Ai Cập thuộc Hy Lạp


Thời kỳ Ai Cập thuộc Hy Lạp bắt đầu với cuộc chinh phục của Alexandros Đại Đế năm 332 TCN. Mặc dù Alexandros là vua xứ Macedonia, nhưng những năm ông cai trị có thể coi là cuộc cai trị của người Hy Lạp vì lẽ: Người Macedonia (cổ đại) căn bản thuộc tộc Hy Lạp. Tiếng họ nói khoảng 90% là tiếng Hy Lạp; Alexandros Đại Đế mang đến Ai Cập văn hóa Hy Lạp với các quan lại đa số là người Hy Lạp.

Sau khi Alexandros qua đời năm 323 TCN, đế quốc của ông tan vỡ. Đất Ai Cập về tay tướng Ptolemaios. Tướng này trở thành vua Ptolemaios I Soter và khởi đầu nhà Ptolemaios, một triều đại tồn tại gần 300 năm trước khi kết thúc với vị nữ hoàng nổi tiếng Kleopatra VII.

Giai đoạn (332 TCN - 30 TCN) trong lịch sử Ai Cập cũng được chia như sau: 1) Thời Ai Cập thuộc Macedonia (332 TCN - 305 TCN) vì cho đến năm 305 TCN tướng Ptolemaios chưa xưng vương mà vẫn cai trị nhân danh các vua nối nghiệp Alexandros Đại đế. 2) Thời "Ai Cập Ptolemaios" (305 TCN - 30 TCN) với khuynh hướng coi nhà Ptolemaios như một triều đại địa phương. Các vua nhà Ptolemaios cũng xưng là pharaon như vua bản xứ để giảm bớt tinh thần bài ngoại của người gốc Ai Cập.

Tuy nhiên, toàn thể giai đoạn (332 TCN - 30 TCN) có thể xem là thời Ai Cập lệ thuộc Hy Lạp vì các lý do sau: 1) Các vua khởi đầu (Alexandros Đại đế và Ptolemaios I Soter) đều sinh trưởng ở những vùng đất thuộc văn minh Hy Lạp, và họ thấm nhuần văn hóa Hy Lạp. 2) Chính quyền được dựng lên bởi một đoàn quân căn bản là người tộc Hy Lạp. 3) Trong thời kỳ này Ai Cập bị Hy Lạp hóa khá nhiều.

Πτολεμαϊκὴ βασιλεία
Ptolemaïkḕ Basileía

Ai Cập thuộc Hy Lạp
305 TCN–30 TCN
Đại bàng của Thần Zeus[1] Ai Cập thuộc Hy Lạp
Đại bàng của Thần Zeus[1]
Ai Cập thuộc Hy Lạp vào năm 300 trước Công Nguyên (màu xanh)
Ai Cập thuộc Hy Lạp vào năm 300 trước Công Nguyên (màu xanh)
Thủ đôAlexandria
Ngôn ngữTiếng Hy Lạp, Tiếng Ai Cập, Tiếng Berber
Tôn giáo
Tôn sùng Serapis[2]
Chính quyềnChế độ quân chủ
Pharaoh 
• 305–283 TCN
Ptolemy I Soter (đầu tiên)
• 51–30 TCN
Cleopatra VII (cuối cùng)
Thời kỳ lịch sửThời cổ đại
• Thành lập
305 TCN
• Bãi bỏ
30 TCN
Tiền tệDrachma
Tiền thân
Kế tục
Vương quốc Macedonia
Late Period of ancient Egypt
Ai Cập thuộc La Mã
Hiện nay là một phần của Cộng hòa Síp
 Ai Cập
 Libya
 Thổ Nhĩ Kỳ
 Israel
 Palestine
 Li Băng
 Syria
 Jordan

Các nhân vật và thời kỳ

Alexandros Đại đế (332 TCN - 323 TCN)

AlexanderTheGreat Bust
Tượng Alexandros Đại đế ở Bảo tàng Anh Quốc, Luân Đôn.

Vào khoảng năm 500 trước Công nguyên, người Hy Lạp chia thành nhiều vương quốc và thành bang nhỏ sinh sống tập trung ở bán đảo Thổ Nhĩ Kỳ và bán đảo Hy Lạp. Lúc ấy đế quốc Ba Tư đang rất hùng mạnh, nên nhiều lần tiến đánh họ. Một số thành bang ở bán đảo Hy Lạp như Athena, Sparta, đã đoàn kết và đánh lui được quân Ba Tư một cách vẻ vang, nhưng ở bán đảo Thổ Nhĩ Kỳ và nhiều nơi khác thuộc châu Âu thì họ bị người Ba Tư đô hộ. Qua mấy thế hệ, người Hy Lạp ngày càng nuôi chí đánh chiếm lại Ba Tư để phục thù.

Dưới thời vua Philippos II (382 TCN - 336 TCN), cha của Alexandros Đại đế, xứ Macedonia ngày càng hùng mạnh. Nhiều nước tộc Hy Lạp mới tôn Macedonia làm minh chủ, thảo kế hoạch liên quân Macedonia - Hy Lạp đi xâm lăng Ba Tư. Philipos II thấy mình chưa đủ mạnh, nên có ý chần chờ. Đến đời Alexandros Đại đế thì mới khởi binh.

Alexandros Đại đế (356 TCN - 323 TCN), đã chinh phạt đế quốc Ba Tư, và đánh bại vua Darius III tại trận Issus năm 333 TCN và vào đến Ai Cập năm 332 TCN. Lúc bấy giờ quan thống đốc ('satrap') Ai Cập là Mazaces mở rộng cửa giao Ai Cập cho Alexandros. Alexandros không phải đánh trận nào, lại còn được Mazaces đánh dùm một đoàn quân đánh thuê người Hy Lạp đang phục vụ đế quốc Ba Tư.

Dân chúng Ai Cập vốn ghét người Ba Tư đã ngạo mạn khinh dễ tông miếu, thần linh xứ họ, nên tiếp đón Alexandros nồng nhiệt. Vị vua 24 tuổi này biết khôn khéo tránh điều lầm lỗi của người Ba Tư, đã vào đền Ptah tế lễ và lên ngôi 'pharaon'. Ông đi hành hương ở ốc đảo Siwa, và tại đây được đồng cốt ứng nói ông là con của thần Amon-Ra [3]. Tên tiếng Hy Lạp của ông vốn là "Alexandros", ông được gọi bởi dân Ai Cập là 'pharaoh' "Alexandres".

Năm 331 TCN, ông ra lệnh xây hải cảng Alexandria, với ý định đặt thành phố này làm thủ đô. Rồi ông rời Ai Cập để tiếp tục cuộc chinh phạt. Những năm kế tiếp, ông chỉ thực sự đóng đô tại các thành phố Susa, Ecbatane và BabylonIranIraq.

Alexandros Đại đế đã chiếm được trọn đế quốc Ba Tư, nhưng vào năm 323 TCN, ông mất khi tuổi mới 33 tại Babylon. Vài tháng trước khi mất, ông tập trung lực lượng để chuẩn bị mở rộng thêm bờ cõi. Quân sĩ của ông đã quá chán vào sinh ra tử để phục vụ giấc mộng bá chủ hoàn cầu của ông, nên đã nổi loạn. Trong cuộc loạn đó, họ đã hô những khẩu hiệu như:

"Ông muốn chinh phục thêm thì cứ việc! Nhưng khỏi kêu bọn tôi! Chỉ mình ông và cha ông là thần Amon cũng đủ!".[4]

Điều này chứng tỏ rằng Alexandros Đại đế dù xa Ai Cập lâu ngày, nhưng vẫn thường xuyên nói mình là con của thần Amon xứ Ai Cập.

Cleomenes của Naucratis (331 TCN - 323 TCN)

Khi rời Ai Cập, vị vua trẻ đã giao vùng Cyrenaica nay thuộc đông bộ Libya cho Appollonios cai quản. Đất Ai Cập được chia làm ba phần, hai phần trong nội địa giao cho hai người Ai Cập cầm quyền, còn vùng châu thổ sông Nile và duyên hải giao cho các tướng Peucestas, Balacros, Pantaleon, Lycidas và đô đốc Polemon, cộng tác với quan "nomarch" lo việc thu thuế là Cleomenes. Dần dần, tất cả quyền chính ở Ai Cập đều vào tay Cleomenes. Để phân biệt với những người trùng tên, người ta gọi ông là "Cleomenes của Naucratis" theo cách thông dụng xưa ở Hy Lạp. Naucratis là tên thành phố ông cư ngụ.

Cleomenes là người tham lam. Có lần ông quỵt không trả một tháng tiền lương của lính. Ông đầu cơ tích trữ, chờ lúc thất mùa (năm 329 TCN) thì bán lúa mì giá thật cao, lại tăng thuế xuất khẩu thực phẩm đi Hy Lạp. Ông cũng đánh thuế rất cao các loài thú mà tín ngưỡng cổ Ai Cập coi là "linh vật" nên các tu sĩ Ai Cập oán giận lắm. Nhiều người Ai Cập gởi đơn khiếu nại đến Alexandros Đại đế. Alexandros cho Cleomenes chuộc tội bằng cách tiếp tục xây thành Alexandria và xây đền thờ thần Hephestion.

Thành phố Alexandria mới xây, thiếu người ở. Cleomenes đánh thuế thật cao dân chúng thành Canopus[5] gần đó. Ai không nộp thuế nổi phải di cư sang Alexandria.

Thống đốc Ptolemaios và chiến tranh Diadochi (323 TCN - 305 TCN)

Alexandros Đại đế qua đời vào tháng 6 năm 323 TCN. Các tướng lãnh và đại thần hội nghị ở Babylon, tôn người anh khác mẹ của Alexandros là Philipos III (359 TCN - 317 TCN) - lớn hơn Alexandros 3 tuổi - nối ngôi. Philipos III trí khôn vốn kém phát triển từ thuở bé, nên chỉ làm vua lấy vì. Quyền nhiếp chính ở tay tướng Perdikkas. Hội nghị cũng quyết định sẽ tôn một đứa con còn là bào thai - của một hoàng phi người Hy Lạp - của Alexandros Đại đế khi nào sinh là Alexandros IV (323 TCN - 308 TCN) lên ngôi.

