Anpơ

An-pơ (tiếng Pháp: Alpes, tiếng Đức: Alpen, tiếng Ý: Alpi) là một trong những dãy núi lớn nhất, dài nhất châu Âu, trải dài qua 8 quốc gia (từ tây sang đông), lần lượt là: Pháp, Thụy Sĩ, Ý, Monaco, Liechtenstein, Áo, ĐứcSlovenia. Dãy An-pơ được hình thành từ hơn 10 triệu năm trước, khi các mảng châu PhiÁ-Âu đâm hút nhau. Sự va chạm khiến các lớp đá trầm tích biển nâng lên bởi các hoạt động đứt gãy và uốn nếp hình thành nên những ngọn núi cao như Mont BlancMatterhorn. Núi Mont Blanc kéo dài theo ranh giới của Pháp-Ý, với độ cao 4.810 m (15.781 ft), nên đây là ngọn núi cao nhất dãy An-pơ. 128 ngọn núi của dãy Alps là cao hơn bốn ngàn mét, trong đó có 82 ngọn độc lập, 46 chỏm núi, một số ngọn núi ít nhiều bị đóng băng. Dãy núi Alps được chia thành nhiều nhóm núi và chuỗi, xem Thể loại:Dãy núi Alpes.

Toàn bộ khu vực Alps có diện tích khoảng 200.000 km2. Nó kéo dài khoảng 750 km từ tây sang đông và khoảng 400 km từ nam sang bắc và giáp với Thung lũng Rhone (Vallée du Rhône), Miền Trung Thụy Sĩ (Swiss Mittelland), thượng nguồn sông Danube, Đồng bằng Hungary nhỏ, Thung lũng Po và Vịnh Genova ở Biển Ligure. Vùng Alps bao gồm các khu vực của tám quốc gia và tạo thành môi trường sống của 13 triệu người và được xem như một khu vực nghỉ dưỡng và thiên nhiên của châu Âu.

Sứ thần Phạm Phú Thứ triều Tự Đức nhà Nguyễn nhân chuyến đi sang Âu châu năm 1863 có nhắc đến rặng núi này và phiên âm là Ân Lô Bi.[1]

Anpơ
Dãy núi
Jungfrau2
Các quốc gia Áo, Pháp, Đức, Thụy Sĩ, Italia, Slovenia, Liechtenstein
Điểm cao nhất Mont Blanc (tiếng Italia: Monte Bianco)
 - cao độ 4.808 m (15.774 ft)
 - tọa độ 45°50′1″B 06°51′54″Đ / 45,83361°B 6,865°Đ
Địa chất Diệp thạch Bündner, Flysch, Molat
Kiến tạo sơn Kiến tạo sơn Alps
Niên đại Kỷ Đệ Tam
Địa hình Anpơ
Địa hình Anpơ

Từ nguyên

Satellitenaufnahme der Alpen
Hình ảnh vệ tinh của dãy Alps

Từ tiếng Anh Alps có nguồn gốc từ tiếng Latin Alpes (thông qua tiếng Pháp). Maurus Servius Honoratus, một nhà bình luận cổ xưa của Virgil, nói trong bài bình luận của ông (A. X 13) rằng tất cả các ngọn núi cao đều được gọi là Alpes bởi người Celt. Thuật ngữ này có thể phổ biến đối với Italo-Celtic, vì các ngôn ngữ Celtic có thuật ngữ cho các ngọn núi cao có nguồn gốc từ alp.

Điều này có thể phù hợp với lý thuyết rằng trong tiếng Hy Lạp Alpes là tên của nguồn gốc phi Ấn-Âu (phổ biến cho các dãy núi và dãy núi nổi bật trong khu vực Địa Trung Hải). Theo Từ điển tiếng Anh Oxford, từ ngữ Latin Alpes có thể có nguồn gốc từ một từ tiền Ấn-Âu * alb "đồi"; "Albania" là một dẫn xuất liên quan. Albania, một cái tên không có nguồn gốc từ khu vực được gọi là đất nước Albania ngày nay, đã được sử dụng làm tên cho một số khu vực miền núi trên khắp châu Âu. Vào thời La Mã cổ đại, "Albania" là tên gọi của miền đông Kavkaz, trong khi trong tiếng Anh "Albania" (hay "Albany") đôi khi được sử dụng làm tên của Scotland,[2] mặc dù nó có nhiều khả năng bắt nguồn từ tiếng Latin albus, là màu trắng.

Từ Alpes trong tiếng Latin có thể có thể xuất phát từ tính từ albus[3] (Trắng).

Trong các ngôn ngữ hiện đại, thuật ngữ alp, alm, albe hoặc alpe dùng để chỉ một đồng cỏ chăn thả ở vùng núi cao bên dưới sông băng, chứ không phải các đỉnh núi.[4] Một alp đề cập đến một đồng cỏ núi cao, nơi những con bò được đưa đến chăn thả trong những tháng mùa hè và nơi có thể tìm thấy chuồng cỏ khô, và thuật ngữ "dãy Alps" (số nhiều của Alp), ám chỉ những ngọn núi, là một cách gọi sai.[5] Thuật ngữ cho các đỉnh núi thay đổi theo quốc gia và ngôn ngữ: các từ như Horn, Kogel, Kopf, Gipfel, Spitze, StockBerg được sử dụng trong các khu vực nói tiếng Đức; Mont, Pic, Tête, Pointe, Dent, RocheAiguille ở các vùng nói tiếng Pháp; và Monte, Picco, Corno, Punta, Pizzo hoặc Cima ở các vùng nói tiếng Ý.[6]

Alps cũng được dùng như một tên núi xuất hiện trong tên của những ngọn núi khác: Alps Apuan, Alps Úc, Alps Nhật Bản, Alps New Zealand. Alpin cũng thường có nghĩa là "miền núi", như là cấp độ núi cao, hoặc đồng nghĩa với "núi", như là Leo núi (Alpine climbing), trượt tuyết núi cao (Alpine skiing). Alpid đề cập đến một giai đoạn hình thành địa chất: Kiến tạo sơn Anpơ, Vành đai Anpơ trải dài từ Châu Âu đến Đông Á.

Địa lý

Alps with borders
Alps kéo dài từ Pháp ở phía tây đến Slovenia ở phía đông, và từ Ý ở phía nam đến Đức ở phía bắc.

