữa Indomalaya và Australasia. Nó bao gồm cả bán đảo Mã Lai và các đảo miền tây Indonesia (gọi là Sundaland), Philipin, các đảo miền đông Indonesia và New Guinea. Trong khi khu vực này có nhiều điểm chung về hệ thực vật với cả khu sinh thái Indomalya thì lại rất khác về hệ động vật; Sundaland chia sẻ hệ động vật với châu Á đại lục, trong khi các đảo phía đông của đường Wallace hoặc là không có các động vật có vú như đất liền hoặc là quê hương của các động vật đất liền có nguồn gốc từ Australia, bao gồm cả các loài thú có túi và các loài chim thuộc bộ chim chạy.

Một trong các bộ động vật có vú, bộ Cánh da (Dermoptera), là đặc hữu của khu vực sinh thái này, cũng như các họ Đồi (Tupaiidae, thuộc bộ Nhiều răng (Scandentia)) và Vượn (Hylobatidae, thuộc bộ Linh trưởng (Primates)). Các loài động vật có vú lớn đặc trưng cho Indomalaya bao gồm báo hoa mai, hổ, trâu, voi châu Á, tê giác Ấn Độ, tê giác Java, heo vòi Mã Lai, vượn người, vượn và vượn Tarsius (cận bộ Tarsiiformes).

Indomalaya có ba họ chim đặc hữu, là các họ Chim xanh (Irenidae), họ Cu rốc (Megalaimidae) và Rhabdornithidae (sẻ Philipin). Các loài gà lôi (họ Phasianidae), chim đuôi cụt (họ Pittidae), khướu (họ Timaliidae) và chim sâu (họ Dicaeidae) cũng là đặc trưng của khu vực sinh thái này.

Hệ thực vật của Indomalaya là sự hỗn hợp các thành phần từ các siêu lục địa cổ là Laurasia và Gondwana. Các thành phần thuộc Gondwana được đưa tới từ Ấn Độ, khi tiểu lục địa này tách ra khỏi Gondwana khoảng 90 triệu năm trước, mang theo cùng với nó các hệ thực-động vật có nguồn gốc Gondwana về phía bắc, trong đó bao gồm cả cá rô phi (Cichlidae) và các họ thực vật có hoa như họ Lôi (Crypteroniaceae) và có thể là cả họ Dầu (Dipterocarpaceae). Tiểu lục địa này va chạm với châu Á khoảng 30-45 triệu năm trước và dẫn tới sự trao đổi các loài. Muộn hơn, khi mảng kiến tạo Australia-New Guinea trôi dạt về phía bắc, sự va chạm giữa các mảng kiến tạo Australia và châu Á đã làm nổi lên các đảo Wallacea, cách biệt với nhau chỉ bằng các eo biển hẹp, cho phép có sự trao đổi thực vật giữa Indomalaya và Australasia. Các loài thực vật rừng mưa châu Á khi đó như các loài dầu, vượt qua Wallacea tới New Guinea, và một số loài trong các họ thực vật của Gondwana, bao gồm kim giao (họ Podocarpaceae) và bách tán (chi Araucaria), đã từ Australia-New Guinea chuyển sang phía tây vào miền tây Malesia và Đông Nam Á.

Indonesia

Indonesia tên chính thức là Cộng hòa Indonesia, (tiếng Indonesia: Republik Indonesia) trước đó trong tài liệu tiếng Việt quốc gia này từng được gọi là Nam Dương, là một đảo quốc lục địa nằm giữa Đông Nam Á và Châu Đại Dương. Indonesia được mệnh danh là "Xứ sở vạn đảo", lãnh thổ của nó bao gồm 13.487 hòn đảo và với dân số hơn 260 triệu người (năm 2019), đứng thứ tư thế giới về dân số và đứng thứ ba châu Á về dân số.