Hội nghị Babylon cũng bổ nhiệm một số thống đốc tỉnh, vẫn gọi là chức satrap theo hệ thống hành chính Ba Tư. Đất Ai Cập được giao cho tướng Ptolemaios, một trong 7 vị cận thần của Alexandros Đại đế. Việc làm quan trọng đầu tiên khi Ptolemaios đặt chân vào Ai Cập vào cuối năm 323 TCN là ông cho xử án và tử hình Cleomenes, người phó thống đốc của mình. Cleomenes chết, Ptolemaios vừa loại trừ được một kình địch, vừa được lòng dân và quân sĩ đất Ai Cập.

Việc làm quan trọng thứ nhì của Ptolemaios là chiếm vùng Cyrenaica ở đông bộ Libya. Việc này tuy nằm trong kế hoạch đã được các tướng bàn thảo tại Babylon, nhưng có lẽ ông đã thực hiện và thành công quá sớm, làm chấn động các tướng khác, nhất là quan nhiếp chính Perdikkas, khiến loạt chiến tranh Diadochi (322 TCN - 301 TCN) đã bùng nổ. Lần đầu tiên trong lịch sử, một cuộc chiến đã liên can đến nhiều vùng của cả ba châu Á, Âu, và Phi.

Được Olympias, mẹ của Alexandros Đại đế, mời về Macedonia để loại trừ quan giám quốc Antipatros, tướng Perdikkas thừa dịp về ngay để tiến hành thêm mưu định của ông: 1) Cưới Kleopatra của Macedonia (khoảng 356 TCN - 308 TCN), chị/em gái của Alexandros Đại đế. 2) Tổ chức đám tang Alexandros tại quê nhà, và, lên ngôi vua. Không may cho Perdikkas, nhiều việc xảy ra ngoài sự tiên liệu, ông ứng biến vụng về mà độc đoán, làm mất lòng dân, và mất lòng công chúa Kleopatra, khiến bà [6] nhất quyết không ưng ông. Còn linh cữu của Alexandros Đại đế về đến Syria thì gặp Ptolemaios đem đại quân đến rước, phải đổi hướng đi Ai Cập. Ptolemaios cho tạm táng Alexandros Đại đế tại Memphis, trong khi cho xây lăng quy mô ở Alexandria.

Perdikkas giận Ptolemaios đoạt linh cữu, đem binh thủy bộ đánh Ai Cập năm 321 TCN. Quân Perdikkas không lấy nổi thành Peluse, thành "Bức Tường Lạc-Đà" và cũng không qua nổi sông Nile. Perdikkas hống hách, bị giết trong lều bởi hai tướng theo tùng chinh là Peithon và Seleukos.

Diadochen1
  Vương quốc của Ptolemaios
Các vương quốc diadochi khác:
  Vương quốc của Kassandros
  Vương quốc của Lysimachos
  Vương quốc của Seleukos
  Ipiros
Các lãnh thổ khác:
  La Mã
  Các thuộc địa của tộc Hy Lạp

Lãnh thổ của tướng Ptolemaios rộng lớn không thua lãnh thổ của một vài pharaon vĩ đại nhất, với miền đông Libya, Palestine, Syria, nhiều vùng đất trên bán đảo Thổ Nhĩ Kỳ, đảo Kypros và nhiều đảo ở biển Aegean. Trong chiến tranh Diadochi (322 TCN - 301 TCN) và cuộc chiến không tên sau đó, ông đã được và mất nhiều vùng, nhưng Ai Cập thì luôn giữ được.

Năm 308 TCN, có lẽ với ý định dốc toàn lực chiếm Hy Lạp và Macedonia, tướng Ptolemaios đã bỏ Alexandria mà dời triều đình và bộ tham mưu sang đảo Cos. Năm 305 TCN, hải quân ông bị hải quân của tướng Demetrios đánh bại tại Salamis ở Cyprus [7] khiến ông bị mất thế bá chủ trên biển ở miền đông Địa Trung Hải. Trọng tâm của ông lại được dời về Ai Cập.

Pharaon Ptolemaios I Soter (305 TCN - 282 TCN)

Ptolemy I Soter Louvre Ma849
Tượng Ptolemaios Soter ở viện bảo tàng Louvre, Pháp.

Ptolemaios, cũng như các "sứ quân" diadochi đều muốn lợi dụng danh nghĩa của gia đình Alexandros Đại đế để thống nhất đế quốc. Nhưng từng người một trong gia đình này đều gặp phải một chung cuộc không tốt do cuộc chiến tranh quyền này. Năm 317 TCN, Olympias đánh thắng con ghẻ là vua Philipos III[8], rồi cho lính giết vua, khi đó Philipos mới 42 tuổi. Sau đó, Olympias ép Eurydice, hoàng hậu của Philipos III phải tự tử. Công chúa Kleoptatra lần lượt được hỏi cưới bởi các "sứ quân" Kassandros, Lysimachos, Antigonos nhưng bà không ưng. Cuối cùng bà ưng tướng Ptolemaios nhưng bị tướng Antigonos giết năm 308 TCN trước khi gặp được Ptolemaios để cử hành hôn lễ. Roxana - vợ Alexandros Đại đế - và tự quân Alexandros IV thì bị tướng Kassandros cho người giết chết cũng năm 308 TCN (có tài liệu cho là 311, 310 hoặc 309 TCN). Heracles, con tư sinh của Alexandros Đại đế và tiểu thơ Barsine, con gái quan thống đốc satrap tỉnh Phrygia được quan nhiếp chính Polyperchon rước toan tôn làm vua, nhưng tướng Kassandros mua chuộc được Polyperchon, khiến Polyperchon giết cả mẹ con Barsine và Heracles năm 308 TCN.

Năm 306 TCN, tướng Antigonos xưng basileos (vua), khiến các tướng khác lần lượt làm theo. Ptolemaios cũng xưng pharaon năm sau (305 TCN). Năm đó, ông đem quân đến đảo Ródos. Ở đó, họ gọi ông là "cứu tinh", tiếng Hy Lạp gọi là "Soter". Vì vậy, ông được gọi là Ptolemaios Soter từ đó. Cùng năm đó, Kassandros xưng basileos ở Macedonia, và Seleukos xưng basileos ở các vùng Syria, Iraq, Iraq, Afghanistan và phụ cận.

Map Diadochs-fr
Vương quốc của họ Ptolemaios và các lân bang năm 301 TCN.

Ptolemaios I Soter, ngoài công trình khởi nghiệp, cũng là vị vua vĩ đại nhất của nhà Ptolemaios, với những xây dựng của ông. Vào khoảng năm 297 TCN, ông đã cho khởi xây ngọn hải đăng Alexandria, kỳ quan thứ bảy của thế giới. Khoảng năm 290 TCN, ông cho xây "Museion", trong đó có một viện đại học, một viện hàn lâm và thư viện Alexandria với khoảng 400.000 quyển sách vào lúc bắt đầu hoạt động.

Năm 285 TCN, Ptolemaios I Soter lập con trai của quý phi Berenice IPtolemaios II Philadelphos làm vua chung với ông. Hai cha con cùng trị vì đến năm 283 TCN thì Ptolemaios I Soter qua đời, hưởng thọ 84 tuổi.

Ptolemaios Keraunos

Ptolemaios Keraunos, con trai của nguyên phi Eurydice, không được truyền ngôi, nên oán giận, chạy sang vương quốc Seleukos ở Á Châu nhờ giúp đỡ. Thời cuộc đưa đẩy, ông được nối ngôi cậu là Kassandros làm vua Macedonia năm 281 TCN. Được làm vua rồi thì lòng tự ái của ông thỏa mãn, nên ông không đánh Ai Cập, mà lại hoà thuận với em trai là vua Ptolemaios II Philadelphos của Ai Cập.

Pharaon Ptolemaios II Philadelphos (285 TCN - 246 TCN)

Ptolemaios II là vua đầu tiên của nhà Ptolemaios được các giáo sĩ Ai Cập làm lễ tôn làm pharaon. Ông lại được lòng người Ai Cập hơn nữa khi ông noi theo tích thần vương Osiris kết duyên với em gái là thần Isis - cưới chị là Arsinoe Philadelphos và cả hai cùng làm "con thần" ngự trị xứ Ai Cập. Khi mới lên ngôi, ông cất quân đánh Vương quốc Meroë và chiếm được vùng Hạ Nubia[9].

Người hoàng hậu đầu tiên của ông là Arsinoe I, con gái vua Lysimachos xứ Thrace, bị ông truất phế, để tấn phong Arsinoe II là chị cùng cha cùng mẹ với ông. Cổ tục Hy Lạp cấm điều này, mà chỉ cho phép anh hoặc chị em cùng cha khác mẹ lấy nhau. Người Macedonia và Hy Lạp xem điều này là đặc biệt, nên đặt cho cả ông lẫn hoàng hậu Arsinoe II ngoại hiệu "Philadelphos", có nghĩa là "người lấy anh/em trai" và "người lấy chị/em gái"[10]. Từ đấy trở đi, việc anh hoặc chị em trong gia đình hoàng tộc lấy nhau - theo tục lệ Ai Cập - và cùng trị nước trở thành thông lệ trong triều đại Ptolemaios.

Arsinoe II là người có tiếng tàn ác và thích mở rộng lãnh thổ. Bà lớn hơn vua Ptolemaios II đến 7 tuổi, nhưng vì say mê bà, vua Ptolemaios II đã chăm lo thôn tính các lân bang. Ông chiếm lại được nhiều vùng đất mà tiên vương Ptolemaios I Soter đã mất vào giai đoạn chiến tranh Diadochi lần thứ tư (308 TCN - 301 TCN) và đô hộ thêm nhiều vùng đất khác. Ông giành thắng lợi mau lẹ trong cuộc chiến tranh Kế vị Syria (280 TCN - 279 TCN) chống vua Antiochos I Soter nhà Seleukos ở Tây Á[11]. Sau đó, trong cuộc chiến tranh Syria lần thứ nhất (274 TCN - 271 TCN) chống nhà Seleukos, ông lại toàn thắng và đánh lui cuộc xâm lược của vua Magas vùng Cyrenaica - đồng minh của Antiochos I[12]. Nhà thơ Theokritos, trong tác phẩm "Tuyên dương Ptolemaios", đã liệt kê các sắc dân trong vương quốc của ông: người Ethiopia da đen, người quần đảo Cyclades ngoài khơi Hy Lạp, người Ả Rập (ở bán đảo Sinai và các vùng lân cận), người Cyrenaica, nhiều sắc dân ở Tiểu Á.