An-pơ là một cấu trúc địa lý có hình lưỡi liềm nằm ở Trung Âu, với chiều dài 800 km (500 mi) từ đông sang tây và rộng 200 km (120 mi). Cao độ trung bình của các đỉnh núi là 2,5 km (1,6 mi).[7] Dãy núi kéo dài từ phía bắc Địa Trung Hải trên bồn trũng Sông Po, mở rộng qua Pháp từ Grenoble, tiếp tục kéo dài về phía đông qua miền trung và nam Thụy Sĩ. Dãy núi tiếp tục qua Vienna (Áo), về phía đông đến biển Adriatic, vào lãnh thổ Slovenia.[8][9][10] Về phía nam, dãy núi chìm xuống miền bắc Ý và phát triển về phía bắc đến bang Bavaria (Đức).[10] Ở các khu vực như Chiasso (Thụy Sĩ) hay Allgäu (Bavaria), ranh giới giữa dãy núi với các vùng đất bằng phẳng rất rõ ràng; trong khi ở những nơi khác như Genève, ranh giới này kém rõ ràng hơn. Các quốc gia có lãnh thổ bao phủ diện tích lớn nhất trên dãy An-Pơ là Thụy Sĩ, Pháp (cùng 21,4%), Áo (28,7%) và Ý (27,2%).

Phần cao nhất của dãy núi được phân chia bởi thung lung băng trên sông Rhône, trải dài từ đỉnh Mont Blanc với chiều cao 4810 m[11] đến Matterhorn ở Thụy Sĩ, phần phía nam là núi Monte Rosa và Bernese Alps ở phía bắc. Các đỉnh núi phần phía đông của dãy núi tương đối nhỏ hơn phần trung, tây của An-pơ. Đỉnh cao nhất phần phía Đông An-pơ là đỉnh Piz Bernina, cao 4052 m.[10]

Sự khác biệt về tên gọi trong vùng núi này gây nên những khó khăn trong việc phân loại các núi và các tiểu vùng, nhưng nhìn chung nó bao gồm Đông Alps và Tây Alps ranh giới giữa miền đông Thụy Sĩ theo nhà địa chất học Stefan Schmid.[4] Năm 2006, SOIUSA (Suddivisione Orografica Internazionale Unificata del Sistema Alpino), một tổ chức của Ý, đề xuất một hệ thống phân loại mới theo yếu tố địa chất và bản đồ địa hình. Theo SOIUSA, Alps có thể được chia thành Ligurian Alps, Maritime Alps, Cottian Alps, Dauphiné Alps, Graian Alps, Pennine Alps, Bernese Alps, Lepontine Alps, Glarus Alps, và Appenzell Alps.[12]

Một loạt các dãy núi thấp hơn chạy song song với dãy núi Alps chính, bao gồm French Prealps (Pháp) và dãy núi Jura ở Thụy Sĩ và Pháp. Dãy núi thứ hai của Alps chạy theo lưu vực từ Địa Trung Hải đến Wienerwald, băng qua những đỉnh cao nhất, nổi tiếng nhất của Alps. Dãy núi chính chạy theo hướng tây, từ Colle di Cadibona đến Col de Tende, trước khi bẻ ngoặc về tây nam và sau đó hướng về phía bắc, khi đến gần Colle della Maddalena. Đến khu vực biên giới Thụy Sĩ, sống núi chính có hướng đông-đông bắc, xuyên suốt cho đến khi kết thúc gần Vienna.

Địa chất và kiến tạo sơn

MassifMontBlanc7438
Đá móng kết tinh của khối núi Mont Blanc

Những khái niệm địa chất quan trọng được được các nhà tự nhiên học công bố khi nghiên cứu về kiến tạo sơn An-pơ vào thế kỷ XVIII.

Khoảng giữa thế kỷ XIX, học thuyết địa kỹ thuật được áp dụng để giải thích sự hiện diện của dãy núi gấp khúc. Đến thế kỷ XXI, các học thuyết kiến tạo địa tầng được sử dụng rộng rãi hơn, thay thế cho học thuyết địa kỹ thuật đã không còn tồn tại.

Dãy Alps là một phần của đai kiến tạo sơn Đệ Tam gọi là đai Alpide bắt đầu cách nay 300 triệu năm[13]. Trong Paleozoic, siêu lục địa Pangaea chỉ là một mảng kiến tạo lớn; nó vỡ ra thành nhiều mảnh trong suốt Đại Trung Sinh và đai dương Tethys phát triển giữa các lục địa LaurasiaGondwana trong kỷ Jura.[14] Đại dương Tethys sau đó bị ép giữa các mảng va chạm tạo nên các dãy núi được gọi là vành đai Alpide, từ Gibraltar qua Himalaya đến Indonesia— quá trình này bắt đầu vào cuối Đại Trung Sinh và tiếp tục diễn ra cho đến hiện nay. Sự hình thành Alps là một đoạn trong quá trình tạo núi này,[14] do sự va chạm giữa mảng châu Phimảng Á-Âu[15] diễn ra vào Kreta muộn.[16] nó kéo dài từ miền nam châu Âu và châu Á từ Đại Tây Dương đến Himalaya. Theo đó phần phía tây của đại dương Tethys bị biến mất. Các đá móng bị lộ ra ở những vùng trung tâm nằm ở cao hơn, hình thành Mont Blanc, Matterhorn, và các đỉnh cao của Pennine AlpsHohe Tauern. Sự hình thành Địa Trung Hải liên quan đến các hoạt động gần đây hơn, và không để lại dấu vết ở bờ biển bắc của lục địa châu Phi. Dưới lực nén cực kỳ lớn, các đá trầm tích có nguồn gốc biển bị nâng lên, tạo nên các nếp uốn và các đứt gãy nghịch.[17]

Lịch sử văn hóa và chính trị

Innsbruck von Südwesten
Thung lũng Inn tại Innsbruck, Tyrol

Có ít thông tin về những người sống ở Alps trứoc đây, theo các dấu hiệu được bảo tồn kém theo các nhà lịch sử và địa lý La MãAi Cập. Một ít thông tin chi tiết đã bị mờ nhạt do các cuộc chinh phục Alpine của Augustus. Các nghiên cứu gần đây về Mitochondrial DNA cho thấy rằng MtDNA Haplogroup K rất có thể có nguồn gốc trong hoặc gần phía đông nam Alps có tuổi cách đây 12.000–15.000 năm.

Trong suốt cuộc chiến tranh Punic lần 2 năm 218 TCN, kiệt tướng thành CarthageHannibal đã vượt qua Alps cùng với 38.000 bộ binh, 8.000 kị binh, và 37 voi chiến.[18] Đây là một trong những thành tựu nổi bật nhất của quân đội trong chiến tranh thời cổ đại.[18]

Hầu hết các cùng của Alpine dần dần được các dân tộc German (Langobards, Alemanni, Bavarii) định cư từ thế kỷ VI đến thế kỷ XIII, đợt mở rộng gần đây nhất là đến Walser.

