Andes

Dãy Andes (Quechua: Anti(s)) là dãy núi dài nhất thế giới, gồm một chuỗi núi liên tục chạy dọc theo bờ tây lục địa Nam Mỹ. Dãy Andes dài hơn 7000 km, và có chỗ rộng đến 500 km (khoảng từ 18° đến 20° vĩ độ nam). Dãy Andes có chiều cao trung bình khoảng 4000 m.

Dãy Andes về cơ bản bao gồm 2 dãy núi lớn: Cordillera Oriental và dãy Cordillera Occidental, cách nhau bởi một bình nguyên hẹp thấp hơn. Xen vào đó là các dãy núi nhỏ tách ra ra từ hai bên hông của hai dãy núi lớn.

Dãy Cordillera de la Costa là trường hợp điển hình, xuất phát từ cực nam của châu Mĩ và chạy theo hướng bắc-nam, song song với bờ biển. Miền nam rặng núi này bị biển lấn vào, tạo ra một số hải đảo. Khi nhập vào đất liền thì Cordillera de la Costa tạo nên ranh giới phía tây của thung lũng lớn của Chile. Về phía bắc, dãy núi duyên hải này tiếp tục bằng một số dãy núi nhỏ, có khi chỉ là rặng đồi lẻ dọc theo bờ Thái Bình Dương cho đến tận Venezuela, tạo ra một thung lũng dài dọc suốt sườn tây của dãy Cordillera Occidental.

Dãy Andes trải dài qua 7 quốc gia: Argentina, Bolivia, Chile, Colombia, Ecuador, PeruVenezuela. Trong số đó một vài quốc gia được mệnh danh là "Những xứ Andes".

Tên Andes vốn từ chữ anti tiếng Quechua có nghĩa là đỉnh cao.

Dãy Andes là dãy núi cao nhất bên ngoài châu Á với đỉnh cao nhất Aconcagua cao đến 6.962 m trên mực nước biển. Đỉnh núi Chimborazo (núi lửa) thuộc Ecuador là cao điểm trên mặt đất xa nhất nếu tính từ trung tâm địa cầu vì vị trí của núi ở trên đai "phình" xích đạo. Dãy Andes không cao như Himalaya nhưng dài gấp đôi Himalaya.

Dãy núi Andes (Quechua: Anti Suyu)
Phạm vi
Aerial photo of the Andes
Không ảnh thể hiện một phần của Andes giữa Argentina và Chile
City Bogotá, La Paz, Santiago, Quito, Cusco, Mérida
Điểm cao nhất Aconcagua
 - Vị trí Argentina
 - cao độ 6.962 m (22.841 ft)
 - tọa độ 32°39′10″N 70°0′40″T / 32,65278°N 70,01111°T
Chiều dài 7.000 km (4.350 mi)
Chiều rộng 500 km (311 mi)
Ảnh vệ tinh tổ hợp màu khu vực nam Andes
Ảnh vệ tinh tổ hợp màu khu vực nam Andes

Địa lý

Aconcagua (aerial)
Ảnh hàng không khu vực Aconcagua.
Cono de Arita, Salta. (Argentina)
Côn de Ảita, Salta (Argentina).

Andes có thể được chia thành 3 khu vực:

  1. Nam Andes (phía nam của Llullaillaco) ở Argentina và Chile;
  2. Trung Andes ở Ecuador, Peru và Bolivia
  3. Bắc Andes (phía bắc của Nudo de Pasto) ở Venezuela và Colombia gồm 3 dải chạy song song nhau, phía tây, trung và đông.

Ở phần phía bắc Andes, dải núi tách biệt Sierra Nevada de Santa Marta thường được xem là một phần của Andes. Dải phía đông này thuộc Colombia là dải duy nhất kéo dài đến Venezuela.[1] Dải Andes rộng khoảng 200 km (124 mi) trên suốt chiều dài của nó, trừ đoạn qua Bolivi có bề rộng lên đến 640 kilômét (398 mi). Các đảo của Hà Lan trong vùng Caribe như Aruba, Bonaire, và Curaçao, từ lâu đã được cho là các đỉnh bị nhấn chìm của đầu múc phía bắc của dải Andes, nhưng các nghiên cứu địa chất hiện tại chỉ ra rằng các cấu trúc đơn giản như vậy không phù hợp với rãnh kiến tạo phức tạp giữa hai mảng Nam MỹCarribe.[2]

Địa chất

Nazca Plate map-fr
Mảng Nacaz và mảng Nam Cực (bên trái) bị hút chìm dưới mảng Nam Mỹ (bên phải)

Andes là một đai tạo núi hình thành trong Đại Trung SinhĐệ Tam dọc theo vành đai lửa Thái Bình Dương. Andes là kết quả của quá trình kiến tạo khi vỏ đại dương của mảng NazcaNam Cực bị hút chìm bên dưới mảng Nam Mỹ. Về phía đông, dải Andes có ranh giới với các bồn trầm tích như Orinoco, Amazon Basin, Madre de DiosGran Chaco, các cấu trúc này chia cách Andes với các khiên nền cổ ở phía đông Nam Mỹ. Ở phía nam, Andes có ranh giới với thềm Patagonia trước đây. Ở phía tây, Andes kết thúc tại Thái Bình Dương, mặc dù rãnh Peru-Chile có thể được xem là giới hạn tận cùng phía tây của nó. Về mặt địa lý, Andes được xem là có ranh giới phía tây của nó là các vùng đất thấp ven biển và các địa hình ít phân dị.

Kiến tạo sơn

Rìa phía tây của mảng Nam Mỹ từng là nơi có nhiều giai đoạn kiến tạo sơn tiền Andes ít nhất là trong Proterozoic muộn và Paleozoic sớm, trong khi một số địa hình thềm và các vi tiểu lục địa đã va chạm nhau và bị tách ra cùng với các nền cổ của miền đông Nam Mỹ, sau đó phần Nam Mỹ thuộc Gondwana.