Trong cuộc chiến tranh Syria lần thứ hai (260 TCN - 253 TCN), hải quân ông bị hải quân vua Antigonos II Gonatas xứ Macedonia đánh bại ngoài đảo Cos.[13] Tuy vậy, Ai Cập vẫn là cường quốc hải quân mạnh nhất trên biển Aegean và Đông Địa Trung Hải.[14] Sau những thất bại ngoài khơi Tiểu Á,[15] Ông ký hoà ước với vương quốc Seleukos, điều khoản như sau: ông gả con gái là Berenice, con của hoàng hậu Arsinoe I cho vua nhà Seleukos là Antiochos II Soter, với một gia tài khổng lồ làm của hồi môn. Ngược lại, vua Antiokhos II phải từ hôn và truất phế hoàng hậu Laodice I, và phải lập con tương lai của công chúa Berenice làm đông cung thái tử.

Sự xa hoa của triều đình Alexandria đạt đến cao điểm vào thời ông. Vài tài liệu như "Bài thơ dã tình (Idylle) thứ XV" của Theokritos kể lại những buổi lễ hội rước thần thật linh đình[16].

Pharaon Ptolemaios III Euergetes (246 TCN - 222 TCN)

Ngoại hiệu Euergetes tiếng Hy Lạp có nghĩa là "hoà dịu", phản ánh bản tính của vua Ptolemaios III. Ông là người chuộng thi văn, khoa học, là môn đồ và bạn của những danh nhân như Apollonios của Rhodes, Eratosthenes, đều là viện trưởng thư viện Alexandria. Nhưng thời cuộc đã khiến ông trở thành vị pharaon có lãnh thổ rộng lớn nhất từ khi Ai Cập có lịch sử.

Ông lên ngôi cùng năm với cái chết của vua Antiokhos II nhà Seleukos. Hoàng hậu Laodice, bị truất phế, lập mưu đầu độc được Antiochos II, và lập con của bà là Seleukos II lên ngôi. Ptolemaios III tuyên chiến ngay với Seleukos II, và đem quân đi cứu người chị là Berenice. Cuộc chiến tranh Syria lần thứ ba (246 TCN - 241 TCN) bắt đầu. Dù chiếm được Seleucia và Antioch,[17] Ptolemaios III không cứu được mẹ con Berenice, nhưng nhờ Ptolemaios III dùng kế giả danh Berenice còn sống, nên ông không phải đánh trận nào mà chiếm được từ dãy núi Taurus, qua các vùng Babylonia, Susiana, Media,… cho đến biên giới Ấn ĐộTrung Á[18].

Những vùng đất mênh mông này ông chỉ giữ được trong một thời gian phù du ngắn ngủi. Năm 245 trước Công nguyên, quân Seleukos vượt dãy Taurus ở phía Nam, buộc quân Ptolemaios phải triệt thoái. Vua Antiogonos II Gonatas xứ Macedonia cũng tấn công các lãnh thổ của Ptolemaios III ven biển Aegean và đánh bại hải quân ông ở quần đảo Cyclades năm 245 TCN[17], khiến ông phải bỏ mà rút về, chỉ giữ lại hai thành SeleuciaAntioch ở Syria. Năm 243 trước Công nguyên, quân Ptolemaios đánh bại cuộc Nam chinh của Seleukos II[17]. Và, hải quân của ông vẫn kiểm soát biển Aegean.[15]

Pharaon Ptolemaios IV Philopator (222 TCN - 204 TCN)

Với pharaon Ptolemaios IV Philopator, nhà Ptolemaios bước vào một thời kỳ suy vi kéo dài hơn 100 năm. Philopator lên ngôi lúc khoảng 18 tuổi, tin dùng đôi nịnh thần là Agathocles và em gái là Agathoclea. Hai người này là thầy tế của tín ngưỡng thờ thần Dionysos. Pharaon Philopator không mấy quan tâm về việc trị dân, mà chỉ chú trọng về việc tổ chức những cuộc hành lạc tập thể để dâng lên thần Dionysos. Những người Hy Lạp "theo xưa" của thời bấy giờ coi là điều bại hoại phong tục và lấy làm chua xót.

Nghe lời hai nịnh thần, pharaon Philopator đã phạm tội ác vô luân: giết em trai là Magas vì hoàng tử này được lòng quân sĩ, rồi lại giết mẹ là Berenice vì bà bị nghi rằng đã bênh vực hoàng tử Magas[19]. Pharaon Philopator cũng tin dùng một nịnh thần khác là Sosibios, và Sosibios đã bức tử nhiều nhân vật có tăm tiếng ở Alexandria.

Pharaon Philopator cũng cưỡng bách dân chúng thờ thần Dionysos. Ông đã cho xử tử nhiều tín đồ Do Thái giáoAlexandria đã không tuân theo lệnh này.

Năm 221 trước Công nguyên, vua nhà Seleukos ở Tây Á là Antiokhos III xua quân tiến công các lãnh thổ của Ai Cập ở Syria, nhưng phải rút về do có loạn ở chính quốc.[20] Cuộc chiến tranh Syria lần thứ tư (219 TCN - 217 TCN) vãn hồi phần nào sự đoàn kết trong lãnh thổ. Lúc ấy Antiochos III đã chiếm lại thành phố Seleucia (vào tay nhà Ptolemaios năm 245 TCN), và chiếm dần các vùng đất ở Syria, LibanPalestine. Triều đình Alexandria một mặt dùng các cố gắng ngoại giao để làm chậm bước tiến của quân địch, một mặt ngầm tăng cường quân đội, và phá lệ, tuyển mộ rất nhiều quân Ai Cập. Đến năm 217 TCN họ có được một lực lượng đông 77.000 quân để đưa ra trận, trong đó có 20.000 người Ai Cập. Quân của Antiokhos III đông 68.000, với thành phần phức tạp hơn vì đến từ nhiều chủng tộc hơn.

Hai bên gặp nhau tại trận Raphia gần Gaza ngày 22 tháng 6 năm 217 TCN. Pharaon Philopator cầm đầu cánh quân tả, giao chiến với vua Antiokhos III chỉ huy cánh quân hữu của đối phương. Hoàng hậu Arsinoe III, vợ và em gái của pharaon Philopator cưỡi ngựa chiến đấu sát cánh bên chồng, nhưng cả hai không địch nổi Antiokhos III, phải bỏ chạy. Nhờ có tướng chỉ huy cánh hữu là Echecrates khéo tùy cơ ứng biến, quân nhà Ptolemaios chuyển bại thành thắng. Trong 3 tháng kế tiếp, Pharaon Philopator chiếm lại hết các vùng đất ở Palestine, LibanSyria trong tay quân Seleukos, chỉ trừ thành Seleucia.

Trận Raphia cho Antiokhos III những bài học quý giá và chí phấn đấu phục thù, khiến ông trở thành một nhà chinh phục lớn, và được biệt hiệu "Đại đế" (Megas). Những thành công đó đưa ông trở lại đánh Ai Cập trong cuộc chiến tranh Syria lần thứ năm (202 TCN - 195 TCN) sau cái chết của pharaon Philopator. Ngược lại, pharaon Philopator tự mãn, tự đắc, tiếp tục đường lối cũ. Nữ nịnh thần Agathoclea trở thành quý phi của ông. Mưu đồ phế lập nhà Ptolemaios để đưa Agathocles lên thay ngày càng rõ rệt. Pharaon Philopator qua đời năm 204 TCN, lúc tuổi ông mới khoảng 36.

Trận Raphia cũng đem lại nhiều tự tin cho người Ai Cập, đưa đến những cuộc khởi nghĩa lập ra vương triều thứ 35 tiếp theo đó.

Pharaon Ptolemaios V Epiphanes (204 TCN - 180 TCN)

Pharaon Philopator vừa nằm xuống, đôi nịnh thần Agathocles và Agathoclea lập tức ám sát vợ ông là hoàng hậu Arsinoe III, rồi lập con trai ông là Epiphanes, mới 5 tuổi, lên ngôi, và xưng là giám hộ của vị ấu chúa này.

Thị dân Alexandria thấy hoàng hậu Arsinoe III chết một cách mờ ám, nên không phục Agathocles và Agathoclea. Tướng giữ thành Pelusium là Tlepolemes đem binh về Alexandria cứu giá, được dân chúng Alexandria ủng hộ đông đảo, trừ được Agathocles và Agathoclea.

Bị suy yếu bởi cuộc chiến giành độc lập của người Ai Cập, và nhiều vấn đề khác, vương quốc Ptolemaios liên tiếp mất nhiều lãnh thổ vào tay các lân bang. Năm 200 TCN, vua Philipos V của Macedonia chiếm của nhà Ptolemaios đất Thrace (nay thuộc Bulgaria và Hy Lạp) và đất Hellespont. Vua Antiokhos III xứ Syria thì chiếm đất Coele-Syria (Syria rỗng), Palestine, và các thuộc địa ở Tiểu Á. Nhà Ptolemaios chỉ còn lại đất Cyrene (ở Libya) và đảo Kypros bên ngoài Ai Cập.