Indonesia là quốc gia có số dân theo Hồi giáo đông nhất thế giới; tuy nhiên khác với Malaysia và Brunei, trong Hiến pháp Indonesia không đề cập tới tôn giáo này là quốc giáo (do vậy không thể coi Indonesia là một quốc gia Hồi giáo giống như các nước Tây Á, Bắc Phi, Malaysia và Brunei). Indonesia theo thể chế cộng hòa với một bộ máy lập pháp và tổng thống do dân bầu. Indonesia có biên giới trên đất liền với Papua New Guinea, Đông Timor và Malaysia, ngoài ra giáp các nước Singapore, Philippines, Úc, và lãnh thổ Quần đảo Andaman và Nicobar của Ấn Độ. Thủ đô là Jakarta và đây cũng đồng thời là thành phố lớn nhất. Indonesia là 1 trong 5 thành viên sáng lập của ASEAN và là thành viên của G-20. Nền kinh tế Indonesia lớn thứ 16 toàn cầu theo GDP danh nghĩa và thứ 8 theo Sức mua tương đương, tuy nhiên do dân số đông nên GDP bình quân đầu người vẫn chỉ ở mức trung bình thấp.

Quần đảo Indonesia đã từng là một vùng thương mại quan trọng ít nhất từ thế kỷ VII, khi Vương quốc Srivijaya có hoạt động thương mại với Trung Quốc và Ấn Độ. Những vị vua cai trị địa phương dần tiếp thu văn hóa, tôn giáo và các mô hình chính trị Ấn Độ từ những thế kỷ đầu tiên của Công Nguyên, và các vương quốc Ấn Độ giáo cũng như Phật giáo đã bắt đầu phát triển. Lịch sử Indonesia bị ảnh hưởng bởi các cường quốc nước ngoài muốn nhòm ngó các nguồn tài nguyên thiên nhiên của họ. Các nhà buôn Hồi giáo đã đưa tới Đạo Hồi, và các cường quốc Châu Âu đã tranh giành để độc chiếm lĩnh vực thương mại trên các hòn đảo Hương liệu Maluku trong Thời đại Khám phá. Sau ba thế kỷ rưỡi dưới ách thực dân Hà Lan, Indonesia đã giành được độc lập sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Từ đó lịch sử Indonesia rơi vào cảnh biến động với các nguy cơ từ các thảm hoạ thiên nhiên, nạn tham nhũng và chia rẽ cũng như một quá trình dân chủ hoá, và các giai đoạn thay đổi kinh tế nhanh chóng.

Tuy gồm rất nhiều hòn đảo, Indonesia vẫn gồm các nhóm sắc tộc, ngôn ngữ và tôn giáo riêng biệt. Người Java là nhóm sắc tộc đông đúc và có vị thế chính trị lớn nhất. Với tư cách là một nhà nước duy nhất và một quốc gia, Indonesia đã phát triển một tính đồng nhất được định nghĩa bởi một ngôn ngữ quốc gia, sự đa dạng chủng tộc, sự đa dạng tôn giáo bên trong một dân số đa số Hồi giáo, và một lịch sử thực dân cùng những cuộc nổi dậy chống lại nó.

Khẩu hiệu quốc gia của Indonesia, "Bhinneka tunggal ika" ("Thống nhất trong đa dạng", theo nghĩa đen "nhiều, nhưng là một"), đã thể hiện rõ sự đa dạng hình thành nên quốc gia này. Tuy nhiên, những căng thẳng tôn giáo và chủ nghĩa ly khai đã dẫn tới những xung đột bạo lực đe doạ sự ổn định kinh tế và chính trị. Dù có dân số lớn và nhiều vùng đông đúc, Indonesia vẫn có nhiều khu vực hoang vu và là quốc gia có mức độ đa dạng sinh học đứng hàng thứ hai thế giới. Nước này rất giàu các nguồn tài nguyên thiên nhiên, có một lãnh thổ rộng nhất trong các nước Đông Nam Á, tuy vậy sự nghèo khó vẫn là một đặc điểm của Indonesia hiện đại.

Malesia

Malesia là một khu vực sinh địa lý học nằm trong ranh giới giữa các khu vực sinh thái Indomalaya và Australasia. Malesia ban đầu được nhận dạng như là một tỉnh thực vật, bao gồm bán đảo Mã Lai, Indonesia, Philippines và New Guinea, dựa trên quần thực vật nhiệt đới được chia sẻ và có nguồn gốc chủ yếu từ châu Á, nhưng cũng chứa hàng loạt các yếu tố của quần thực vật Nam Cực, bao gồm nhiều loài trong các họ của ngành Thông phương nam như họ Kim giao (Podocarpaceae) và họ Bách tán (Araucariaceae). Tỉnh thực vật này chồng lấn lên 4 khu vực quần động vật thú khác biệt nhau.