Sự hình thành dải Andes hiện đại đã bắt đầu bằng các sự kiện trong kỷ Trias khi siêu lục địa Pangea bắt đầu tan vỡ và sự trôi dạt bắt đầu diễn ra. Các sự kiện này vẫn tiếp tục trong kỷ Jura. Trong suốt kỷ Creta Andes bắt đầu đã hình thành nên hình dạng ngày nay do hoạt động nâng kiến tạo, hình thành đứt gãyuốn nếp trên các đá trầm tíchđá biến chất của các khiên nền cổ ở phía đông. Sự nâng lên của Andes diễn ra không liên tục và các khu vực khác nhau chịu lực kiến tạo khác nhau, có tốc độ nâng và bóc mòn khác nhau.

Các lực kiến tạo trên đới hút chìm dọc theo toàn bộ bờ biển phía tây của Nam Mỹ nơi mảng Nazca và một phần của mảng Nam Cực đang trượt bên dưới mảng Nam Mỹ và quá trình kiến tạo núi này vẫn đang tiếp diễn nên gây ra nhiều trận động đất lớn nhỏ và hoạt động núi lửa ngày nay. Ở đầu tận cùng phía nam, một đứt gãy biến dạng chia cách Tierra del Fuego với mảng nhỏ hơn là mảng Scotia.

Hoạt động núi lửa

MAGMAARC1
Các cung núi lửa của Andes(màu vàng)

Hoạt động núi lửa tại Andes là kết quả của sự hút chìm của mảng Nazca và mảng Nam Cực bên dưới mảng Nam Mỹ. Dải Andes có nhiều núi lửa đang hoạt động, gồm 4 khu vực tách biệt nhau xem kẽ với các khu vực không có hoạt động núi lửa. Các núi lửa ở đây đa dạng về phương thức hoạt động, sản phẩm và hình thái. Ngoài việc có sự khác biệt về các đới núi lửa còn có những khác biệt đáng kể bên trong đới và thậm chí giữa các núi lửa lân cận. Mặc dù có vị trí kiểu núi lửa calc-alkalic và núi lửa ở vị trí hút chìm, đai núi lửa Andes có môi trường núi lửa kiến tạo hình thành trên phạm vi rộng lớn như hệ thống rift và các đới căng giãn, đứt gãy chuyển dạng, hút chìm của các sống núi giữa đại dương và các dãi núi lửa dưới đáy biển ngăn cách với một dải lớn trên bề dày của vỏ Trái Đất và các đường đi lên của mácma, và mức độ đồng hóa của vỏ Trái Đất khác nhau.

Tích tụ quặng và đá evaporit

Dải núi Andes sở hữu các mỏ quặng và muối và một số mỏ nằm ở phía đông của đai uốn nếp có vai trò như các bẫy có thể khai thác hydrocarbon thương mại. Về phía đất liền của sa mạc Atacama, một đới khoáng hóa đồng porphyr lớn nhất đã làm cho Chile và Peru trở thành các nhà sản xuất đồng lớn thứ nhất và thứ 2 trên thế giới. Đồng porphyr ở các sườn phía tây của Andes sinh ra từ nhiệt dịch trong quá trình nguội lạnh mácma xâm nhập hoặc núi lửa. Khoáng hóa porphyr tiếp tục được hỗ trợ bởi khí hậu khô làm cho chúng nằm ngoài các hoạt động phân bố của nước khí quyển. Khí hậu khô ở miền trung-tây Andes cũng dẫn đến sự hình thành các tích tụ muối natri nitrat trên phạm vi rộng mà đã và đang được khai thác rộng rãi cho đến khi con người phát hiện ra nitrat tổng hợp. Một kết quả khác do khí hậu khô là các hồ khô Atacama và Uyuni, hồ thứ nhất là một nguồn cung cấp lithi lớn nhất ngày nay và hồ thứ 2 là nguồn dự trữ kim loại này lớn nhất trên thế giới. Hoạt động mácma xâm nhập Mesozoic sớm và Neogene ở Bolivias Cordillera Central đã hình thành các vành khoáng thiếc ở Bolivia cũng như mỏ thiếc nổi tiếng thế giới Cerro Rico de Potosí mà hiện nay đã cạn kiệt.

Khí hậu và thủy văn

Andes1a
Trung Andes

Khí hậu ở Andes thay đổi lớn tùy theo độ vĩ độ, độ cao và khoảng cách đến biển. Nhiệt độ, áp suất khí quyển và độ ẩm giảm ở những độ cao lớn hơn. Đoạn phía nam đặc trưng bởi mưa và lạnh, trung Andes thì khô. Trong khi đó bắc Andes thì đặc trưng bởi mưa và ấm với nhiệt độ trung bình 18 °C (64 °F) ở Colombia. Khí hậu có thể thay đổi đáng kể trong một khoảng cách ngắn. Rừng mưa tồn tại chỉ cách khu vực đỉnh Cotopaxi bị tuyết bao phủ chỉ vào dặm. Các núi chịu ảnh hưởng lớn về nhiệt độ của các khu vực xung quanh. Đường ranh tuyết phụ thuộc vào vị trí, nó nằm ở độ cao giữa 4.500 và 4.800 m (14.800–15.800 ft) ở khu vực thuộc Ecuadoria, Colombia, Venezuela, và bắc Peru, đến độ cao 4.800–5.200 m (15.800–17.060 ft) ở các khu vực khô hơn thuộc miền nam Nam Peru đến miền nam Nam Chile khoảng 30° Nam, sau đó giảm xuống 4.500 m (14.760 ft) thuộc Aconcagua ở 32°Nam, 2.000 m (6.600 ft) ở 40°Nam, 500 m (1.640 ft) ở 50°Nam, và chỉ 300 m (980 ft) thuộc Tierra del Fuego ở 55°Nam; từ 50°Nam, nhiều sông băng lớn hơn trải dài xuống mực nước biển.[3]

Andes thuộc Chile và Argentina có thể được chia thành 2 khu vực khí hậu và các vùng sông băng; Andes khô và Andes ướt. Vì Andes khô kéo dài từ các vĩ độ thuộc sa mạc Atacama đến khu vực thuộc sông Maule, giáng thủy rải rác và có sự dao động mạnh về nhiệt độ. Đường cân bằng có thể dao động mạnh theo các chu kỳ ngắn, để lại toàn bộ sông băng trong khu vực bị tan chảy hoặc trong khu vực đóng băng.