Antiokhos III, kẻ đã bại trận Raphia năm xưa, đã bắt đầu tấn công vương quốc Ptolemaios từ năm 202 TCN, khơi cuộc chiến tranh Syria lần thứ năm (202 TCN - 195 TCN). Ông đại phá quân nhà Ptolemaios bên sông Jordan và chiếm hải cảng Sidon. Nhà Ptolemaios cầu cứu ở một thế lực đang lớn mạnh ở phương tây: Cộng hòa La Mã. La Mã sai sứ giả yêu cầu Antiokhos III và Philipos V chấm dứt xâm lăng vương quốc Ptolemaios. Cả hai vua đều từ khước. Năm 197 TCN, La Mã đại phá quân Macedonia của Philipos V tại trận Cynoscephalae, thanh thế lừng lẫy. Nhà Ptolemaios ký hiệp ước liên kết với La Mã, công nhận tự quân Ptolemaios V Epiphanes là con đỡ đầu của nhân dân La Mã.[21] Năm 196 TCN, dưới sự ép buộc của La Mã, Antiokhos III đã hoàn trả tất cả đất đai chiếm được của nhà Ptolemaios.

Năm 195 TCN, cuộc chiến tranh Syria lần thứ năm chấm dứt với một hòa ước và một hôn lễ: Ptolemaios V cưới con gái của Antiokhos III, tấn phong làm hoàng hậu Kleopatra I. Kleopatra I nhậm chức tể tướng năm 187 TCN, và khi chồng chết năm 180 TCN thì bà cầm quyền trị nước thay con.

Đời Ptolemaios V đánh dấu sự kiện các nước thừa kế Alexandros Đại đế bị La Mã vượt qua mặt về quân lực, riêng vương quốc Ptolemaios rơi vào sự thần phục La Mã, và từ đấy mãi thua kém La Mã cho đến ngày bị thế lực này thôn tính.

Từ Ptolemaios VI đến Ptolemaios XII (180 TCN - 51 TCN)

Ptolemaios VI Philometor lên ngôi năm 180 TCN lúc 6 tuổi, cùng trị vì với mẹ là Kleopatra I. Nhưng chỉ được 4 năm thì Kleopatra I qua đời, và từ đó sự giao hảo với vương quốc Seleukos xấu dần đi. Năm 170 TCN, vua nhà Seleukos là Antiokhos IV xâm lăng Ai Cập, thành ra cuộc chiến tranh Syria lần thứ sáu (170 TCN - 168 TCN). Antiokhos IV chiếm được thành Pelusium và bắt được Ptolemaios VI Philometor. Nhưng triều đình Alexandria tôn em của vua này là Ptolemaios VIII Physcon lên ngôi, rồi phòng thủ thành trì rất nghiêm nhặt. Thấy không chiếm nổi Alexandria, Antiokhos IV thả Ptolemaios VI Philometor ra cho hai anh em tranh ngôi đánh nhau[22]. Hai anh em sớm biết hòa giải, đoàn kết chống lại một cuộc khởi nghĩa người Ai Cập. Thấy Ai Cập còn đang yếu, năm 168 TCN Antiokhos IV lập tức đem quân trở lại và bao vây thành Alexandria. Một hạm đội Seleukos tái chiếm đảo Cyprus[23]. Nhưng La Mã, với một chiến thắng lừng lẫy mới ở trận Pydna, đã ép buộc được Antiokhos IV rút về.

Hai anh em Ptolemaios VI và VIII tiếp tục cai trị chung cho đến năm 164 TCN thì Ptolemaios VIII Physcon đuổi anh, giữ ngôi một mình. Ptolemaios VI chạy sang cầu cứu La Mã. Người La Mã đưa Ptolemaios VI về nước, nhưng lập Ptolemaios VIII Physcon làm vua đất Cyrenaica (bắc bộ Libya). Và như thế bắt đầu một khoảng thời gian dài, mà các vua và nữ hoàng thường cai trị chung, thường tranh ngôi và thời kỳ trị vì của họ thường hay đứt quảng vì bị mất ngôi. Những người kém thế thường cầu cứu bên La Mã, và người La Mã cũng tiện đấy thỉnh thoảng gây tạo chia rẽ trong gia đình Ptolemaios[24]. Cũng có lần người La Mã ép buộc nữ hoàng Kleopatra II phải hòa giải với Ptolemaios VIII Physcon vì họ cần có một thế lực đối trọng với nhà Seleukos đang mạnh trở lại[25]. Lúc ấy là vào năm 145 TCN, lúc Ptolemaios VI mới chiếm lại được miền nam Syria và tử trận ở đấy.

Đối với dân chúng trong lãnh thổ, từ nam Syria đến bắc Libya, thời kỳ có đầy những cuộc tranh ngôi này là những cuộc nội chiến, những vụ tàn sát giữa các phe cánh tranh quyền. Tình trạng bất an này cũng đưa mức đói khổ, trộm cắp, cướp của, giết người lên cao.

Ptolemaios VIII Physcon qua đời năm 116 TCN. Hai con của ông ta chia đất: Ptolemaios IX Soter II nối ngôi ở Alexandria, Ptolemaios Apion thừa hưởng vương quốc Cyrenaica ở bắc bộ Libya. Hai mươi năm sau, Ptolemaios Apion từ trần, di chúc để lại vương quốc Cyrenaica cho nước cộng hòa La Mã.

Năm 64 TCN tướng La Mã là Pompey diệt nhà Seleukos, biến đất Syria thành tỉnh của La Mã. Năm 58 TCN, La Mã thôn tính đảo Kypros, một thuộc quốc của nhà Ptolemaios, lúc ấy đang do em của Ptolemaios XII Auletes cai trị. Ptolemaios XII Auletes bị lật đổ kế đó. Người La Mã đưa ông ta về nước năm 55 TCN và để quân lại bảo vệ ông ta đến lúc ông ta qua đời năm 51 TCN.

Nữ hoàng Kleopatra VII Philopator (51 TCN - 30 TCN)

Mùa xuân năm 51 TCN, vua Ptolemaios Auletes mất, con gái ông là Kleopatra cùng em trai là Ptolemaios XIII lên ngôi.[26]

Ít lâu sau, Kleopatra bỏ tên của vua em ra khỏi mọi giấy tờ chính thức, và tiền xu chỉ in hình bà. Năm 48 TCN, một nhóm người do Theodotos, hoạn quan Pothinos và tướng Achillas[26] cầm đầu, lật đổ bà. Họ tin rằng vua nhỏ Ptolemaios XIII rất dễ bị lộng quyền, và thành lập hội đồng chấp chính. Kleopatra tìm cách làm loạn ở quan Pelusium nhưng nhanh chóng bị buộc rời Ai Cập, cùng với người em Arsinoe IV.

Trong lúc này, nội chiến bùng nổ ở cộng hòa La Mã. Khi tướng Pompey bị Julius Caesar đánh bại ở Pharsalus vào tháng 8 năm 48 TCN, phải trốn sang Alexandria, và đã bị Ptolemaios XIII ám sát để lấy lòng Caesar. Caesar quá tức giận về sự xảo trá của Ptolemaios, mà xâm chiếm Ai Cập, tự mình làm trọng tài giải quyết tranh chấp giữa Kleopatra và Ptolemaios. Trong một cuộc chiến sau đó, một phần thư viện Alexandria bị cháy. Caesar sát hại Pothinos, Achillas bị Ganymede giết, và Ptolemaios chết đuối khi chạy trốn.[26]

Kleopatra bấy giờ trở thành vua duy nhất của Ai Cập, và cưới người em Ptolemaios XIV.[26] Dù vậy, để cứu vãn ngôi báu bà đã quyến rũ Caesar bằng sắc đẹp và trí thông minh. Mối quan hệ mùa đông 48 - 47 TCN giữa Kleopatra và Caesar có kết quả là một đứa con trai tên Ptolemaios Caesar (tức Caesarion hay "Caesar nhỏ") ra đời. Về sau, Ptolemaios XIV bị Kleopatra ám sát, và Kleopatra lập Ptolemaios XV Caesarion - được phong là "Vua của các vua" - lên đồng trị vì.[26][27]

Năm 44 TCN, Caesar bị ám sát. Năm 41 TCN Kleopatra lại có quan hệ với một danh tướng La Mã khác là Marcus Antonius và có ba đứa con với nhau. Năm 31 TCN, cuộc nội chiến nổ ra giữa Marcus Antonius và cháu của Caesar là Octavian bùng nổ. Năm 31 TCN, quân của Marcus Antonius và Kleopatra bị đánh đại bại trong trận Actium ngoài khơi. Sau đó, Kleopatra về cung điện và dùng một con rắn độc tự sát.[26] Octavian chiếm được Ai Cập, xử tử Caesarion[27] và thời kì Ai Cập thuộc La Mã bắt đầu.

Sự cai trị

Chủng tộc và ngôn ngữ

Người Macedonia nắm giữ quyền chính trị và quân sự cao nhất trong lãnh thổ[28]. Thứ đến là các sắc dân khác thuộc tộc Hy Lạp (Arcadia, Crete, các thành bang Hy Lạp), giữ các chức vụ cao trong chính quyền trung ương và chính quyền địa phương[29]. Người tộc Hy Lạp được miễn làm xâu và miễn đóng thuế thân[30]. Tiếp đến là người các rợ: Thrace, Mysia, Galatia, Lycia, Lybia, người tộc Semites, đặc biệt là người Do Thái có nhiều quân đánh thuê được ưu đãi[31]. Người Ả Rập (thuộc tộc Semites) và người Ba Tư cũng có mặt khá đông đảo. Thấp nhất là người Ai Cập. Trong khi lính của các binh chủng ưu tú người Macedonia mỗi người được cấp 100 aroure[32]. đất, các binh chủng dị tộc mỗi người được từ 25 đến 70 aroure đất, lính thuộc chủng tộc Ai Cập chỉ được mỗi người từ 5 đến 7 aroure đất mà thôi[33].

Ngôn ngữ hành chính trong lãnh thổ là tiếng Hy Lạp. Tiếng Ai Cập được cho phép dùng, nhưng các giấy tờ, văn kiện đều phải được kèm theo với ít nhất là một bản tóm tắt bằng tiếng Hy Lạp[29].

Người Do Thái sinh sống rất đông đảo tại Alexandria. Trên đất Ai Cập, họ nói tiếng Hy Lạp, vì sau một hai đời di cư họ đã quên tiếng nguồn gốc. Kinh sách đạo Do Thái họ chỉ biết qua bản dịch bằng tiếng Hy Lạp[34].