Khí hậu

Alps được chia thành 5 đới khí hậu, với các môi trường khác nhau. Khí hậu, đời sống thực vật và động vật cũng thay đổi theo các đới hoặc vùng khác nhau của dãy núi.

Aletschgletscher mit Pinus cembra1
Rừng thông bên sông băng Aletsch, Valais
  1. Đới trên 3.000 m được gọi là đới névé. Khu vực này có khí hậu lạnh nhất, luôn bị tuyết phủ. Đó là lý do tại sao có ít thực vật sinh sống.
  2. Đới alpine từ độ cao 2.000 m đến 3.000 m. Đới này ít lạnh hơn đới névé. Các hoa dại và cỏ mọc ở đây.
  3. Đới cận alpine ở độ cao từ 1.500 đến 2.000 m, gồm các rừng cây linh sam và cây vân sam vì chúng có khí hậu ôn hòa hơn.
  4. Đới trồng trọt được phân bố ở độ cao khoảng 1.000 đến 1.500 m. Hàng triệu cây sồi mọc ở đây. Ở đới này có hoạt độ nông nghiệp phát triển.
  5. Đới thấp nằm dưới 1.000 m. Ở đây có sự đa dạng về thực vật. Bên cạnh đó là các làng mạc.

Thực vật

Hạn chế về độ cao đối với thực vật tự nhiên làm xuất hiện một số loài cây rụng lá chủ yếu như sồi, fagus, tần bì và đoạn. Chúng không phân bố ở cùng một độ cao nhất định, cũng không phải lúc nào cùng tìm thấy chúng cùng nhau; nhưng giới hạn trên tương ứng chính xác đủ để chúng thay đổi từ khí hậu ôn hoàn sang lạnh làm thay đổi sự có mặt của các loài thực vật thân thảo hoang. Giới hạn này nằm ở độ cao khoảng 1.200 mét (3.940 ft) so với mực nước biển ở rìa phía bắc của Alps, nhưng sườn phía nam thì tương ứng với 1.500 mét (4.920 ft), thậm chí đôi khi đến 1.700 mét (5.580 ft).

Khu vực này không phải lúc nào cũng được đánh dấu bởi sự có mặt của một số loài đặc trưng. Con người đã tác động vào chúng ở một số khu vực, ngoại trừ các khu rừng fagus của vùng Alpes Áo, các rừng cây rụng lá hiếm gặp ở đây. Ở một vài khu vực nhỏ có các loài cây gỗ, chúng bị thay thế bởi thông scots và vân sam Na Uy, là các loài ít nhạy cảm đối với sự khai thác của con người.

Bên trên, thường có một dãy các cây thông thấp (Pinus mugo), chúng lần lượt được thay thế bằng các cây bụi, đặc trưng như Rhododendron ferrugineum (trên đất axit) hay Rhododendron hirsutum (trên đất kiềm). Trên nữa là alpine meadow, và thậm chí ở cao hơn, thảm thực vật càng trở nên thưa thớt. Ở những độ cao cao hơn, thực vật có khuynh hướng hình thành những vùng cô lập. Ở Alps, một số loài thực vật có hoa đã được ghi nhận ở độ cao trên 4.000 mét (13.120 ft), như Ranunculus glacialis, Androsace alpinaSaxifraga biflora.

Kosodrzewina (Sosna górska) Pinus mugo mugo

mountain pine
(Pinus mugo)

Rhododendron ferrugineum

rusty-leaved Alpenrose
(Rhododendron ferrugineum)

Gentiana acaulis

stemless gentian
(Gentiana acaulis)

Chamorchis alpina 230705b

Alpine dwarf orchid
(Chamorchis alpina)

Pulsatilla alpina schneebergensis

Alpine pasque-flower
(Pulsatilla alpina)

Androsace alpina02

Alpine rock-jasmine (Androsace alpina)

Ranunculus glacialis

glacier buttercup
(Ranunculus glacialis)

Xem thêm

  • Thể loại:Dãy núi Alpes
  • Thể loại:Núi ở Anpơ
  • Tất cả các trang có tựa đề chứa "Anpơ"Tất cả các trang có tựa đề chứa "Alps"

Tham khảo

  1. ^ Phạm Phụ Thứ. Nhật ký đi Tây. HCM: Đà Nẵng, 1999. Tr 252
  2. ^ “Online Etymology Dictionary”. Etymonline.com. 14 tháng 5 năm 1955. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2012.
  3. ^ https://www.etymonline.com/word/alp
  4. ^ a ă Schmid, Stefan M.et al. (2004). "Tectonic map and overall architecture of the Alpine orogen". Eclogae Geologicae Helvetiae. Volume 97. 93–117
  5. ^ Fleming, Fergus. (2000). Killing Dragons: The Conquest of the Alps. New York: Grove. ISBN 978-0-8021-3867-5
  6. ^ Shoumatoff, Nicholas and Nina. (2001). The Alps: Europe's Mountain Heart. Ann Arbor, MI: University of Michigan Press. ISBN 978-0-472-11111-4
  7. ^ Ceben (1998), 22–24
  8. ^ Chatré, Baptiste, et. al. (2010), 9
  9. ^ Fleming (2000), 1
  10. ^ a ă â Beattie (2006), xii–xiii
  11. ^ Shoumtoff (2001), 23
  12. ^ di Sergio Marazzi (2006), 6
  13. ^ Shoumatoff (2001), 35
  14. ^ a ă Graciansky (2011), 1–2
  15. ^ Gerrard, (1990), 9
  16. ^ Gerrard, (1990), 16
  17. ^ Earth (2008), 142
  18. ^ a ă Lancel, Serge, Hannibal, p. 71