Ở vùng cao của Andes thuộc trung Chile và tỉnh Mendoza, các sông băng đá lớn hơn và phổ biến hơn sông băng thường; điều này là do chúng tiếp xúc nhiều với bức xạ mặt trời.[4]

Mặc dù giáng thủy tăng theo độ cao, cũng có khu vực bán khô cằn ở độ cao gần 7000 m nằm chót vót trên các đỉnh của Andes. Khí hậu thảo nguyên khô này được xem là điển hình của khí hậu cận nhiệt đới ở vĩ độ 32-34°N. Dù vậy ở cacd9a11y thung lũng không phát triển cây thân gỗ mà chỉ có các cây bụi lùn. Các sông băng lớn như sông băng Plomo và Horcones thậm chí không đạt đến chiều dài 10 km và có bề dày không đáng kể. Tuy nhiên, trong thời kỳ băng hà cách đây 20.000 năm, các sông băng từng dài hơn gấm 10 lần hiện tại. Ở phía đông của đoạn núi Andes thuộc Mendozina, chúng chảy xuống đến cao độ 2060 m và ở phía tây đến cao độ 1220 m.[5][6] Các khối núi Cerro Aconcagua (6962 m), Cerro Tupungato (6550 m) và Nevado Juncal (6110 m) nằm cách xa nhau hàng chục km và được liên kết với nhau bởi các mạng sông băng. Mạng nhánh của mạng sông băng, như các hợp phần của thung lũng sông băng, đã kéo dài 112.5 km, dày hơn 1020 m, và kéo dài theo chiều thẳng đứng 5150 m. Đường ranh sông băng (climatic glacier snowline) hiện đã bị hạ thấp từ 4600 m xuống 3200 m vào thời gian băng hà.[5][7][8][9][10][11][12][13][14]

Hệ thực vật

Andes cắt qua nhiều khu vực sinh thái thực vật và tự nhiên kéo dài từ Venezuela thuộc Caribbe đến khu vực Cape Horn lạnh, gió và ẩm ướt băng qua sa mạc cực kỳ khô hạn. Rừng mưa bao bọc nhiều khu vực của miền bắc Andes nhưng hiện tại đã suy giảm, đặc biệt ở Chocó và các thung lũng nội Andes ở Colombia. Phần đối diện trực tiếp của các sườn Andes ẩm là các sườn Andes tương đối khô ở hầu hết miền tây của Peru, Chile và Argentina. Dọc theo một số Interandean Valles, chúng đặc trưng bởi các rừng cây rụng lá, cây bụi và xeric, kéo dài đến tận cùng trong các sườn núi gần sa mạc Atacama không có sự sống.

Có khoảng 30.000 loài thực vật có mạch sống trong Andes với gần phân nửa là loài đặc hữu của vùng này, vượt lên trên bất kỳ điểm nóng đa dạng sinh học khác.[15] Loài cây nhỏ Cinchona pubescens là nguồn cung cấp quinine, một chất được dùng để điều trị bệnh sốt rét, được tìm thấy khắp nơi ở Andes kéo dài đến tận phía nam của Bolivia. Các loài nông sản quan trọng khác có xuất xứ từ Andes như là thuốc lákhoai tây. Các rừng cây Polylepis ở độ cao lớn được tìm thấy ở một số khu vực của Andes thuộc Colombia, Ecuador, Peru, Bolivia và Chile. Các cây này, địa phương gọi là Queñua, Yagual và nhiều tên khác, có thể được tìm thấy ở các cao độ 4.500 m (14.760 ft) trên mực nước biển. Vẫn là điều chưa rõ ràng rằng liệu sự phân bố loang lổ của những rừng cây này là tự nhiên hay là kết quả của quá trình phá rừng bắt đầu trong suốt thời kỳ Inca. Bất kể điều đó, sự phá rừng trong thời kỳ hiện đã tăng tốc, và các loài cây này hiện được xem là có nguy cơ tuyệt chủng cao, với khoảng ít nhất là 10% các loại rừng cây gỗ nguyên thủy còn tồn tại.[16]

Hệ động vật

Tunki Tanpupata
A male Andean Cock-of-the-rock, một loài được tìm thấy ở các rừng Andes ẩm.
Ausangate-hillside-MT
Đàn alpaca trên sườn núi Ausangate.

Hệ động vật của Andes rất phong phú với khoảng 3.500 loài trong đó gần 2/3 là loài đặc hữu, đặc biệt Andes là môi trường sống quan trọng nhất của các loài lưỡng cư trên thế giới.[15] Andes có gần 600 loài thú (13% là đặc hữu), hơn 1.700 loài chim (khoảng 1/3 là đặc hữu), hơn 600 loài bò sát (khoảng 45% là đặc hữu), và khoảng 400 loài (khoảng 1/3 là đặc hữu).[15]

VicuñaGuanaco có thể tìm thấy chúng sống ở Altiplano, trong khi các loài đã được thuần hóa có quan hệ họ hàng gần với chúng là LlamaAlpaca được chăn thả theo địa phương ở dạng đàn và được nuôi để lấy thịtlen. Các loài chinchilla sống về đêm, hai trong số các loài bị đe dọa tuyệt chủng trong bộ Gặm nhấm, sống ở các khu vực núi cao của Andes. Thần ưng Andes, loài chim lớn nhất ở Tây Bán Cầu, có mặt khắp Andes nhưng nhìn chung có mật độ rất thấp. Các loài động vật khác được tìm thấy ở các môi trường tương đối mở của các vùng cao thuộc Andes như hươu nai Hippocamelus, báo sư tử, cáo trong chi Pseudalopex, và đối với chim, một số loài tinamou (đặc biệt là chi Nothoprocta), Andean Goose, Giant Coot, flamingo (có quan hệ mật thiết với các hồ siêu mặn), Lesser Rhea, Andean Flicker, Diademed Sandpiper-plover, Geositta, PhrygilusDiuca.