Vua

Các vua nhà Ptolemaios đều xưng là "pharaon" đối với người Ai Cập và xưng là "basileos" (Quốc vương) đối với người tộc Hy Lạp. Hoàng hậu hoặc nữ hoàng xưng là "basilissa" với người tộc Hy Lạp.

Theo tín ngưỡng Ai Cập, "pharaon" phải là con của "pharaon", hoặc là con của thần linh. Họ thường dựng lên những huyền thoại là thần hiện đến ăn nằm với hoàng hậu mẹ, và sau khi hoàng hậu mẹ hạ sinh vị pharaon tương lai thì có sự công nhận đứa bé là "Thánh vương" do chư thần. Người ta tìm thấy một quyển tiểu thuyết tiếng Hy Lạp viết vào thế kỷ III, kể rằng pharaon Nectanebo II của Vương triều thứ 30, sau khi bị quân Ba Tư truất phế và đánh đuổi, đã dùng pháp thuật hiện sang Macedonia, với khuôn mặt của thần Amon, giao hoan với hoàng hậu Olympias để sinh ra vua Alexandros Đại đế.[35] Khi làm lễ đăng quang, các pharaông - quốc vương, nữ hoàng nhà Ptolemaios đều nhận được một "tên cúng", hoặc "linh hiệu", mà họ sẽ được quốc dân thờ cúng ngay trong lúc còn sống. Tên đó luôn được gắn liền với tên thần Alexandres (tên Ai Cập của Alexandros Đại đế), và vài vị thần khác. Các công văn, hợp đồng trong nước phải biên linh hiệu của quốc trưởng đang tại ngôi. Càng về sau, các "linh hiệu" càng dài, nên các chưởng khế viết tắt, ngày nay đọc không hiểu được nữa.[36]

Cung đình

Một số chức trong triều đình và trong cung cấm còn được biết đến ngày nay là [37]:

  • Tể tướng
  • Hypomnématographe lo việc tuyển dụng nhân viên và chép lại những sự kiện đã xảy ra liên quan đến hoàng gia
  • "Dioécète" tương đương với bộ trưởng tài chính, được phụ tá bởi chức "trưởng ty kế toán"
  • Vị trưởng toà của thành phố Alexandria giữ vai trò bộ trưởng tư pháp
  • Thị vệ trưởng
  • Chủ mã quan
  • Ngự thiện
  • Thái y
  • Thái phó

Ngoài ra, quyền thống lĩnh giới tu sĩ và quân đội nằm trong tay quốc vương.

Hành chính

Lãnh thổ Ai Cập được chia làm 3 nome, mỗi nome do một vị nomarch cầm đầu.[38] Vùng châu thổ sông Nile, nơi sông này tẻ ra các nhánh chảy ra bể, là một nome. Hai nome kia là dải đất dài nằm hai bên sông Nile, từ nơi sông tẻ nhánh cho đến biên giới phía nam.

Các thành phố của tộc Hy Lạp như Naucratis, Ptolemais và Alexandria có quy chế riêng và có lẽ không trực thuộc quyền của nomarch. Thành phố lớn của người Ai Cập ở phía nam là Thebes và vùng phụ cận cũng có đơn vị hành chính riêng là Perithebes.

Mỗi nome chia thành nhiều toparchy, do các viên toparch cầm đầu. Đơn vị hành chính nhỏ nhất là làng, do chức comarch cầm đầu.

Những vị nomarch được giúp đỡ bởi chức basilicogrammate (bí thư của quốc vương). Ở cấp huyện và làng có topogrammate (bí thư huyện) và comogrammate (bí thư làng).

Mỗi viên chức thường nghe lệnh cấp trên như nô lệ nghe lệnh chủ, và cư xử như bạo chúa đối với cấp dưới.[39]

Văn minh

Đóng góp lớn nhất của nhà Ptolemaios cho nền văn minh nhân loại là việc sáng lập, phát triển và gìn giữ Museion (được La-tinh hóa và Anh hóa thành Museum) của Alexandria. Chức năng chính của Museum vốn không phải là nơi tàng trữ cổ vật nên gọi là "Viện Bảo Tàng" không hợp lắm. Tên gọi Museion có nghĩa là "Cung điện của 9 vị Muse thần nàng thơ" trong thần thoại Hy Lạp. Trong Museum lúc đầu có một viện đại học, một viện hàn lâm và thư viện Alexandria, nên có lẽ gọi Museum là "Viện Văn Hóa và Nghệ thuật" phù hợp hơn.

Vua Ptolemaios I Soter và các vua kế tiếp vốn trọng sự học và hay chiêu hiền đãi sĩ nên các danh tài bác học người Hy Lạp từ hai châu Âu Á di cư đến Alexandria khá nhiều. Nhà bác học Euclid (325 TCN - 265 TCN), được người Âu Mỹ coi là cha đẻ của môn hình học, sinh quán có lẽ gần thành Athena, đã đến sinh sống ở Alexandria nhiều năm nên sau đó ông được gọi là "Euclid của Alexandria". Ông đã mở một trường dạy toán trong khuôn viên của "Museum" Alexandria. Ông cũng để lại sách về cơ học, quang học và thiên văn học.

Thừa lệnh vua Ptolemaios I Soter, học giả tu sĩ Manetho của Sebennytos đã soạn một bộ lịch sử Ai Cập, nhan đề "Aegyptiaca", gồm 30 quyển, nói về 30 triều đại đã trị vì Ai Cập trước Alexandros Đại đế.

Nhà thơ Apollonius của Ródos, tác giả của thiên anh hùng ca Argonautica, nói về thần thoại chàng Jason và những anh hùng Argonautes đi tìm Bộ Lông Trừu Vàng, được mời làm người viện trưởng đầu tiên của thư viện Alexandria.

Người viện trưởng thứ nhì của thư viện là nhà bác học Eratosthenes của Cyrene, được vua Ptolemaios III Euergetes mời giữ chức năm 236 TCN, kiêm chức thái phó dạy thái tử. Erathostenes đã tiếp nối công trình tìm hiểu lịch sử Ai Cập của Manetho và lập một niên biểu các vua vùng Thebes. Ông cũng soạn một niên biểu lịch sử thế giới kể từ chiến tranh thành Troia trở đi. Ông cũng đã vẽ bản đồ thế giới, nêu khái niệm đường xích đạo, quy định hệ thống kinh tuyếnvĩ tuyến. Ông đã được cho xây một đài thiên văn, được coi là đài thiên văn đầu tiên trên thế giới, có lẽ cũng trong khuôn viên "Museum" Alexandria. Ông đã nghiên cứu hơn 675 ngôi sao, và lập bảng tính các ngày tháng nhật thực và nguyệt thực.

Erathosthenes nhận thấy ở vùng thành Syene (nay là Aswan), vào ngày hạ chí, lúc mặt trời đứng bóng, ánh nắng soi toàn bộ các đáy giếng nước, trong khi tại Alexandria thì ngày đó lúc đó các cây tiêm bi vẫn còn chút bóng ngắn. Qua các kiến thức thiên văn và lượng giác học của ông, và các công trình đo đạc khoảng cách Aswan - Alexandria của một chuyên viên bematist, ông tuyên bố rằng quả đất có hình cầu với chu vi là 252.000 stadion (tức khoảng 39.375 km, con số ước tính ngày nay là 40.075,02 km).

Alexandria một thời vàng son

Eratosthenes
Nhà khoa học Eratosthenes

Vào khoảng năm 230, sau một thế kỷ được các minh quân cai trị, mà không bị chiến tranh tàn phá, dân số Alexandria đã lên đến khoảng 1 triệu người. Đó là thành phố đông dân nhất của thế giới mà người Hy Lạp - La Mã biết đến thời đó.

Đường sá Alexandria rộng và thẳng. Có nhiều tượng đá trắng, tượng Hy Lạp, tiêm bi (obelisk) Ai Cập, nhà hát, trường đua ngựa, vườn hoa, chợ, nhà tắm công cộng, một hội trường forum và một sân vận động lớn.

Khu "vương thành" có nhiều cung điện, có lăng Alexandros Đại đế, lăng mộ các vua Ptolemaios đầu, các văn khố quốc gia, một nhà hát và một giảng đường (amphitheater), nhiều đền thờ nhỏ rất đẹp và một đền lớn thờ thần Poseidon của Hy Lạp.

Bến tàu, gần những toà nhà màu trắng của "Museum", nhìn ra ngọn hải đăng Alexandria, kỳ quan thứ bảy của thế giới, tiếp đón các thuyền buôn đến từ các thành phố người Hy Lạp, người Phoenix ở Liban, đế quốc Carthage ở Bắc Phi và đế quốc đang hưng khởi La Mã. Nếu như dân số và sự giàu có của Alexandria có thể không hơn Pataliputra thủ đô của A-dục vương hay Hàm Dương kinh đô nước Tần, điều không thể tranh cãi được là Alexandria là thành phố hải cảng lớn và thịnh vượng nhất thế giới lúc bấy giờ.

Cuộc tranh đấu giành chủ quyền của người Ai Cập

Cuộc khởi nghĩa đầu tiên

Khi nhà Ptolemaios chuẩn bị đánh trận Raphia năm 217 TCN thì họ đã tuyển rất nhiều quân Ai Cập, lại luyện tập cho họ trận phalanx là chiến pháp lợi hại nhất của Alexandros Đại đế. Theo sử gia Polybius, ngay sau trận đó, người Ai Cập tự tin là đã đủ sức vùng thoát ách đô hộ, và tức thời khởi nghĩa.[40] Không rõ vị thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa này là ai, nhưng nhiều trận đánh khốc liệt đã xảy ra cho đến năm 206 TCN, thời điểm bắt đầu cuộc khởi nghĩa của HugronaphorAnkhmakis.

Cuộc khởi nghĩa ở miền Thượng Ai Cập (205 TCN - 183 TCN)

Năm 205 TCN, Hugronaphor (Harmachis) người Ai Cập phất cờ khởi nghĩa ở miền Thượng Ai Cập. Ông lên ngôi pharaon, và triều đại ông được các sử gia xếp là vương triều thứ 35.