Phần phía tây của Malesia, bao gồm bán đảo Mã Lai và các đảo thuộc Sumatra, Java, Bali và Borneo, chia sẻ quần động vật lớp thú dạng lớn của châu Á, và được gọi chung là Sundaland. Các đảo này nằm trên các thềm lục địa tương đối nông của châu Á, và được nối liền với châu Á trong các thời kỳ băng hà, khi mực nước biển rút xuống. Rìa phía đông của Sundaland là đường Wallace, đặt theo tên của Alfred Russel Wallace, một nhà tự nhiên học người Anh thế kỷ 19, người đã thông báo các khác biệt trong quần động vật giữa các đảo trên phía này hay phía kia của đường này.

Phần phía đông của Malesia, bao gồm New Guinea và quần đảo Aru ở miền đông Indonesia, được nối liền với Australia bằng một thềm lục địa nông, và chia sẻ nhiều dạng động vật có vú như thú có túi (cận lớp Marsupialia) và chim với Australia. New Guinea cũng có nhiều thành phần bổ sung của quần thực vật Nam Cực, bao gồm các loài sồi phương nam (chi Nothofagus) và bạch đàn (chi Eucalyptus).

Các đảo giữa Sundaland và New Guinea, được gọi chung là Wallacea, chưa bao giờ nối liền với các châu lục cận kề, và vì thế có quần thực vật cũng như quần động vật bao gồm các yếu tố của cả Indomalaya và Australasia. Các khu vực sinh thái của Philippines cũng chưa bao giờ nối liền với châu Á, và có quần thực vật chủ yếu có nguồn gốc châu Á, với một vài yếu tố của Australasia, và có quần động vật lớp thú khác biệt.

Paracetamol

Paracetamol (tên nhãn hiệu quốc tế không độc quyền) hay acetaminophen, APAP (tên được chấp nhận tại Hoa Kỳ) là một thuốc có tác dụng hạ sốt và giảm đau, tuy nhiên không như aspirin nó không hoặc ít có tác dụng chống viêm. Khả năng làm giảm sốt cho trẻ em của thuốc này còn đang được tranh cãi.So với các thuốc NSAID, paracetamol có rất ít tác dụng phụ với liều điều trị nên được cung cấp không cần kê đơn ở hầu hết các nước. Và thường được bán cùng với các thành phần khác trong các đơn thuốc trị cảm lạnh. Paracetamol được dùng kết hợp với các thuốc giảm đau gốc thuốc phiện để làm giảm các cơn đau nặng hơn như đau do ung thư và đau hậu phẫu thuật.Paracetamol được hấp thu bằng đường miệng hoặc hậu môn và cũng có thể tiêm tĩnh mạch. Tác dụng của thuốc trong vòng 2 đến 4 giờ sau khi dùng.Từ năm 1977, Paracetamol đã được đưa vào Danh sách các thuốc thiết yếu của WHO.

Swainsona

Swainsona là một chi thực vật có hoa trong họ Đậu.Chi này chứa các loài bản địa khu vực Australasia. Có khoảng 85 loài, trong đó trừ 1 loài ở New Zealand (S. novae-zelandiae) thì các loài còn lại đều là đặc hữu Australia.

Các chi có quan hệ họ hàng gần là Montigena, Clianthus và Carmichaelia.Swainsona được đặt tên theo nhà thực vật học người Anh là Isaac Swainson (1746-1812).

Một số loài chứa swainsonin, một độc tố thực vật có hại cho gia súc. Tại Australia, động vật bị ngộ độc swainsonin được gọi là pea struck.

Tachinidae

Tachinidae là một họ ruồi. Họ này có 8200 loài và ngày càng có nhiều loài được phát hiện. Riêng Bắc Mỹ đã có 1300 loài. Các loài côn trùng trong họ đều ký sinh Protelean, hoặc ký sinh trùng của arthropoda. Các loài trong họ này phân bố trong nhiều môi trường sống ở nhiều khu vực, bao gồm cả Tân Nhiệt đới, Cận Bắc cực, châu Phi nhiệt đới, Cổ Bắc cực, Indomalaya, Australasia và Châu Đại Dương.