Hồ Titicaca là nơi sinh sống của nhiều loài đặc hữu, trong số đó chim lặn rollandia microptera và ếch telmatobius culeus bị đe dọa cao nhất. Một vài loài chim ruồi, nổi trội như Oreotrochilus, có thể bắt gặp ở các độ cao hơn 4.000 m (13.100 ft), nhưng sự đa dạng sinh học cao hơn có thể được tìm thấy ở các độ cao thấp hơn, đặc biệt trong các khu rừng Andes ẩm ("cloud forest") phát triển trên các sườn núi thuộc Colombia, Ecuador, Peru, Bolivia và xa về miền đông bắc Argentina. Các loại rừng này rất phong phú về hệ động-thực vật, mặc dù một vài loài thú lớn tồn tại, trừ các loài lợn vòi núi, gấu bốn mắt và khỉ đuôi vàng Oreonax flavicauda bị đe dọa tuyệt chủng.

Chim ở các khu rừng Andes ẩm gồm Andigena, TrogonidaeRupicola peruvianus, trong khi các đàn chim nhiều loài chiếm chủ yếu là ThraupidaeFurnariidae thường xuất hiện - trái ngược với một số loài chim biết hót như các loài có cơ quan phát ra âm thanh đặc trưng là hồng tước, Rhinocryptidaechim trèo cây.

Nhiều loài như Cinclodes aricomae và Leptasthenura xenothoraxl có quan hệ với Polylepis cũng bị đe dọa tuyệt chủng.

Các đỉnh núi thuộc dãy Andes

Dưới đây là một số đỉnh núi chủ yếu của dãy Andes đi qua các quốc gia:

Argentina

Cerro tronador desde lago mascardi 01b
Cerro Tronador, Argentina
  • Aconcagua, 6.962 m (22.841 ft)
  • Cerro Bonete, 6.759 m (22.175 ft) (not 6.872 m)
  • Galán, 5.912 m (19.396 ft) (not 6.600 m)
  • Mercedario, 6.720 m (22.047 ft)
  • Pissis, 6.795 m (22.293 ft) (not 6.882 m)

Giữa Argentina và Chile

Andes - punta arenas
Torres del Paine, Chile
Llullaillaco
Llullaillaco, Chile/Argentina
  • Cerro Bayo, 5.401 m (17.720 ft)
  • Cerro Chaltén, 3.375 m (11.073 ft) or 3.405 m, Patagonia, also known as Cerro Fitz Roy
  • Cerro Escorial, 5.447 m (17.871 ft)
  • Cordón del Azufre, 5.463 m (17.923 ft)
  • Falso Azufre, 5.890 m (19.324 ft)
  • Incahuasi, 6.620 m (21.719 ft)
  • Lastarria, 5.697 m (18.691 ft)
  • Llullaillaco, 6.739 m (22.110 ft)
  • Maipo, 5.264 m (17.270 ft)
  • Marmolejo, 6.110 m (20.046 ft)
  • Ojos del Salado, 6.893 m (22.615 ft)
  • Olca, 5.407 m (17.740 ft)
  • Sierra Nevada de Lagunas Bravas, 6.127 m (20.102 ft)
  • Socompa, 6.051 m (19.852 ft)
  • Nevado Tres Cruces, 6.749 m (south summit) (III Region)
  • Tronador, 3.491 m (11.453 ft)
  • Tupungato, 6.570 m (21.555 ft)
  • Nacimiento, 6.492 m (21.299 ft)

Bolivia

  • Ancohuma, 6.427 m (21.086 ft)
  • Cabaray, 5.860 m (19.226 ft)
  • Chacaltaya, 5.421 m (17.785 ft)
  • Huayna Potosí, 6.088 m (19.974 ft)
  • Illampu, 6.368 m (20.892 ft)
  • Illimani, 6.438 m (21.122 ft)
  • Macizo de Larancagua, 5.520 m (18.110 ft)
  • Macizo de Pacuni, 5.400 m (17.720 ft)
  • Nevado Anallajsi, 5.750 m (18.865 ft)
  • Nevado Sajama, 6.542 m (21.463 ft)
  • Patilla Pata, 5.300 m (17.390 ft)
  • Tata Sabaya, 5.430 m (17.815 ft)
Nevado Sajama

Sajama

Huayna Potosí La Paz - Bolivia

Huayna Potosí

Giữa Bolivia và Chile

  • Acotango, 6.052 m (19.856 ft)
  • Cerro Minchincha, 5.305 m (17.405 ft)
  • Irruputuncu, 5.163 m (16.939 ft)
  • Licancabur, 5.920 m (19.423 ft)
  • Olca, 5.407 m (17.740 ft)
  • Parinacota, 6.348 m (20.827 ft)
  • Paruma, 5.420 m (17.782 ft)
  • Pomerape, 6.282 m (20.610 ft)
Laguna Verde Bolivia

Licancabur, Bolivia/Chile

Parinacota

Parinacota

Chile

See also List of mountains in Chile
  • Monte San Valentin, 4.058 m (13.314 ft) (Patagonia)
  • Cerro Paine Grande, c.2.750 m (9.022 ft) (Patagonia) (not 3.050 m)
  • Cerro Macá, c.2.300 m (7.546 ft) (Patagonia) (not 3.050 m)
  • Monte Darwin, c.2.500 m (8.202 ft) (Patagonia)
  • Volcan Hudson, c.1.900 m (6.234 ft) (Patagonia)
  • Cerro Castillo Dynevor, c.1.100 m (3.609 ft) (Patagonia)
  • Mount Tarn, c.825 m (2.707 ft) (Patagonia)
Stgo Abril