Năm 197 TCN, Hugronaphor mất. Con trai ông (?), Ankhmakis (Chaonnophris) lên thay. Ankhmakis chiếm được thêm nhiều vùng đất, có lúc làm chủ đến 80% lãnh thổ Ai Cập. Nhưng sau đó ông bị quân nhà Ptolemaios đánh bại, phải rút lui về Thebes. Cuối cùng, vua Ankhmakis bị tướng nhà Ptolemaios là Conanus bắt sống.

Vua Ankhmakis bị bắt năm 186 TCN, nhưng một số tướng lãnh còn cầm cự thêm ít lâu. Thành phố Sais ở châu thổ miền bắc chỉ bị nhà Ptolemaios tái chiếm năm 184 TCN hoặc 183 TCN.[41]

Các cuộc khởi nghĩa khác

Giai đoạn chiến tranh giành độc lập 217 - 183 TCN tuy không đạt được kết quả mong muốn, nhưng sự phẫn nộ của người bản xứ cũng khiến nhà Ptolemaios nhượng bộ. Họ cho nhiều người Ai Cập làm quan tại triều đình, hoặc làm tướng ra trận mạc để đàn áp nghĩa quân Ai Cập.[42] Vào thời điểm chiến tranh Syria lần thứ sáu (170 TCN - 168 TCN), một người Ai Cập làm quan tại triều là Dionysios Petoserapis nhân cơ hội hai vua nhà Ptolemaios tranh ngôi, nổi lên tại thủ đô Alexandria, phối hợp với các lực lượng người bản xứ khắp nơi trong nước. Nhưng hai anh em vua nhà Ptolemaios biết đoàn kết đúng lúc, hợp lực đánh bại được Dionysios Petoserapis.

Nhiều người Ai Cập yêu nước chạy sang trú ở xứ Nubia phía nam lập căn cứ quân sự. Vì vậy vua Ptolemaios VI Philometor đem quân sang lập thuộc địa ở xứ này, nhưng không thành công. Người Ai Cập nhiều lần nổi dậy từ miền nam, khu vực thành phố Thebes, chẳng hạn như vào năm 88 TCN, năm 48 TCN và năm 40 TCN, nhưng cũng không thành công.

Chú thích

  1. ^ Buraselis, Stefanou and Thompson ed; The Ptolemies, the Sea and the Nile: Studies in Waterborne Power.
  2. ^ North Africa in the Hellenistic and Roman Periods, 323 BC to AD 305, R.C.C. Law, The Cambridge History of Africa, Vol. 2 ed. J. D. Fage, Roland Anthony Oliver, (Cambridge University Press, 1979), Trang 154.
  3. ^ Peters, F.E. "The Harvest of Hellenism" p. 42
  4. ^ "L'impérialisme macédonien et l'hellénisation de l'Orient" - Pierre Jouguet - trang 68
  5. ^ Tên xưa tiếng Ai Cập là Pikuat, hải cảng lớn nhất của Ai Cập trước khi có Alexandria, ngày nay gọi là Aboukir, nằm cách trung tâm Alexandria 25 km về phía đông. Trận Aboukir năm 1798 là một trận đánh quan trọng trong lịch sử hai nước PhápAnh.
  6. ^ Công chúa Kleopatra bấy giờ là quả phụ của vua Alexandros I của IpirOs, cậu của Alexandros Đại đế.
  7. ^ Phân biệt với trận đánh nổi tiếng Salamis ở Hy Lạp.
  8. ^ Vua Philipos III trí khôn vốn kém phát triển, nên người thực sự cầm quân đối địch với Olympias là hoàng hậu Eurydice.
  9. ^ Toby Wilkinson, The Rise and Fall of Ancient Egypt, trang 476
  10. ^ Người đương thời chỉ đặt ngoại hiệu này cho hoàng hậu Arsinoe. Người đời sau mới áp dụng luôn ngoại liệu này cho Ptolemaios II
  11. ^ First Syrian war
  12. ^ First Syrian war
  13. ^ Philip A. G. Sabin, Hans Van Wees, Michael Whitby, The Cambridge History of Greek and Roman Warfare: Greece, the Hellenistic world and the rise of Rome, trang 434
  14. ^ Frank William Walbank, Polybius, Rome, and the Hellenistic World: Essays and Reflections, trang 114
  15. ^ a ă Gwendolyn Leick, Who's Who in the Ancient Near East, trang 131
  16. ^ "L'impérialisme macédonien et l'hellénisation de l'Orient" - Pierre Jouguet - trang 256.
  17. ^ a ă â Third Syrian war
  18. ^ "L'impérialisme macédonien et l'hellénisation de l'Orient" - Pierre Jouguet - trang 205.
  19. ^ "L'impérialisme macédonien et l'hellénisation de l'Orient" - Pierre Jouguet - trang 219-220.
  20. ^ Four Syrian war
  21. ^ "L'impérialisme macédonien et l'hellénisation de l'Orient" - Pierre Jouguet - trang 239.
  22. ^ "L'impérialisme macédonien et l'hellénisation de l'Orient" - Pierre Jouguet - trang 266.
  23. ^ Sixth Syrian war
  24. ^ "L'impérialisme macédonien et l'hellénisation de l'Orient" - Pierre Jouguet - trang 263.
  25. ^ "L'impérialisme macédonien et l'hellénisation de l'Orient" - Pierre Jouguet - trang 264.
  26. ^ a ă â b c d Egypt: Rulers, Kings and Pharaohs of Ancient Egypt: Cleopatra VII & Ptolemy XIII
  27. ^ a ă Ptolemy V Caesarion
  28. ^ "L'impérialisme macédonien et l'hellénisation de l'Orient" - Pierre Jouguet - trang 414.
  29. ^ a ă "L'impérialisme macédonien et l'hellénisation de l'Orient" - Pierre Jouguet - trang 330.
  30. ^ "L'impérialisme macédonien et l'hellénisation de l'Orient" - Pierre Jouguet - trang 337.
  31. ^ "L'impérialisme macédonien et l'hellénisation de l'Orient" - Pierre Jouguet - trang 331, 414.
  32. ^ Một aroure tương đương với 2746,25 m², theo "L'impérialisme macédonien et l'hellénisation de l'Orient" - Pierre Jouguet - trang 450.
  33. ^ "L'impérialisme macédonien et l'hellénisation de l'Orient" - Pierre Jouguet - trang 334 - 335.
  34. ^ "A History of the Jews" - Solomon Grayzel - trang 56-57.
  35. ^ "L'impérialisme macédonien et l'hellénisation de l'Orient" - Pierre Jouguet - trang 295-296.
  36. ^ "L'impérialisme macédonien et l'hellénisation de l'Orient" - Pierre Jouguet - trang 302-303.
  37. ^ "L'impérialisme macédonien et l'hellénisation de l'Orient" - Pierre Jouguet - trang 306-307.
  38. ^ "L'impérialisme macédonien et l'hellénisation de l'Orient" - Pierre Jouguet - trang 308.
  39. ^ "L'impérialisme macédonien et l'hellénisation de l'Orient" - Pierre Jouguet - trang 311.
  40. ^ "L'impérialisme macédonien et l'hellénisation de l'Orient" - Pierre Jouguet - trang 339.
  41. ^ "L'impérialisme macédonien et l'hellénisation de l'Orient" - Pierre Jouguet - trang 340.
  42. ^ "L'impérialisme macédonien et l'hellénisation de l'Orient" - Pierre Jouguet - trang 346.

Tham khảo

  • A History of the Jews. Grayzel, Solomon, New York: Mentor, 1968 hoặc Penguin Book, 1984.
  • A History of the Ptolemaic Empire. Hölbl, Günther. 2001. Translated by Tina Saavedra. London: Routledge Ltd.
  • Bordas Encyclopédie - Histoire Universelle - Roger Caratini - Paris 1968.
  • Chronology of World History, GSP Freeman Greenville - Rex Collins - London 1975.
  • Euclid: The Creation of Mathematics. Artmann, Benno (1999). New York: Springer. ISBN 0-387-98423-2.
  • Egypt After the Pharaohs: 332 TCN–AD 642; From Alexander to the Arab Conquest. Bowman, Alan Keir. 1996. 2nd ed. Berkeley: University of California Press
  • Egypt in the Age of Cleopatra: History and Society under the Ptolemies. Chauveau, Michel. 2000. Translated by David Lorton. Ithaca: Cornell University Press
  • Graeco-Roman Egypt. Ellis, Simon P. 1992. Shire Egyptology 17, ser. ed. Barbara G. Adams. Aylesbury: Shire Publications, ltd.
  • Hellenistic Egypt - Bingen, Jean. Edinburgh: Edinburgh University Press, 2007 (hardcover, ISBN 0748615784; paperback, ISBN 0748615792).
  • Hellenistic Egypt: Monarchy, Society, Economy, Culture. Berkeley: University of California Press, 2007 (hardcover, ISBN 0520251415; paperback, ISBN 0520251423).
  • History of the Ptolemaic Empire by Günther Hölbl, Routledge 2000, pp. 155ff.
  • L'Egypte Ancienne - Jean Vercoutter - Editions Que-sais-je?, Paris 1982.
  • "L'impérialisme macédonien et l'hellénisation de l'Orient" - Pierre Jouguet - Editions "La Renaissance du Livre" 1926 - Ré-Edition par Albin Michel 1972, Paris.
  • Les premières civilisations de la Méditerranée - Jean-Gabriel Leroux - Editions Que-sais-je?, Paris 1941.
  • The Harvest of Hellenism. Peters, F.E. 1970. New York: Simon and Schuster
  • The Jews of Egypt: From Rameses II to Emperor Hadrian by Joseph Mélèze Modrzejewski, Princeton University Press 1997, p. 150
  • "The Ptolemaic Period (332–30 TCN)". Lloyd, Alan Brian. 2000. In The Oxford History of Ancient Egypt, edited by Ian Shaw. Oxford and New York: Oxford University Press. 395–421
  • Willy Clarysse (Katholieke Universiteit Leuven), The Great Revolt of the Egyptians, Lecture held at the Center for the Tebtunis Papyri, University of California at Berkeley, on 16 tháng 3 năm 2004, truy cập 15th tháng 8 năm 2006

Liên kết ngoài

Ai Cập cổ đại

Ai Cập cổ đại là một nền văn minh cổ đại nằm ở Đông Bắc châu Phi, tập trung dọc theo hạ lưu của sông Nile thuộc khu vực ngày nay là đất nước Ai Cập. Đây là một trong sáu nền văn minh phát sinh một cách độc lập trên thế giới. Nền văn minh Ai Cập được thống nhất lại vào năm 3150 TCN (theo trình tự thời gian của bảng niên đại Ai Cập) với sự thống nhất chính trị của Thượng và Hạ Ai Cập dưới thời vị pharaon đầu tiên (Narmer, thường được gọi là Menes). Lịch sử của Ai Cập cổ đại đã trải qua một loạt các thời kỳ vương quốc ổn định, và các giai đoạn hỗn loạn giữa chúng được gọi là các giai đoạn chuyển tiếp: Cổ Vương quốc thời kỳ Sơ kỳ Đồ đồng, Trung Vương quốc tương ứng giai đoạn Trung kỳ Đồ Đồng và Tân Vương quốc ứng với Hậu kỳ Đồ đồng.