Tischerioidea

Tischerioidea là một liên họ bướm đêm, chỉ bao gồm một họ, và chỉ có 1 chi Tischeria, nhưng hiện có 3 chi đã được nhận dạng, phân bố khắp thế giới gồm Nam Mỹ (Davis, 1986), trừ miền Australasia (Puplesis and Diskus, 2003). Các loài bướm nhỏ này có ấu trùng là sâu cuốn lá[1], chúng ăn chủ yếu là Fagaceae (Tischeria và Coptotriche), Asteraceae và Malvaceae (Astrotischeria), và cũng ăn một số loài trong họ Rhamnaceae, Tiliaceae và Rosaceae[2][3].

Đế quốc Anh

Đế quốc Anh (tiếng Anh: British Empire) bao gồm các quốc gia tự trị, các thuộc địa, các lãnh thổ bảo hộ, các lãnh thổ ủy thác và các lãnh thổ khác do Anh cai trị và quản lý. Đế quốc Anh khởi nguồn với các thuộc địa và trạm mậu dịch hải ngoại do Anh thiết lập từ cuối thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVIII. Vào giai đoạn đỉnh cao của nó, đây là đế quốc hùng mạnh nhất trong lịch sử và là thế lực đứng đầu toàn cầu trong hơn một thế kỷ. Đến năm 1913, Đế quốc Anh cai trị khoảng 412,2 triệu người, chiếm 23% dân số thế giới lúc đó và bao phủ diện tích hơn 35.500.000 km², gần một phần tư tổng diện tích toàn cầu. Do vậy, những di sản về văn hóa, ngôn ngữ, luật pháp của Đế quốc Anh được truyền bá rộng rãi. Vào thời điểm nó đạt tới đỉnh cao của quyền lực, Đế quốc Anh thường được ví với câu nói "đế quốc có mặt trời không bao giờ lặn" bởi vì sự mở rộng cương thổ ra toàn địa cầu đồng nghĩa với việc mặt trời luôn chiếu sáng trên ít nhất một trong những vùng lãnh thổ của nó.