Santiago de Chile on the western slopes of a snowcapped Andes

Cuernos del Paine from Lake Pehoé

View of Cuernos del Paine in Torres del Paine National Park

Colombia

  • Galeras, 4.276 m (14.029 ft)
  • Nevado del Huila, 5.365 m (17.602 ft)
  • Nevado del Ruiz, 5.321 m (17.457 ft)
  • Ritacuba Blanco, 5.410 m (17.749 ft)
  • Snow Mountain of Quindio, 5.215 m (17.110 ft)

Ecuador

  • Antisana, 5.753 m (18.875 ft)
  • Cayambe, 5.790 m (18.996 ft)
  • Chimborazo, 6.268 m (20.564 ft)
  • Corazón, 4.790 m (15.715 ft)
  • Cotopaxi, 5.897 m (19.347 ft)
  • El Altar, 5.320 m (17.454 ft)
  • Illiniza, 5.248 m (17.218 ft)
  • Pichincha, 4.784 m (15.696 ft)
  • Quilotoa, 3.914 m (12.841 ft)
  • Reventador, 3.562 m (11.686 ft)
  • Sangay, 5.230 m (17.159 ft)
  • Tungurahua, 5.023 m (16.480 ft)
Chimborazo from southwest

Chimborazo, Ecuador

Peru

  • Alpamayo, 5.947 m (19.511 ft)
  • Artesonraju, 6.025 m (19.767 ft)
  • Carnicero, 5.960 m (19.554 ft)
  • El Misti, 5.822 m (19.101 ft)
  • El Toro, 5.830 m (19.127 ft)
  • Huascarán, 6.768 m (22.205 ft)
  • Jirishanca, 6.094 m (19.993 ft)
  • Pumasillo, 5.991 m (19.656 ft)
  • Rasac, 6.040 m (19.816 ft)
  • Rondoy, 5.870 m (19.259 ft)
  • Sarapo, 6.127 m (20.102 ft)
  • Seria Norte, 5.860 m (19.226 ft)
  • Siula Grande, 6.344 m (20.814 ft)
  • Yerupaja, 6.635 m (21.768 ft)
  • Yerupaja Chico, 6.089 m (19.977 ft)
Alpamayo

Alpamayo, Peru

El misti

El Misti, Peru

Venezuela

  • Pico Bolívar, 4.981 m (16.342 ft)
  • Pico Humboldt, 4.940 m (16.207 ft)
  • Pico La Concha, 4.870 m (15.978 ft)
  • Pico Piedras Blancas, 4.740 m (15.551 ft)
Bolívar usgs

Pico Bolívar, Venezuela

Tham khảo

  1. ^ Andes travel map
  2. ^ “Upper mantle structure beneath the Caribbean-South American plate boundary from surface wave tomography” (PDF). JOURNAL OF GEOPHYSICAL RESEARCH 114: B01312. Bibcode:2009JGRB..11401312M. doi:10.1029/2007JB005507. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 5 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2010.
  3. ^ “Climate of the Andes”. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2007.
  4. ^ Jan-Christoph Otto, Joachim Götz, Markus Keuschnig, Ingo Hartmeyer, Dario Trombotto, and Lothar Schrott (2010). Geomorphological and geophysical investigation of a complex rock glacier system - Morenas Coloradas valley (Cordon del Plata, Mendoza, Argentina)
  5. ^ a ă Kuhle, M. (2011): The High-Glacial (Last Glacial Maximum) Glacier Cover of the Aconcagua Group and Adjacent Massifs in the Mendoza Andes (South America) with a Closer Look at Further Empirical Evidence. Development in Quaternary Science, Vol. 15 (Quaternary Glaciation - Extent and Chronology, A Closer Look, Eds: Ehlers, J.; Gibbard, P.L.; Hughes, P.D.), 735-738. (Elsevier B.V., Amsterdam).
  6. ^ Brüggen, J. (1929): Zur Glazialgeologie der chilenischen Anden. Geol. Rundsch. 20, 1–35, Berlin.
  7. ^ Kuhle, M. (1984): Spuren hocheiszeitlicher Gletscherbedeckung in der Aconcagua-Gruppe (32-33° S). In: Zentralblatt für Geologie und Paläontologie Teil 1 11/12, Verhandlungsblatt des Südamerika-Symposiums 1984 in Bamberg: 1635-1646.
  8. ^ Kuhle, M. (1986): Die Vergletscherung Tibets und die Entstehung von Eiszeiten. In: Spektrum der Wissenschaft 9/86: 42-54.
  9. ^ Kuhle, M. (1987): Subtropical Mountain- and Highland-Glaciation as Ice Age Triggers and the Waning of the Glacial Periods in the Pleistocene. In: GeoJournal 14 (4); Kluwer, Dordrecht/ Boston/ London: 393-421.
  10. ^ Kuhle, M. (1988): Subtropical Mountain- and Highland-Glaciation as Ice Age Triggers and the Waning of the Glacial Periods in the Pleistocene. In: Chinese Translation Bulletin of Glaciology and Geocryology 5 (4): 1-17 (in Chinese language).
  11. ^ Kuhle, M. (1989): Ice-Marginal Ramps: An Indicator of Semiarid Piedmont Glaciations. In: GeoJournal 18; Kluwer, Dordrecht/ Boston/ London: 223-238.
  12. ^ Kuhle, M. (1990): Ice Marginal Ramps and Alluvial Fans in Semi-Arid Mountains: Convergence and Difference. In: Rachocki, A.H., Church, M. (eds.): Alluvial fans - A field approach. John Wiley & Sons Ltd, Chester-New York-Brisbane-Toronto-Singapore: 55-68.
  13. ^ Kuhle, M. (1990): The Probability of Proof in Geomorphology - an Example of the Application of Information Theory to a New Kind of Glacigenic Morphological Type, the Ice-marginal Ramp (Bortensander). In: GeoJournal 21 (3); Kluwer, Dordrecht/ Boston/ London: 195-222.
  14. ^ Kuhle, M. (2004): The Last Glacial Maximum (LGM) glacier cover of the Aconcagua group and adjacent massifs in the Mendoza Andes (South America). In: Ehlers, J., Gibbard, P.L. (Eds.), Quaternary Glaciation— Extent and Chronology. Part III: South America, Asia, Africa, Australia, Antarctica. Development in Quaternary Science, vol. 2c. Elsevier B.V., Amsterdam, pp. 75–81.
  15. ^ a ă â Tropical Andes - biodiversityhotspots.org
  16. ^ “Plants of the Andes”. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2007.