Tài liệu

  • Allaby, Michael et al. The Encyclopedia of Earth. (2008). Berkeley: University of California Press. ISBN 978-0-520-25471-8
  • Beattie, Andrew. (2006). The Alps: A Cultural History. New York: Oxford University Press. ISBN 978-0-195309-55-3
  • Benniston, Martin, et al. (2011). "Impact of Climatic Change on Water and Natural Hazards in the Alps". Environmental Science and Policy. Volume 30. 1–9
  • Cebon, Peter, et al. (1998). Views from the Alps: Regional Perspectives on Climate Change. Cambridge MA: MIT Press. ISBN 978-0-262-03252-0
  • Chatré, Baptiste, et al. (2010). The Alps: People and Pressures in the Mountains, the Facts at a Glance. Permanent Secretariat of the Alpine Convention (alpconv.org). Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2012. ISBN 978-8-89051-582-8
  • De Graciansky, Pierre-Charles et al. (2011). The Western Alps, From Rift to Passive Margin to Orogenic Belt. Amsterdam: Elsevier. ISBN 978-0-444-53724-9
  • di Sergio Marazzi. La Suddivisione orografica unificato del Systeme Alpino. SOIUSA, 6
  • Feuer, A.B. (2006). Packs On!: Memoirs of the 10th Mountain Division in World War II. Mechanicsburg, Pennsylvania: Stackpole Books. ISBN 978-0-8117-3289-5
  • Fleming, Fergus. (2000). Killing Dragons: The Conquest of the Alps. New York: Grove. ISBN 978-0-8021-3867-5
  • Halbrook, Stephen P. (1998). Target Switzerland: Swiss Armed Neutrality in World War II. Rockville Center, NY: Sarpedon. ISBN 978-1-885119-53-7
  • Halbrook, Stephen P. (2006). The Swiss and the Nazis: How the Alpine Republic Survived in the Shadow of the Third Reich. Havertown, PA: Casemate. ISBN 978-1-932033-42-7
  • Hudson, Simon. (2000). Snow Business: A Study of the International Ski Industry. New York: Cengage ISBN 978-0-304-70471-2
  • Gerrard, AJ. (1990) Mountain Environments: An Examination of the Physical Geography of Mountains. Boston: MIT Press. ISBN 978-0-262-07128-4
  • Körner, Christian. (2003). Alpine Plant Life. New York: Springer Verlag. ISBN 978-3-540-00347-2
  • Lancel, Serge. (1999). Hannibal. Oxford: Blackwell. ISBN 978-0-631-21848-7
  • Mitchell, Arthur H. (2007). Hitler's Mountain. Jefferson, NC: McFarland. ISBN 978-0-7864-2458-0
  • Prevas, John. (2001). Hannibal Crosses The Alps: The Invasion Of Italy And The Punic Wars. Cambridge, MA: Da Capo Press. ISBN 978-0-306-81070-1
  • Reynolds, Kev. (2012) The Swiss Alps. Cicerone Press. ISBN 978-1-85284-465-3
  • Roth, Philipe. (2007). Minerals first Discovered in Switzerland. Lausanne, CH: Museum of Geology. ISBN 978-3-9807561-8-1
  • Schmid, Stefan M. (2004). "Regional tectonics: from the Rhine graben to the Po plain, a summary of the tectonic evolution of the Alps and their forelands". Basel: Geologisch-Paläontologisches Institut
  • Sharp, Hilary. (2002). Trekking and Climbing in the Western Alps. London: New Holland. ISBN 978-0-8117-2954-3
  • Schmid, Stefan M.et al. (2004). "Tectonic map and overall architecture of the Alpine orogen". Eclogae Geologicae Helvetiae. Volume 97. 93–117
  • Shoumatoff, Nicholas and Nina. (2001). The Alps: Europe's Mountain Heart. Ann Arbor, MI: University of Michigan Press. ISBN 978-0-472-11111-4
  • Viazzo, Pier Paolo. (1980). Upland Communities: Environment, Population and Social Structure in the Alps since the Sixteenth Century. Cambridge: Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-30663-8

Liên kết ngoài

Alpes Thụy Sĩ

Alpes Thụy Sĩ (tiếng Đức: Schweizer Alpen, tiếng Pháp: Alpes Suisses, tiếng Ý: Alpi svizzere, tiếng Romansh: Alps svizras) là một phần của dãy núi Alpes nhưng phạm vi nằm trong Thụy Sĩ. Vì vị trí trung tâm của nó trong toàn bộ phạm vi dãy Alpes, nên dãy núi này cũng được biết đến như là dãy núi Alpes trung tâm. Đỉnh núi cao nhất trong dãy núi là Monte Rosa (4,634 mét) gần biên giới giữa Thụy Sĩ-Ý. Đỉnh núi cao nhất nằm hoàn toàn trên lãnh thổ Thụy Sĩ là Dom (4,545 mét).

Anpơ Glarus

Anpơ Glarus là một rặng núi ở miền trung Thụy Sĩ, trải dài từ đèo Oberalp tới đèo Klausen, giáp giới với rặng Alpes uranaises về phía tây, rặng Alpes lépontines về phía nam và rặng Alpes Appenzell về phía đông bắc. Phần phía đông của rặng núi này gồm phần lớn phay ngược (thrust fault) được UNESCO đưa vào danh sách Di sản thế giới (Swiss Tectonic Arena Sardona).

Anpơ Ötztal

Anpơ Ötztal (tiếng Đức: Ötztaler Alpen) là một phần của rặng núi Anpơ Trung Đông, giữa dãy núi Anpơ, trải dài từ đầu thung lũng Ötztal, một thung lũng bên cạnh sông Inn, tây nam thành phố Innsbruck, Áo. Rặng núi này làm thành biên giới giữa Áo và Ý. Ranh giới phía tây là đèo Resia, phía đông chia cách với rặng Alpes Stubai bởi đèo Timmelsjoch.

Ngọn cao nhất của rặng Alpes Ötztal là Wildspitze, cũng là ngọn núi cao thứ nhì ở Áo (sau ngọn Großglockner).

Tháng 9 năm 1991 người băng Ötzi được tìm thấy ở Hauslabjoch giữa các ngọn Fineilspitze và Similaun.

Bergamo

Bergamo là một đô thị ở tỉnh Bergamo, vùng Lombardia, Italia. Đô thị này có diện tích km2, dân số là 120.000 người. Đây là tỉnh lỵ tỉnh Bergamo. Thị xã Bergamo có cự ly khoảng 40 km về phía đông bắc Milano. Thị xã được phục vụ bởi sân bay Orio al Serio. Chân đồi Anpơ Bergamo nằm ngay phía bắc thị xã.

Bodensee

Bodensee là một hồ nước trên sông Rhein ở phía bắc của dãy Anpơ, và bao gồm ba bộ phận: Obersee ("hồ trên"), Untersee ("hồ dưới"), và một khúc sông Rhein, được gọi là Seerhein.