Ai Cập đạt đến đỉnh cao của quyền lực vào giai đoạn Tân Vương quốc, trong thời kỳ Ramesside, vào thời điểm đó nó sánh ngang với đế quốc Hittite, đế quốc Assyria và đế chế Mitanni, trước khi bước vào giai đoạn dần suy yếu. Ai Cập đã bị xâm chiếm hoặc chinh phục bởi một loạt các cường quốc nước ngoài, chẳng hạn như người Canaan/Hyksos, Lybia, người Nubia, Assyria, Babylon, Ba Tư dưới triều đại Achaemenid, và người Macedonia trong Thời kỳ Chuyển tiếp thứ Ba và cuối thời kỳ Ai Cập cổ đại. Sau khi Alexander Đại Đế qua đời, một trong những tướng lĩnh của ông, Ptolemy I Soter, đã tuyên bố ông là vị vua mới của Ai Cập. Triều đại Ptolemy gốc Hy Lạp này đã cai trị Ai Cập cho đến năm 30 TCN khi nó rơi vào tay đế quốc La Mã và trở thành một tỉnh La Mã.Sự thành công của nền văn minh Ai Cập cổ đại một phần đến từ khả năng thích ứng của nó với các điều kiện của thung lũng sông Nile cho sản xuất nông nghiệp. Từ việc có thể dự đoán trước lũ lụt và việc điều tiết thủy lợi ở khu vực thung lũng màu mỡ đã tạo ra nhiều nông sản dư thừa, giúp nuôi dưỡng một lượng dân số đông hơn, tạo điều kiện phát triển xã hội và văn hóa. Với việc có nhiều nguồn lực dư thừa, nhà nước đã tập trung vào việc khai thác khoáng sản ở các thung lũng và các khu vực sa mạc xung quanh, cũng như việc sớm phát triển một hệ thống chữ viết độc lập, tổ chức xây dựng tập thể và các dự án nông nghiệp, thương mại với khu vực xung quanh, và xây dựng một đội quân nhằm mục đích đánh bại kẻ thù nước ngoài và khẳng định sự thống trị của Ai Cập. Thúc đẩy và tổ chức những hoạt động này là một bộ máy quan lại gồm các ký lục ưu tú, những nhà lãnh đạo tôn giáo, và các quan lại dưới sự kiểm soát của một pharaon, người đảm bảo sự hợp tác và đoàn kết của toàn thể người dân Ai Cập dưới một hệ thống tín điều tôn giáo tinh vi.Những thành tựu của người Ai Cập cổ đại bao gồm khai thác đá, khảo sát và kỹ thuật xây dựng hỗ trợ cho việc xây dựng các công trình kim tự tháp, đền thờ, và cột tháp tưởng niệm; một hệ thống toán học, một hệ thống thực hành y học hiệu quả, hệ thống thủy lợi và kỹ thuật sản xuất nông nghiệp, những tàu thủy đầu tiên được biết đến trên thế giới, công nghệ gốm sứ và thủy tinh của Ai Cập, những thể loại văn học mới, và các hiệp ước hòa bình được biết đến sớm nhất, được ký kết với người Hittite. Ai Cập đã để lại một di sản lâu dài. Nghệ thuật và kiến ​​trúc của nó đã được sao chép rộng rãi, và các cổ vật của nó còn được đưa tới khắp mọi nơi trên thế giới. Những tàn tích hùng vĩ của nó đã truyền cảm hứng cho trí tưởng tượng của du khách và nhà văn trong nhiều thế kỷ. Sự quan tâm mới hình thành dành cho những cổ vật và các cuộc khai quật trong thời kỳ cận đại ở châu Âu và Ai Cập dẫn đến việc khai sinh ra ngành Ai Cập học để nghiên cứu nền văn minh Ai Cập và một sự đánh giá đúng đắn hơn đối với di sản văn hóa của nó.

Ankhmakis

Ankhmakis (Ankmachis hoặc Chaonnophris) là vị pharaon thứ hai của vương triều thứ 35, hay cuộc khởi nghĩa vùng Hạ Ai Cập chống triều đình nhà Ptolemaios dưới các triều vua Ptolemaios IV và V. Ông trị vì từ khoảng 199 TCN đến 185 TCN. Ông còn được gọi là Harmakhis, Khaonnophris hay Akhonnophris.

Bình canopic

Bình canopic là những chiếc bình được sử dụng để cất giữ và bảo quản nội tạng của người chết trong nghi thức tang lễ của người Ai Cập cổ đại. Những chiếc bình này có thể được làm bằng gốm sứ, thạch cao, đá vôi, gỗ... tùy thuộc vào vị trí trong xã hội của người chết lúc bấy giờ. Những chiếc bình canopic đã được sử dụng từ thời kỳ Cổ vương quốc cho đến thời Hậu nguyên hoặc thời kỳ Ai Cập thuộc Hy Lạp.

Danh sách các vương triều Ai Cập

Trong lịch sử Ai Cập cổ đại, mỗi vương triều là thời kỳ mà các vị pharaon cùng chung dòng tộc hoặc trong cùng gia đình nối tiếp cai trị vương quốc.

Ai Cập Cổ đại được phân thành ba mươi mốt vương triều pharaon. Quan tư tế Ai Cập Manetho được xem là người đầu tiên đưa ra cách phân chia này trong tác phẩm Aegyptiaca của ông, cuốn sách có lẽ được viết cho những nhà lãnh đạo nói tiếng Hy Lạp thời Vương triều Ptolemaic. Tên gọi Vương triều thứ 31 không phải do Manetho đề nghị mà do người ta đặt sau này.

Lãnh thổ một số vương triều chỉ bao gồm một phần của Ai Cập hiên nay và cũng có một số vương triều tồn tại song song với các vương triều khác, với thủ đô là những thành phố khác nhau. Vương triều thứ 7 đôi khi bị coi là không hoàn toàn tồn tại, Vương triều thứ 10 có vẻ là sự tiếp nối của Vương triều thứ 9, và có thể đã có thời kỳ Naqada III trước khi Vương triêu thứ 1 bắt đầu.

Trang này liệt kê tên các bài viết khác nhau về các vương triều của Ai Cập cổ đại.

Hemhem

Hemhem là vương miện được sử dụng bởi các vị pharaon Ai Cập cổ đại, và cũng là mũ đội đầu của các vị thần.

Horus

Horus là tên một vị thần cổ đại quan trọng nhất trong Thần thoại Ai Cập. Ông ta được tôn thờ từ ít nhất cuối thời tiền sử Ai Cập cho đến thời Ai Cập thuộc Hy Lạp và Ai Cập thuộc La Mã. Các hình dáng khác nhau của Horus được ghi lại trong lịch sử và những hình dáng này được xem như là các vị thần riêng biệt bởi các nhà Ai Cập học. Những hình dạng khác nhau này có thể có nhận thức khác nhau của cùng một vị thần nhiều tầng lớp trong đó các tính cách nào đó hoặc các mối quan hệ tổng hợp được nhấn mạnh, không nhất thiết phải đối lập nhưng bổ sung cho nhau, phù hợp với cách người Ai Cập cổ đại nhìn về nhiều khía cạnh của thực tại. Ông ta thường được miêu tả như một con chim cắt, hoặc như một người đàn ông với một cái đầu chim cắt.Hình thức được ghi lại sớm nhất của Horus là vị thần bảo hộ của Nekhen ở Thượng Ai Cập, là vị thần đầu tiên của Ai Cập được biết đến, đặc biệt liên quan đến các vị vua, trải qua thời gian được xem là một biểu hiện của Horus trong cuộc sống và Osiris trong cái chết. Các mối quan hệ trong gia đình thường gặp nhất mô tả Horus: là con trai của Isis và Osiris, và ông ta đóng một vai trò quan trọng trong huyền thoại của Osiris, là người thừa kế Osiris và là đối thủ của thần Set, kẻ giết Osiris. Trong truyền thống khác, Hathor được xem như là mẹ của ông và đôi khi là vợ của ông. Horus có nhiều chức năng, đáng chú ý nhất là một vị thần của bầu trời, chiến tranh và săn bắn.

Hành tinh

Hành tinh là một thiên thể quay xung quanh một ngôi sao hay các tàn tích sao, có đủ khối lượng để nó có hình cầu do chính lực hấp dẫn của nó gây nên, có khối lượng dưới khối lượng giới hạn để có thể diễn ra phản ứng hợp hạch (phản ứng nhiệt hạch) của deuterium, và đã hút sạch miền lân cận quanh nó như các vi thể hành tinh.. "Hành tinh" ở các ngôn ngữ Âu châu như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Ý, tiếng Đức... đều có nguồn gốc từ chữ planetes (Πλανήτης) của tiếng Hy Lạp. Planetes có nghĩa là "dân du mục".