Đọc thêm

  • John Biggar, The Andes: A Guide For Climbers, 3rd. edition, 2005, ISBN 0-9536087-2-7
  • Tui de Roy, The Andes: As the Condor Flies. 2005, ISBN 1-55407-070-8
  • Fjeldså, J., & N. Krabbe (1990). The Birds of the High Andes. Zoological Museum, University of Copenhagen, Copenhagen. ISBN 87-88757-16-1
  • Fjeldså, J. & M. Kessler. 1996. Conserving the biological diversity of Polylepis woodlands of the highlands on Peru and Bolivia, a contribution to sustainable natural resource management in the Andes. NORDECO, Copenhagen.

Liên kết ngoài

.co

.co là tên miền quốc gia cấp cao nhất (ccTLD) của Colombia. Được quản lý bởi Đại học Los Andes.

"co" cũng thường được dùng cho tên miền cấp 2 trong những tên miền mã quốc gia khác, trong đó người đăng ký (thường là công ty) có thể đăng ký tên miền cấp 2 có dạng.co.xx, trong đó xx là mã quốc gia cấp cao nhất. Israel (.co.il), Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland (.co.uk), New Zealand (.co.nz), Nhật Bản (.co.jp), Hàn Quốc (.co.kr) và Quần đảo Cook (.co.ck) là những ví dụ. Vài mã nước khác sử dụng "com", như Úc (.com.au), México (.com.mx) và Đài Loan (.com.tw); bao gồm cả.co, sử dụng.com.co.

Trong khoảng năm 2000 khi nhiều tên miền mã quốc gia bị tái quảng bá thành tên miền dùng chung trên toàn thế giới, đã có những thảo luận cho phép đăng ký tên miền cấp 2 trong .co dành cho người đăng ký trên toàn thế giới để nhấn mạnh điểm tương tự giữa nó với .com và với cách dùng co như trên làm tên cấp 2, và việc đăng ký vẫn tiếp diễn hạn chế cho tên miền cấp 3 và người đăng ký Colombia.

Antioquia

Antioquia là một trong 32 tỉnh ở tây bắc trung bộ Colombia, giáp Biển Caribe. Phần lớn diện tích là núi non với vài thung lũng, phần lớn thuộc dãy núi Andes. Tỉnh lỵ đóng ở thành phố Medellín. Tỉnh này có diện tích 63.612 km2, dân số là 5.682.276 người. Tỉnh được thành lập năm 1856 và năm 1886

Bí mật núi Andes

Bí mật núi Anđen (tiếng Đức: Das Geheimnis der Anden) là một bộ phim trinh thám của đạo diễn Rudi Kurz, ra mắt lần đầu năm 1972.

Chi Tống quán sủ

Tống quán sủ (danh pháp khoa học: Alnus) là một chi thực vật có hoa trong họ Bạch dương. Chi này gồm khoảng 30 loài cây và cây bụi có hoa đơn tính cùng gốc, một vài loài có kích thước lớn phân bố trên khắp khu vực ôn đới của bán cầu bắc và ở châu Mỹ dọc theo Andes về phía nam đến Argentina.

Comparettia

Comparettia, được viết tắt là Comp trong lĩnh vực kinh doanh vườn, là một chi lan. Nó gồm có 14 loài, bản địa của châu Mỹ nhiệt đới, đặc biệt là ở vùng Andes.

Cáo xám Nam Mỹ

Cáo xám Argentina (danh pháp hai phần: Lycalopex griseus) là một loài động vật thuộc họ Chó. Cáo xám Argentina phân bố ở miền nam Cone của Nam Mỹ, đặc biệt là trong Argentina và Chile. Phạm vi của nó bao gồm một dải, cả hai mặt của dãy núi Andes giữa song song với 17º B (phía bắc Chile) và 54 º N (Tierra del Fuego).

Ở Argentina, loài này sống ở khu vực phía Tây bán khô cằn của đất nước, từ các mũi núi Andes (khoảng 69 º T) đến kinh tuyến 66 º T. Phía nam từ sông Río Grande, phân bố của loài cáo này mở rộng đến bờ biển Đại Tây Dương. Tại Chile, nó hiện diện trong cả nước. Sự hiện diện của nó tại Peru đã được đề cập, cho đến nay, tuy nhiên, đã không có xác nhận về điều này. Cáo xám Argentina đã được du nhập đến quần đảo Falkland trong những năm 1920 cuối những năm 1930 đầu và vẫn còn hiện diện với số lượng khá lớn trên Beaver và Weddell đảo cộng với một số hòn đảo nhỏ.