Hồ nằm ở Đức, Áo và Thụy Sĩ gần dãy núi Anpơ. Cụ thể, bờ của nó nằm ở các bang Bayern, và Baden-Württemberg của Đức, bang Vorarlberg thuộc Áo, và bang St Gallen và Thurgau của Thụy Sĩ. Sông Rhein chảy vào nó từ phía sau biên giới Áo-Thụy Sĩ. Nó nằm ở khoảng 47°39′B 9°19′Đ.

Dãy núi Cascade

Dãy Cascade (tiếng Anh: Cascade Range hay Cascade Mountains) là một dãy núi kéo dài nằm đối diện với bờ biển phía tây của Bắc Mỹ, giữa tiểu bang California, Oregon, Washington của Mỹ và tỉnh British Columbia của Canada. Dãy núi là một phần của vành đai núi lửa Cascade trong đó ngọn núi lửa Rainier là đỉnh núi cao nhất với độ cao 4.392 mét so với mực nước biển, nằm ở vị trí nhìn ra thành phố Seattle và núi St. Helens, ngọn núi từng phun trào vào năm 1980. Vòng cung núi lửa này vẫn còn hoạt động, nó bắt đầu hình thành từ 36 triệu năm trước do sự hút chìm của mảng Juan de Fuca bên dưới mảng Bắc Mỹ. Sự đe dọa bởi hoạt động núi lửa vẫn còn nghiêm trọng.

Sông Columbia làm gián đoạn địa hình chính của dãy núi, cắt qua dãy núi từ đông sang tây, lưu vực của sông bao phủ một phần lớn các sườn dốc của Cascade. Hai phần của dãy bắc - nam ngăn cản sự xâm nhập của khí hậu đại dương nóng ẩm đến từ Thái Bình Dương. Do độ cao, lượng mưa lớn chuyển thành một lượng tuyết đáng kể, xảy ra như tại núi Baker, đây là khu vực băng hà lớn nhất ở Hoa Kỳ ngoài Alaska. Ở phía đông của dãy, lượng mưa thấp hơn nhiều, khí hậu đậm chất lục địa với khác biệt lớn hơn về nhiệt độ hàng ngày và theo mùa. Sự khác biệt này có thể được nhìn thấy ở thảm thực vật chủ yếu là rừng lá kim: linh sam Douglas và thông Tsuga heterophylla chiếm ưu thế ở phía tây dãy núi, nhưng thông Pinus ponderosa, thông Pinus contorta và thông Pinus contorta chiếm ưu thế ở phía đông, là những vùng đất khô cằn. Phần phía bắc của dãy, Bắc Cascade, lạnh hơn và có địa hình cao hơn, nơi đây có nhiều sông băng. Đây là vùng đất của các loài cây thông: tsuga mertensiana, abies alba và abies lasiocarpa. Hệ động vật rất đa dạng nhưng trong tình trạng bị đe dọa. Để bảo vệ đa dạng sinh học và tài nguyên thiên nhiên khu vực này, hầu hết dãy núi đã được bảo vệ, đặc biệt là ở bốn vườn quốc gia.

Dãy núi này đã có người sinh sống trong ít nhất 11.000 năm, những người Mỹ bản địa đã sáng tác ra nhiều thần thoại và truyền thuyết về ngọn núi lửa. Người châu Âu đã khám phá dãy núi vào cuối thế kỷ 18. Tên của nó bắt nguồn từ Cuộc thám hiểm của Lewis và Clark vào năm 1806, từ những ghềnh đá có vị trí nằm trong Hẻm núi sông Columbia. Các cuộc thám hiểm và hoạt động thương mại sau đó giữa Công ty Tây Bắc và Công ty Vịnh Hudson gia tăng. Chủ yếu là việc buôn bán lông thú sau đó được thay thế bằng mua bán gỗ. Nếu những cải tiến được thực hiện để giúp vượt qua dãy núi, thì dãy sẽ bị tàn phá phần lớn. Hoạt động leo núi ở giữa thế kỷ 19 và trượt tuyết vào đầu thế kỷ 20 cuối cùng dẫn đến lần đầu tiên con người leo lên đỉnh núi cao nhất. Trong thế kỷ 21, vẻ đẹp hoang dã của dãy núi Cascade khiến cho nó trở thành một điểm thu hút du lịch.

Heiningen

Heiningen là một đô thị ở huyện Göppingen thuộc bang Baden-Württemberg ở miền nam Đức, trong Anpơ Swabia.

Hồ Lugano

Hồ Lugano (tiếng Ý: Lago di Lugano hay Ceresio, từ Ceresius Lacus) là một hồ băng hà nằm ở biên giới thuộc phía Nam Thụy Sĩ và Bắc Ý. Hồ được đặt tên theo thành phố Lugano, thành phố lớn thứ 9 của Thụy Sĩ về dân số và là thành phố nói tiếng Ý lớn nhất nằm ngoài nước Ý. Hồ Lugano tọa lạc giữa hồ Como và hồ Maggiore.

Julius Caesar

Gāius Iūlius Caesār (phát âm trong tiếng Latin: [ɡaː.i.ʊs ˈjuː.li.ʊs ˈkae̯.sar]; cách phiên âm "Xê-da" bắt nguồn từ tiếng Pháp César) (12 tháng 7 hoặc 13 tháng 7 năm 100 TCN – 15 tháng 3 năm 44 TCN) là một lãnh tụ quân sự và chính trị, và tác gia văn xuôi Latin lớn của La Mã cổ đại. Ông đóng một vai trò then chốt trong sự chuyển đổi Cộng hòa La Mã thành Đế chế La Mã.

Sinh ra trong nhà Julia, một trong những dòng dõi quý tộc lớn ở Rome, Caesar được tiếp xúc và bắt đầu tham gia đời sống chính trị từ rất sớm. Năm 60 TCN, ông cùng với Crassus và Pompeirus (Pompey). thành lập tam đầu chế thứ nhất, một liên minh chính trị có tính thống lãnh Rôma trong suốt nhiều năm. Phương cách xây dựng quyền lực dựa trên các phương thức dân túy đã đụng chạm và dẫn tới sự chống đối của giai cấp quý tộc lãnh đạo ở Rôma, mà đứng đầu là Cato Trẻ với sự ủng hộ thường xuyên của Cicero.

Những cuộc chinh chiến thành công tại xứ Gallia của Caesar mở cho La Mã con đường tiếp cận Đại Tây Dương. Julius Caesar được ghi nhận là vị tướng La Mã đầu tiên xây dựng thành công cầu sông Rhein năm 55 TCN, và trở thành tướng La Mã đầu tiên vượt qua eo biển Manche và tiến hành cuộc xâm lăng vào xứ Britannia.