Trong suốt Thời đại Khám phá vào thế kỷ XV và XVI, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha là hai quốc gia châu Âu đi tiên phong trong phong trào thám hiểm thế giới và trong quá trình đó họ đã thiết lập các đế quốc hải ngoại lớn. Đố kỵ với sự thịnh vượng vô cùng lớn mà hai đế quốc thực dân này giành được, các nước Anh, Pháp và Hà Lan bắt đầu thiết lập các thuộc địa và các mạng lưới mậu dịch của họ tại châu Mỹ và châu Á. Một loạt cuộc chiến với Pháp và Hà Lan trong thế kỷ XVII và XVIII đã giúp Anh trở thành một cường quốc chi phối thống trị tại Bắc Mỹ và Ấn Độ. Nhưng đồng thời, uy thế của nước Anh (và cả Pháp) bị hạn chế tại châu Âu sau năm 1763, trước sự phát triển lớn mạnh của các cường quốc phía Đông như Phổ, Áo và Nga.Sự kiện Mười ba thuộc địa tại Bắc Mỹ giành được độc lập vào năm 1783 sau cuộc Chiến tranh Cách mạng Mỹ khiến cho nước Anh mất đi một số thuộc địa lâu đời nhất và đông dân nhất của mình. Ngay sau đó nước Anh nhanh chóng chuyển sự quan tâm sang châu Phi, châu Á và Thái Bình Dương. Sau thất bại của nước Pháp trong cuộc chiến tranh Cách mạng Pháp và chiến tranh Napoléon (1792 – 1815), nước Anh tận hưởng một thế kỷ thống trị hầu như không có đối thủ, và mở rộng phạm vi trên khắp toàn cầu. Địa vị thống trị của Anh sau này được ca ngợi như là Pax Britannica (Thái bình Anh Quốc), một giai đoạn mà châu Âu và thế giới tương đối thái bình (1815 – 1914), đây là thời điểm mà nước Anh nắm quyền bá chủ toàn cầu và trở thành người canh giữ cho hoà bình thế giới. Vào đầu thể kỷ 19, cuộc Cách mạng công nghiệp bắt đẩu biến đổi nước Anh; tại thời điểm diễn ra cuộc "Đại Triển Lãm" vào năm 1851, nước Anh được ca ngợi như là "công xưởng của thế giới". Đế quốc Anh còn bành trướng đến Ấn Độ, phần lớn Châu Phi và nhiều khu vực khác trên thế giới. Cùng với sự kiểm soát chính thức của nước Anh đối với các thuộc địa riêng của mình, nó còn thống trị gần như toàn bộ nền thương mại của thế giới đồng nghĩa với việc là nó kiểm soát nền kinh tế của nhiều khu vực khác như châu Á và Mỹ Latinh.Tại nước Anh, những quan điểm chính trị đã thay đổi theo hướng ủng hộ chính sách tự do thương mại cùng chính sách tự do và phổ cập hoá đặc quyền bầu cử. Vào thế kỷ XIX, dân số của nước Anh đã gia tăng một cách mạnh mẽ, cùng với đó quá trình đô thị hoá nhanh chóng mà gây nên những căng thẳng nghiêm trọng về cả kinh tế cũng như xã hội. Để tìm kiếm các thị trường và các nguồn tài nguyên mới, Đảng Bảo thủ dưới thời Benjamin Disraeli đã khởi động một kỷ nguyên mới của chủ nghĩa bành trướng đế quốc tại Ai Cập, Nam Phi và nhiều nơi khác. Nhiều thuộc địa như Canada, Úc và New Zealand được trao quyền tự trị, một vài trong số đó được tái phân loại là quốc gia tự trị.Đến đầu thế kỷ XX, sự phát triển lớn mạnh của Đức và Hoa Kỳ làm xói mòi phần nào vị thế dẫn đầu về kinh tế của nước Anh. Chính sách đối ngoại của Anh quốc tập trung vào mối quan hệ hợp tác chặt chẽ và hữu nghị với Hoa Kỳ, nhưng những căng thẳng về vấn đề ngoại giao và quân sự khiến quan hệ với nước Đức ngày càng trở nên xấu đi và là nguyên nhân chính dẫn đến cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Trong thời kỳ diễn ra cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất, nước Anh đã phải dựa nhiều vào đế quốc của mình về mặt nhân sự cũng như lương thực. Cuộc chiến này đã tạo ra một gánh nặng to lớn cả về mặt quân sự, tài chính và nguồn nhân lực cho nước Anh. Mặc dù sau cuộc chiến này, cương thổ của Đế quốc Anh đã được mở rộng lên tới cực điểm, bản thân nó đã không còn giữ được vị thế như là một cường quốc vô song về quân sự và công nghiệp được nữa. Trong Chiến tranh thế giới lần hai, các thuộc địa của Anh tại Đông Nam Á đã bị Nhật Bản chiếm đóng, điều này đã làm cho uy tín của đế quốc Anh bị suy giảm nghiêm trọng và đẩy nhanh quá trình sụp đổ của đế quốc này. Sau chiến tranh, Anh phải trao quyền độc lập cho thuộc địa đông dân và giá trị nhất là Ấn Độ. Trong những năm còn lại của thế kỷ XX, phần lớn những thuộc địa của Đế quốc Anh giành được độc lập như một phần của phong trào phi thuộc địa hóa từ các cường quốc châu Âu, kết thúc với việc chuyển giao Hồng Kông cho Trung Quốc vào năm 1997. 14 lãnh thổ ở hải ngoại hiện vẫn thuộc chủ quyền của Anh.

Sau độc lập, nhiều cựu thuộc địa của Anh gia nhập Thịnh vượng chung các Quốc gia, một hiệp hội tự do của các quốc gia độc lập. 16 quốc gia có chung một nguyên thủ, Nữ vương Elizabeth II, đó là Vương quốc Khối thịnh vượng chung.

Các khu vực trên thế giới
Quốc gia có chủ quyền
Bộ phận của
Quốc gia có chủ quyền
Lãnh thổ phụ thuộc

lãnh thổ khác

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.