Gấu mặt ngắn Andes

Gấu mặt ngắn Andes (danh pháp khoa học: Tremarctos ornatus), còn được gọi là gấu Andes, có lông đen với màu be đặc trưng ngang trên mặt và phần trên của ngực. Con đực có thể nặng tới 130 kg, và con cái là 60 kg. Chúng sinh sống trong một vài khu vực của Nam Mỹ, bao gồm tây Venezuela, Ecuador, Peru, tây Bolivia và Panama. Nó là loài gấu duy nhất sống ở Nam Mỹ. Sau gấu trúc Trung Quốc chúng là loài gấu đang gặp nguy hiểm nhất trong số tất cả các loài gấu hiện nay còn trên thế giới, vì sự sống còn của chúng phụ thuộc chủ yếu vào khả năng kỳ diệu của chúng để vượt qua những cây cao nhất của rừng rậm nhiệt đới của dãy Andes trong lưu vực sông Amazon.

Huemul

Hươu Huemul hay Guemal ( WAY-mool, tiếng Tây Ban Nha: [weˈmul]), danh pháp hai phần: Hippocamelus bisulcus, là một loài hươu bản địa tại vùng núi thuộc Argentina và Chile.

Hươu huemul xuất hiện trên phù hiệu áo giáp của Chile như một biểu tượng.

Họ Mỏ hạc

Họ Mỏ hạc (danh pháp khoa học: Geraniaceae) là một họ thực vật có hoa. Nó bao gồm cả chi Geranium (các loài mỏ hạc) và các loài cây trồng làm cảnh như quỳ thiên trúc, phong lữ mà các nhà thực vật học ngày nay phân loại là thuộc chi Pelargonium, cùng với các chi có hình dạng bề ngoài tương tự khác.

Trong họ này có khoảng 805 loài, phân bổ trong khoảng 7 đến 14 chi; danh sách các chi trong bảng phân loại thuộc bài này lấy từ cơ sở dữ liệu của Vườn thực vật hoàng gia Kew, Anh quốc. Về mặt số lượng, quan trọng nhất là các chi Geranium, Pelargonium và Erodium. Phần lớn các loài được tìm thấy trong các khu vực ôn đới hoặc ôn đới ấm, đặc biệt là miền nam châu Phi, mặc dù có một số loài sinh trưởng trong khu vực nhiệt đới. Các loài cây này có thể là cây sống một năm hoặc lâu năm. Các loài cây có thân lớn thường có thân gỗ; phần lớn có lông bao phủ. Hoa có 5 cánh và chủ yếu là lưỡng tính.

Người ta cũng có thể phân biệt chi Hypseocharis có khoảng 1-3 loài sinh trưởng trong khu vực tây nam dãy Andes ở Nam Mỹ với phần còn lại của họ này. Một số tác giả đặt chi Hyspeocharis trong họ độc chi là Hypseocharitaceae, trong khi các nguồn cũ lại đặt chi này trong họ Oxalidaceae.

Kiến tạo mảng

Kiến tạo mảng (tiếng Anh: plate tectonics; tiếng Hy Lạp: τέκτων tektōn, nghĩa là "người xây dựng", "thợ nề") mô tả các chuyển động ở quy mô lớn của thạch quyển Trái Đất. Học thuyết này hoàn thiện các quan niệm trước đây về trôi dạt lục địa do Alfred Wegener đề xuất trong các thập niên đầu thế kỷ 20 và tách giãn đáy đại dương trong thập niên 1960.

Phần ngoài cùng nhất của Trái Đất được cấu tạo bởi thạch quyển nằm trên và quyển mềm bên dưới. Thạch quyển bao gồm vỏ Trái Đất và phần trên cùng nhất của quyển manti. Quyển mềm thuộc manti ở trạng thái rắn, nhưng có độ nhớt và ứng suất cắt tương đối thấp nên có thể chảy giống như chất lỏng nếu xét theo thời gian địa chất. Phần sâu nhất của manti bên dưới quyển mềm thì cứng do chịu áp suất lớn hơn.

Thạch quyển bị vỡ ra thành các mảng kiến tạo và chúng trượt trên quyển mềm. Các mảng này di chuyển tương đối với nhau theo một trong ba kiểu ranh giới mảng: hội tụ hay va chạm; tách giãn, cũng được gọi là trung tâm tách giãn; và chuyển dạng. Các trận động đất, hoạt động núi lửa, sự hình thành các dãy núi, và rãnh đại dương đều xuất hiện dọc theo các ranh giới này. Sự dịch chuyển sang bên của các mảng vào khoảng 50–100 mm/năm.

Mèo núi Andes

Mèo núi Andes (danh pháp hai phần: Leopardus jacobitus) là một loài động vật thuộc họ Mèo. Mèo núi Andes phân bố ở dãy núi Andes ở các quốc gia Peru, Bolivia, Chile và Argentina.. Có ít hơn 2500 cá thể được cho là đang tồn tại.

Mòng biển Andes

Mòng biển Andes (danh pháp khoa học: Chroicocephalus serranus) là một loài chim trong họ Laridae.

Như là trường hợp với nhiều loài mòng biển, loài này theo truyền thống được đặt trong chi Larus. Loài mòng biển này được tìm thấy ở dãy Andes ở miền núi của Argentina, Bolivia, Chile, Colombia, Ecuador, và Peru. Nó là bất thường đối với một con mòng biển trong đó giống nó ở khu vực núi nội địa. Mòng biển Andes có thể được tìm thấy xung quanh khác nhau như sông, hồ nước ngọt, đầm lầy mặn, đất đồng cỏ.

Peru

Peru (tiếng Tây Ban Nha: Perú, phát âm [peˈɾu]), tên chính thức là nước Cộng hòa Peru (tiếng Tây Ban Nha: República del Perú, phát âm [reˈpuβlika ðel peˈɾu] ( nghe)), là một quốc gia tại tây bộ Nam Mỹ. Về phía bắc, Peru có biên giới với Ecuador và Colombia, về phía đông là Brasil, về phía đông nam là Bolivia, ở phía nam là Chile, và phía tây Peru là Thái Bình Dương.