Các thành công quân sự lớn lao của Caesar đã mang lại cho Caesar quyền lực quân sự tối thượng; đe dọa đến chỗ đứng của Pompey, người đã ngả lại về phe của Viện Nguyên lão sau khi Crassus chết trong trận Carrhae năm 53 TCN. Sau khi chiến cuộc xứ Gaule đến hồi kết, Caesar được lệnh phải từ bỏ quyền chỉ huy quân sự và trở về Roma. Caesar bất tuân lệnh này và thay vào đó ông rời khỏi khu vực tài phán của mình, vượt sông Rubicon tiến vào Roma với một binh đoàn La Mã vào năm 49 TCN. Kết quả là nội chiến nổ ra ở La Mã, với chiến thắng sau cùng thuộc về Caesar.

Sau khi lên nắm quyền ở Rôma, Caesar bắt đầu tiến hành một loạt chương trình cải cách xã hội lẫn chính quyền, bao gồm cả việc tạo ra và áp dụng lịch Julia. Bên cạnh đó, ông có tiến hành tập trung quyền lực cho chính quyền Cộng hòa và trở thành một Dictator perpetuo (Độc tài trọn đời) với nhiều quyền lực chưa từng có. Tuy nhiên những mâu thuẫn chính trị vẫn chưa được giải quyết, và vào ngày Idus Martiae (15 tháng 3) năm 44 TCN, một nhóm Nguyên lão nổi loạn do Marcus Junius Brutus lãnh đạo mưu sát thành công Caesar. Việc này khiến cho một loạt cuộc nội chiến nổi ra liên tiếp sau đó ở La Mã, kết thúc với việc chính quyền theo thể chế Cộng hòa không bao giờ được khôi phục và Gaius Octavius Octavianus, cháu trai và cũng là người thừa kế được chỉ định của Caesar, lên nắm quyền lực tuyệt đối với danh hiệu Augustus sau khi đánh bại tất cả các đối thủ khác. Việc Augustus củng cố quyền lực này đã đánh dấu sự bắt đầu Đế chế La Mã.

Những chiến dịch quân sự của Caesar được biết đến một cách chi tiết qua những bài viết Commentarii (bài tường thuật) của ông, và nhiều chi tiết khác về cuộc đời của ông được ghi nhận lại bởi những sử gia như Appian, Suetonius, Plutarch, Cassius Dio và Strabo. Những thông tin khác được thu thập từ những nguồn thông tin xuất hiện đương thời như là những bức thư và bài diễn văn của Cicero, những bài thơ của Catullus, và những bài viết của sử gia Sallus. Caesar được nhiều sử gia xem là một trong những nhà quân sự và chính trị gia lỗi lạc nhất trong lịch sử thế giới.

Kiến tạo mảng

Kiến tạo mảng (tiếng Anh: plate tectonics; tiếng Hy Lạp: τέκτων tektōn, nghĩa là "người xây dựng", "thợ nề") mô tả các chuyển động ở quy mô lớn của thạch quyển Trái Đất. Học thuyết này hoàn thiện các quan niệm trước đây về trôi dạt lục địa do Alfred Wegener đề xuất trong các thập niên đầu thế kỷ 20 và tách giãn đáy đại dương trong thập niên 1960.

Phần ngoài cùng nhất của Trái Đất được cấu tạo bởi thạch quyển nằm trên và quyển mềm bên dưới. Thạch quyển bao gồm vỏ Trái Đất và phần trên cùng nhất của quyển manti. Quyển mềm thuộc manti ở trạng thái rắn, nhưng có độ nhớt và ứng suất cắt tương đối thấp nên có thể chảy giống như chất lỏng nếu xét theo thời gian địa chất. Phần sâu nhất của manti bên dưới quyển mềm thì cứng do chịu áp suất lớn hơn.

Thạch quyển bị vỡ ra thành các mảng kiến tạo và chúng trượt trên quyển mềm. Các mảng này di chuyển tương đối với nhau theo một trong ba kiểu ranh giới mảng: hội tụ hay va chạm; tách giãn, cũng được gọi là trung tâm tách giãn; và chuyển dạng. Các trận động đất, hoạt động núi lửa, sự hình thành các dãy núi, và rãnh đại dương đều xuất hiện dọc theo các ranh giới này. Sự dịch chuyển sang bên của các mảng vào khoảng 50–100 mm/năm.

Mont Blanc

Mont Blanc (tiếng Pháp, núi trắng) hay Monte Bianco (tiếng Ý, có cùng nghĩa), cũng gọi là "La Dame Blanche" (tiếng Pháp, quý bà trắng) là một ngọn núi ở dãy núi Anpơ. Với độ cao của đỉnh là 4.810 m, đây là núi cao nhất ở Anpơ và Tây Âu.

Mont Blanc thuộc dãy Mont Blanc, nằm ở giữa tỉnh Haute-Savoie của Pháp và thung lũng Aoste của Ý. Với độ cao 4.810,9 mét, đây là đỉnh cao nhất Tây Âu. Tên Mont Blanc hay Monte Bianco theo tiếng Ý đều có nghĩa là đỉnh núi trắng. Đây cũng là một mục tiêu tranh chấp giữa Pháp và Ý.

Monte San Giorgio

Monte San Giorgio là một ngọn núi với những khu rừng có hình kim tự tháp nằm cạnh hồ Lugano, gần biên giới giữa Thụy Sĩ và Ý. Nó thuộc dãy núi Lugano Prealps, nằm ở phía nam bang Ticino thuộc các đô thị Brusino Arsizio, Riva San Vitale, Meride. Khu vực này nổi tiếng với di chỉ khảo cổ Trung kỷ Trias của các sinh vật biển cách đây 245 - 230 triệu năm và ghi lại những tàn tích quan trọng của cuộc sống trên đất liền. Nơi đây còn là một đầm phá nhiệt đới, với hệ thực vật, rạn san hô, các loài động vật như bò sát, động vật vỏ hai mảnh, giáp xác, da gai, côn trùng. Khu vực phía tây là Poncione d'Arzo thuộc Porto Ceresio, Varese, Ý được thêm vào như là phần mở rộng cho di sản vào năm 2010.

Napoléon Bonaparte

Napoléon Bonaparte (phiên âm: Na-pô-lê-ông Bôn-na-pác; tiếng Pháp: Napoléon Bonaparte [napoleɔ̃ bɔnɑpaʁt], tiếng Ý: Napoleone Buonaparte; một số sách Việt còn ghi tên ông là Nã Phá Luân (拿破侖); 15 tháng 8 năm 1769 – 5 tháng 5 năm 1821) là một nhà quân sự và nhà chính trị tiêu biểu của Pháp trong và sau cuộc cách mạng Pháp cũng như các cuộc chiến tranh liên quan ở châu Âu.

Với đế hiệu Napoléon I, ông là Hoàng đế của người Pháp từ năm 1804 đến năm 1815. Cuộc cải cách pháp luật của ông, Bộ luật Napoléon, đã có những ảnh hưởng lớn lên nhiều bộ luật dân sự trên toàn thế giới, nhưng ông được nhớ đến nhất bởi vai trò của mình trong các cuộc chiến tranh mà Pháp phải đương đầu với hàng loạt liên minh, được gọi là các cuộc chiến tranh Napoléon. Ông đã thiết lập quyền bá chủ trên phần lớn lục địa châu Âu và tìm cách truyền bá những lý tưởng của cách mạng Pháp, đồng thời củng cố nền đế chế làm phục hồi những nét của chế độ cũ Pháp (Ancien Régime). Nhờ thắng lợi trong những cuộc chiến này, thường là chống lại đối phương có ưu thế về quân số, ông được coi là một trong những nhà chỉ huy quân sự tài ba nhất mọi thời đại, và các chiến dịch của Napoléon

được nghiên cứu tại các học viện quân sự trên khắp thế giới.

Napoléon được sinh ra ở Ajaccio thuộc Corse, trong một gia đình thuộc dòng dõi quý tộc Genova (Ý). Ông được đào tạo thành một sĩ quan pháo binh ở Pháp. Bonaparte trở nên nổi tiếng dưới thời Đệ Nhất Cộng hòa Pháp khi chỉ huy thành công nhiều chiến dịch chống lại Liên minh thứ nhất và thứ hai chống Pháp. Ông cũng tiến hành cuộc chinh phạt bán đảo Ý.

Năm 1799, ông đã tổ chức một cuộc đảo chính và tự đưa mình trở thành vị Tổng tài thứ nhất; năm năm sau đó Thượng viện Pháp tuyên xưng ông là Hoàng đế Pháp. Trong thập niên đầu tiên của thế kỷ XIX, Đệ Nhất Đế chế Pháp dưới quyền Napoléon đã tham gia vào một loạt xung đột — những cuộc chiến tranh Napoléon — lôi kéo mọi cường quốc chính ở châu Âu tham gia. Sau một loạt thắng lợi, Pháp đạt được vị trí thống trị ở lục địa châu Âu, và Napoléon duy trì phạm vi ảnh hưởng của Pháp thông qua việc thành lập của những mối đồng minh rộng lớn và bổ nhiệm bạn bè và người thân cai trị các quốc gia châu Âu khác như những chư hầu của Pháp.

Cuộc chiến kéo dài ở bán đảo Iberia và cuộc xâm lược nước Nga năm 1812 đánh dấu bước ngoặt trong cơ đồ của Napoléon. Quân đội chủ lực của Pháp, Grande Armée, bị tổn thất nặng nề trong chiến dịch và không bao giờ có thể khôi phục lại hoàn toàn. Năm 1813, Liên minh thứ sáu đã đánh bại quân đội của ông tại Leipzig, năm sau đó Liên minh xâm lược Pháp, buộc Napoléon phải thoái vị và đày ông đến đảo Elba. Chưa đầy một năm sau, ông thoát khỏi Elba và trở lại nắm quyền, nhưng đã bị đánh bại trong trận Waterloo vào tháng 6 năm 1815. Napoléon trải qua sáu năm cuối cùng của cuộc đời trong sự giam cầm của người Anh trên đảo Saint Helena. Cái chết của ông gây ra nhiều tranh cãi về sau, chẳng hạn một số học giả cho rằng ông là nạn nhân của một vụ đầu độc bằng arsen.

Ảnh hưởng của Napoléon đối với thế giới hiện đại là đã mang lại những cải cách tự do cho nhiều vùng lãnh thổ mà ông đã chinh phục và kiểm soát, chẳng hạn như Hà Lan, Thụy Sĩ và một phần lớn của nước Ý và Đức hiện đại. Ông đã thực hiện các chính sách tự do cơ bản ở Pháp và khắp Tây Âu. Bộ luật Napoleon của ông đã ảnh hưởng đến hệ thống pháp luật của hơn 70 quốc gia trên thế giới. Nhà sử học Anh, Andrew Roberts bình luận: "Những ý tưởng củng cố thế giới hiện đại của chúng ta — công lý, chế độ nhân tài (chính quyền do những người thực sự có tài năng nắm giữ), bình đẳng trước pháp luật, quyền sở hữu, sự khoan dung tôn giáo, giáo dục thế tục hiện đại, tài chính ổn định, và nhiều thứ khác... — đã được bảo vệ, củng cố, chỉnh lý và mở rộng về mặt địa lý bởi Napoleon. Ông còn bổ sung theo đó là một chính quyền địa phương hợp lý và có năng lực, chấm dứt nạn cướp bóc ở nông thôn, khuyến khích khoa học và nghệ thuật, việc bãi bỏ chế độ phong kiến và sự lập pháp lớn nhất kể từ khi Đế quốc La Mã sụp đổ".

Nhà sàn thời tiền sử xung quanh dãy núi Anpơ

Nhà cọc thời tiền sử là một loạt các khu định cư (hoặc nhà sàn) thời tiền sử nằm ở trong và xung quanh dãy núi Anpơ được xây dựng từ khoảng 5000 đến 500 TCN bên cạnh các hồ, sông hoặc đầm lầy. Đã có 111 địa điểm khảo cổ, trong đó 56 tại Thụy Sĩ, 19 tại Ý, 18 tại Đức, 11 tại Pháp, 5 tại Áo và 2 tại Slovenia được thêm vào danh sách Di sản thế giới của UNESCO vào năm 2011. Ở Slovenia, đây là di sản văn hóa đầu tiên được UNESCO công nhận.Các cuộc khai quật chỉ được tiến hành ở một số địa điểm, đã mang lại bằng chứng cung cấp cái nhìn sâu sắc về cuộc sống trong thời tiền sử, thời kỳ đồ đá mới và đồ đồng ở vùng núi cao châu Âu, và cách cộng đồng tương tác với môi trường của họ. Như đã đề cử, các khu định cư là một nhóm duy nhất của các địa điểm khảo cổ giàu văn hóa đặc biệt được bảo tồn tốt, tạo thành một trong những nguồn quan trọng nhất cho việc nghiên cứu xã hội nông nghiệp sớm trong khu vực.Trái ngược với niềm tin phổ biến, các ngôi nhà không được dựng lên trên mặt nước, mà chỉ là trên các đầm lầy. Chúng được xây dựng trên cọc gỗ để chống lũ lụt thường xuyên xảy ra. Bởi vì các hồ phát triển về kích thước theo thời gian, nhiều cọc gỗ ban đầu hiện đang dưới nước, nên các nhà quan sát hiện đại sai lầm rằng chúng dựng trên mặt nước.