Lãnh thổ Peru là quê hương của nhiều nền văn hóa cổ đại, trải dài từ văn minh Norte Chico – một trong các nền văn minh cổ xưa nhất trên thế giới, đến Đế quốc Inca – quốc gia lớn nhất châu Mỹ thời kỳ tiền Colombo. Đế quốc Tây Ban Nha chinh phục khu vực vào thế kỷ XVI và thiết lập một phó vương quốc với thủ đô tại Lima. Sau khi giành được độc lập vào năm 1821, Peru trải qua các giai đoạn bất ổn định chính trị và khủng hoảng ngân sách, cũng như các giai đoạn ổn định và kinh tế tiến bộ.

Peru là một nước cộng hòa dân chủ đại nghị, được chia thành 25 vùng. Địa lý Peru biến đổi từ các đồng bằng khô hạn ở vùng duyên hải Thái Bình Dương đến các đỉnh của dãy Andes và các khu rừng nhiệt đới ở bồn địa Amazon. Peru là một quốc gia đang phát triển, có chỉ số phát triển con người ở mức cao và mức nghèo là khoảng 25,8%. Các hoạt động kinh tế chính của quốc gia gồm có khai mỏ, chế tạo, nông nghiệp và ngư nghiệp.

Peru là quốc gia đa dân tộc, với dân số ước tính là 30,4 triệu, thành phần dân tộc bao gồm người da đỏ, người gốc Âu, người gốc Phi và người gốc Á. Ngôn ngữ chính được nói là tiếng Tây Ban Nha, song một lượng đáng kể người Peru nói tiếng Quechua hay các ngôn ngữ bản địa khác. Sự kết hợp của các truyền thống văn hóa khiến cho Peru có sự đa dạng lớn trên các lĩnh vực như nghệ thuật, ẩm thực, văn chương, và âm nhạc.

Sóc Andes

Sóc Andes, tên khoa học Sciurus pucheranii, là một loài động vật có vú trong họ Sóc, bộ Gặm nhấm. Loài này được Fitzinger mô tả năm 1867. Chúng là loài đặc hữu của Colombia.

Taruca

Hippocamelus antisensis là một loài động vật có vú trong họ Hươu nai, bộ Guốc chẵn. Loài này được d'Orbigny mô tả năm 1834.

Thần ưng Andes

Thần ưng Andes hay Kền kền khoang cổ (danh pháp hai phần: Vultur gryphus) là một loài chim thuộc Họ Kền kền Tân thế giới. Loài này phân bố ở Nam Mỹ trong dãy Andes, bao gồm các dãy núi Santa Marta. Ở phía Bắc, phạm vi của nó bắt đầu ở Venezuela và Colombia, nơi mà nó là vô cùng hiếm hoi, sau đó tiếp tục về phía nam dọc theo dãy núi Andes ở Ecuador, Peru, và Chile, thông qua Bolivia và phía tây Argentina Tierra del Fuego. Đầu thế kỷ 19, thần ưng Andes sinh sản từ miền tây Venezuela đến Tierra del Fuego, dọc theo toàn bộ chuỗi của dãy Andes, nhưng phạm vi của nó đã bị giảm đáng kể do hoạt động của con người. Môi trường sống của nó chủ yếu bao gồm đồng cỏ mở và núi cao các khu vực lên đến 5.000 m (16.000 foot) trên mực nước biển. Nó thích các khu vực tương đối mở, không có rừng mà cho phép nó phát hiện ra xác chết động vật từ không khí, chẳng hạn như Páramo hoặc đá, khu vực miền núi nói chung. Phạm vi phân bố vùng đất thấp ở phía đông Bolivia và tây nam Brazil, xuống đến các khu vực sa mạc vùng đất thấp ở Chile và Peru, và được tìm thấy trên toàn miền Nam rừng sối rừng phía nam ở Patagonia.

Tolima

Tolima (phát âm tiếng Tây Ban Nha: [toˈlima]) là môt trong 32 tỉnh của Colombia, tọa lạc ở khu vực Andes, miền trung tây của đất nước. Tỉnh giáp với Caldas ở phía tây bắc; Cundinamarca phía đông; Huila phía nam; Cauca, Valle del Cauca, Quindío và Risaralda ở phía tây. Tolima có diện tích 23.562 km², và thủ phủ là Ibagué. Tỉnh Tolima được tạo lập năm 1861 từ một phần của Cundinamarca.

Tropiduridae

Tropiduridae là một họ thằn lằn bản địa Nam Mỹ, bao gồm cả các đảo Trinidad và Galápagos. Nói chung được biết đến như là thằn lằn đất nhiệt đới Tân thế giới, do phần lớn các loài là thằn lằn sống trên mặt đất ở vùng nhiệt đới Nam Mỹ, mặc dù một vài loài đã thích nghi với các khu vực có khí hậu tương đối lạnh, như trong gùng miền núi thuộc dãy núi Andes cũng như Tierra del Fuego. Một số loài trong họ này là bò sát đẻ con (thai sinh).

Vườn quốc gia Villarrica

Vườn quốc gia Villarrica là một vườn quốc gia nằm ở dãy núi Andes, thuộc các vùng Araucanía và Los Ríos, Chile. Trung tâm của vườn quốc gia là ba ngọn núi lửa nằm ngang kéo dài đến dãy Andes là Villarrica, Quetrupillán, và Lanín. Các ngọn núi khác trong vườn quốc gia này còn có núi lửa Quinquilil (còn được gọi là Colmillo del Diablo, cao 2.050 mét), và Cerro Las Peinetas, nằm ​​trên biên giới giữa Argentina và Chile. Địa hình vườn quốc gia dao động từ 600 - 3.776 mét (1.969 - 12.388 ft) với điểm cao nhất là tại đỉnh Lanín.Việc phân chia đường phân thủy giữa lưu vực sông Toltén và sông Valdivia chạy qua vườn quốc gia tạo thành ranh giới giữa Cautín với Valdivia.Vườn quốc gia là một phần của Khu dự trữ sinh quyển Rừng mưa ôn đới Nam Andes (Bosques Templados Lluviosos de los Andes Australes).

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.