Sơn dương Anpơ

Sơn dương Anpơ (Danh pháp khoa học: Rupicapra rupicapra rupicapra là một phân loài của loài sơn dương Rupicapra rupicapra phân bố ở Áo, Pháp, Đức, Ý, Thụy Sĩ, Slovenia, Slovakia (Veľká Fatra, Slovak Paradise). Sơn dương Anpơ sinh sống chủ yếu ở những ngọn núi miền Nam và miền Trung châu Âu và dãy Kavkaz (một khu vực địa lý nằm ở biên giới giữa châu Âu và châu Á), ngoài ra, phạm vi sinh sống của chúng trải dài từ Romania, Ý, Thụy Sĩ, Áo, trong đó, chúng tập trung sinh sống ở dãy núi Anpơ. Đặc biệt đây là phân loài duy nhất của loài sơn dương này được tìm thấy ở miền núi khu vực đảo phía nam của New Zealand do du nhập vào đất nước này.

Trung Đông Anpơ

Trung Đông Anpơ là một tập hợp các rặng núi trong dãy núi Alpes trải dài từ miền bắc Ý (vùng Lombardia) tới phía đông Thụy Sĩ (bang Graubünden) dọc theo chiều dài nước Áo (tới tận bang Steiermark), đi qua Liechtenstein. Dãy này là đoạn kéo dài các ngọn núi cao nhất của rặng Alpes glaronaises và Alpes lépontines.

Dãy núi này khác với dãy Alpes đá vôi phía bắc và Alpes đá vôi phía nam về mặt cấu tạo địa chất. Dãy này gồm các đá kết tinh (gơnai, đá bảng, từng chỗ là đá granite), chứ không là những đá trầm tích. Các ngọn núi của dãy này cũng rất cao.

Các rặng núi (từ đông sang tây) làm thành dãy "Trung Đông Anpơ" là :

Các núi ở phía đông sông Mur (gồm các núi Hochwechsel, Alpes de Fischbach, Grazer Bergland) (1)

Alpes de Lavanttal (2)

Niedere Tauern (3)

Alpes de Gurktal (4)

Hohe Tauern (5)

Alpes de Kitzbühel (6)

Alpes de Zillertal (7)

Alpes de Tux (8)

Alpes de Stubai (9)

Alpes de Sarntal (10)

Alpes de l'Ötztal (11)

Massif de Samnaun (12)

Massif de Verwall (13)

Dãy núi Rätikon (14)

Silvretta (15)

Dãy núi Sesvenna (16)

Dãy núi Albula (17)

Dãy núi Plessur (18)

Dãy núi Oberhalbstein (19)

Dãy núi Livigno (20)

Dãy núi Bernina (21)

Alpes bergamasques (22)

Valdobbiadene

Valdobbiadene là một đô thị (comune) thuộc tỉnh Treviso, vùng Veneto, Ý. Đô thị này có diện tích 60,7 km2, dân số là 10.828 người (thời điểm 31 tháng 3 năm 2009). Nó được biết đến như là một vùng trồng nho nằm ngay dưới khu vực Anpơ-Dolomite, nổi tiếng là vùng có loại rượu vang trắng Prosecco ngon nhất.

Vành đai Anpơ

Vành đai Alp, vành đai Anpơ hay hệ Alp-Himalaya, hệ Anpơ-Himalaya là một tập hợp các dãy núi trải dài dọc theo rìa phía nam của đại lục Á-Âu. Vành đai này kéo dài từ Java và Sumatra qua dãy núi Himalaya, Địa Trung Hải và kết thúc trong Đại Tây Dương. Nó bao gồm các dãy núi Anpơ, Karpat, các dãy núi tại Tiểu Á và Iran, Hindu Kush, Himalaya và các dãy núi ở Đông Nam Á. Nó là khu vực có các hoạt động địa chấn xảy ra thường xuyên đứng hàng thứ hai (5-6% các trận động đất và 17% các trận động đất mạnh nhất thế giới) trên thế giới, chỉ sau Vành đai lửa Thái Bình Dương.

Vành đai Alp được tạo ra bởi hoạt động kiến tạo địa tầng đang diễn ra, là quá trình va chạm giữa các mảng đang di chuyển về phía bắc, như mảng châu Phi, mảng Ả Rập và mảng Ấn Độ với mảng Á-Âu.

Indonesia nằm giữa hai vành đai địa chấn là Vành đai lửa Thái Bình Dương (dọc theo các đảo đông bắc cận kề và bao gồm cả New Guinea) và vành đai Alp (dọc theo miền tây và nam Sumatra, Java, Bali, Flores và Timor). Trận động đất Ấn Độ Dương 2004 ngoài khơi đảo Sumatra nằm trong vành đai Alp.

Đệ nhất tổng tài vượt dãy Anpơ trên đèo Grand-Saint-Bernard

Đệ nhất tổng tài vượt dãy Anpơ trên đèo Grand-Saint-Bernar (tiếng Pháp: Le Premier Consul franchissant les Alpes au col du Grand-Saint-Bernard) còn được gọi bằng các tên khác như Napoléon vượt núi Saint-Bernard (Napoléon passant le mont Saint-Bernard), Vượt núi Saint-Bernard (Le passage du Saint-Bernard) hay Chân dung Bonaparte trên đèo Grand-Saint-Bernard (Portrait de Bonaparte au Grand Saint-Bernard) là loạt 5 tác phẩm tranh sơn dầu về chân dung Đệ nhất tổng tài Napoléon Bonaparte cưỡi ngựa vượt dãy Anpơ trên đèo Grand-Saint-Bernard được họa sĩ Jacques-Louis David sáng tác trong khoảng thời gian từ 1800 đến 1803. 5 bức tranh hiện đang được lưu giữ tại Lâu đài Malmaison (Rueil-Malmaison, Pháp), Lâu đài Charlottenburg (Berlin, Đức), Lâu đài Versailles (Versailles, Pháp - 2 bức) và Cung điện Belvedere (Viên, Áo).

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.