Tên của các hành tinh trong hệ Mặt Trời, xét theo sự tăng dần khoảng cách từ Mặt Trời: gồm bốn hành tinh đá Sao Thủy, Sao Kim, Trái Đất, và Sao Hỏa, bốn hành tinh khí khổng lồ Sao Mộc, Sao Thổ, Sao Thiên Vương, và Sao Hải Vương (Sao Diêm Vương đã từng được xếp vào nhóm này nhưng hiện tại bị loại ra do không đáp ứng được tiêu chí ba trong định nghĩa của IAU 2006). Những tên này được chọn dựa theo hệ thống Ngũ Hành (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ) và thêm vào đó là trời (thiên), biển (hải) và địa ngục (diêm hay diêm la). Hành tinh của chúng ta có một tên đặc biệt (Trái Đất) không thuộc vào hệ thống tên vừa kể trên nhưng thường được gọi là Quả Đất hay Trái Đất hoặc Địa Cầu.

Từ năm 1992, hàng trăm hành tinh quay xung quanh ngôi sao khác ("hành tinh ngoài Hệ Mặt Trời" hay "hành tinh ngoại hệ") trong Ngân Hà đã được khám phá. Đến 28 tháng 10 năm 2011, đã phát hiện được 695 hành tinh ngoài hệ Mặt Trời, có kích thước từ các hành tinh khí khổng lồ lớn hơn Sao Mộc cho đến kích thước của các hành tinh đá, với 528 hệ hành tinh và 81 hệ đa hành tinh (các hành tinh quay quanh sao đôi hoặc sao ba).

Hạ Ai Cập

Hạ Ai Cập (tiếng Ả Rập: الدلتا‎ al-Diltā) là phần cực bắc nhất của Ai Cập. Nó dùng để chỉ các khu vực màu mỡ của đồng bằng sông Nin, trải dài từ khu vực giữa Thượng Ai Cập và Địa Trung Hải - từ El-Aiyat phía nam của Cairo ngày nay, và Zawyet Dahshur.

Hậu Phát

Chòm sao Hậu Phát 后髮, (tiếng La tinh: Coma Berenices) là một trong 88 chòm sao hiện đại, mang hình ảnh Tóc Tiên.

Chòm sao này có diện tích 386 độ vuông, nằm trên thiên cầu bắc, chiếm vị trí thứ 42 trong danh sách các chòm sao theo diện tích.

Chòm sao Hậu Phát nằm kề các chòm sao Lạp Khuyển, Đại Hùng, Sư Tử, Thất Nữ, Mục Phu.

Ptolemaios III Euergetes

Ptolemaios III Euergetes (cai trị 246 TCN–222 TCN) là vị vua thứ ba của vương triều Ptolemaios của Ai Cập. Ông là con trưởng của Ptolemaios II Philadelphos và vợ cả của ông ta, Arsinoe I, và lên ngôi năm 246 TCN sau khi vua cha qua đời.

Ông cưới Berenice xứ Cyrene vào năm tương đương với 244/243 TCN; và con cái của họ Arsinoe III, Ptolemaios IV Philopator, Magas, và một con gái cũng tên là Berenice.

Ptolemaios III Euergetes đã chịu trách nhiệm về ví dụ được biết đến đầu tiên của một chuỗi sắc lệnh được xuất bản như các văn bản song ngữ trên những khối đá lớn trong ba cấu trúc viết văn. Một bia (stela) đá của Ptolemy là hòn đá Canopus năm 238 TCN. Một ví dụ được biết nhiều nhất khác là bia Memphis (hòn đá Memphis), mang sắc lệnh Memphis, khoảng năm 218 TCN, đã được phê chuẩn bởi con trai ông, vua Ptolemaios IV, và hòn đá Rosseta nổi tiếng được Ptolemy V cháu nội ông dựng nên, trong năm 196 TCN.

Các hòn đá của Ptolemaios bao gồm các sắc lệnh về những mệnh lệnh thuộc thầy tế, và là bia tưởng niệm cho con gái ông là công chúa Berenice (chết trẻ tháng 2/238 TCN). Nhưng hai trong 26 dòng chữ của sắc lệnh bằng chữ tượng hình Ai Cập sử dụng thêm ngày nhuận vào lịch Ai Cập 365 ngày, và thay đổi sự liên kết của các ngày lễ.

Ông cũng là một trong những người thành lập Serapeum ở kinh đô Alexandria.

Ptolemaios II Philadelphos

Ptolemy II Philadelphus - nghĩa là người (đàn ông) yêu chị mình vì ông cưới chị là Arsinoe II (tiếng Hy Lạp: Πτολεμαῖος Φιλάδελφος, Ptolemaîos Philádelphos" 309 – 246 trước Công nguyên) là vua nhà Ptolemaios của Ai Cập thuộc Hy Lạp từ năm 283 đến năm 246 trước Công nguyên. Ông là con của vị vua khai quốc nhà Ptolemaios -Ptolemaios I Soter và Berenice, và được Philitas của Cos giáo dưỡng. Ông có hai người anh khác mẹ là Ptoleimaos Keraunos và Meleager, đều lên làm vua xứ Macedonia (lần lượt trong các năm 281 và 179 trước Công Nguyên). Cả hai đều tử trận trong cuộc xâm lược của người Gaul các năm 280–279 trước Công nguyên (xem thêm bài Brennus).

Vua Ptolemaios II thừa kế chủ trương chiêu hiền đãi sĩ của vua cha, mở mang "Museion" và thư viện Alexandria. Ông cũng mở mang ảnh hưởng của Ai Cập bằng việc sáp nhập Phoenicia và các phần đất Syria.Ptolemaios II đã dựng một bia kỷ niệm là Bia đá lớn Mendes. Sau này, các vua từ Ptolemaios III đến Ptolemaios V cũng cho dựng văn bia.

Ptolemaios I Soter

Ptolemaios I Soter (tiếng Hy Lạp cổ: Πτολεμαῖος Σωτήρ, Ptolemaĩos Sōtḗr, tạm dịch là "Ptolemaios Vua cứu độ"), còn được biết đến với tên gọi là Ptolemaios Lagides (khoảng 367 TCN - 283 TCN), là một vị tướng người Macedonia dưới trướng của vua Alexandros Đại đế, là người cai trị Ai Cập (323-283 TCN) và người sáng lập ra Vương quốc Ptolemaios và Nhà Ptolemaios. Trong năm 304/5 TCN, ông tự nhận tước hiệu Pharaon.

Ptolemaios VIII Physcon

Ptolemaios VIII Euergetes II (khoảng 182 TCN – 26 tháng 6,116 TCN), tên hiệu là Physcon, là quốc vương nhà Ptolemaios ở Ai Cập. Sự nghiệp rắc rối của ông bắt đầu năm 170 TCN, khi Antiochus IV Epiphanes xâm lược Ai Cập, bắt anh của ông, Ptolemaios VI Philometor và cho ông tiếp tục như một vua bù nhìn. Sau đó Alexandria chọn Ptolemaios Euergetes là vua.

Sau khi Antiochos rút về (169 TCN), Euergetes chấp nhận đồng trị vì với anh cả là Ptolemaios VI Philometor và Cleopatra II. Sự sắp xếp này đã dẫn đến những âm mưu liên tục, kéo dài quyền duy nhất đến tháng 10 năm 164 TCN, khi Philometor đến Rome để đạt được sự hỗ trợ của viện nguyên lão, những người đã một phần nào hữu ích với vụ sắp xếp, nhưng sự cai trị của Physcon không được lòng dân, và tháng 5 năm 163 TCN hai anh em đồng ý chia sẻ quyền lực, trong đó Physcon chuyển về cai trị Cyrenaica.

Mặc dù sự sắp xếp kéo dài cho đến khi Philometor mất trong năm 145 TCN, nó đã không kết thúc sự tranh chấp. Physcon thuyết phục viện nguyên lão yêu cầu của mình ở Cyprus, nhưng Philometor bỏ qua điều này. Sau khi Physcon cố gắng để chinh phục hòn đảo nhưng không thành công, vào năm 161 trước Công Nguyên, Viện nguyên lão gửi đại sứ của Philometor về nhà. Đôi khi khoảng 156 trước Công nguyên BC/155 Philometor đã cố gắng để ám sát Physcon. Tuy nhiên điều này không thành công và Physcon đã đi đến Rome, hiển thị những vết thẹo của vết thương ông mang một cách nỗ lực, và bất chấp sự phản đối của Cato già, nhận được sự ủng hộ của viện nguyên lão và một số nguồn lực cho một nỗ lực khác ở Cyprus. Trong thời gian này ông gặp Cornelia Africana, người gần đây đã góa chồng sau cái chết của chồng bà Tiberius Gracchus Cả, và cầu hôn bà mà bà từ chối. (Một nguồn ghi rằng Physcon đã để lại Cyrenaica cho Rome nếu ông qua đời không có con, một hành động không được đề cập bởi bất kỳ nguồn nào khác trong văn học.)

Các nỗ lực thứ hai ở Cyprus cũng không thành công, và Philometor bắt được Physcon, nhưng tha cho ông ta, gả con gái Cleopatra Thea của mình cho ông ta, và thả cho ông quay trở lại Cyrenaica.

Khi Philometor mất trong chiến dịch năm 145 TCN, Cleopatra II đã tuyên bố con trai Ptolemaios VII làm vua, nhưng Physcon trở lại, đề xuất đồng cai trị và kết hôn với Cleopatra II, em gái của mình. Ông sau đó đã lên ngôi với tên "Ptolemy VIII Euergetes II", cố tình nhớ lại tổ tiên của ông Ptolemy III Euergetes, và đã tự tuyên bố là pharaoh trong năm 144 TCN.

Physcon đã trả thù đối với các trí thức của Alexandria những người đã phản đối ông, tiến hành hàng loạt cuộc thanh trừng và trục xuất bao gồm Aristarchos của Samothrace và Apollodoros, để lại một thành phố Alexandria thay đổi. Năm 145 TCN, "ông trục xuất tất cả các trí thức: nhà ngữ văn, triết gia, giáo sư hình học, nhạc sĩ, họa sĩ, giáo viên, các bác sĩ và những người khác, với kết quả là "giáo dục cho người Hy Lạp và man rợ ở nơi khác,"(Menecles của Barca, FGrHist 270 F 9).Sau đó ông quyến rũ và kết hôn với Cleopatra III (con gái của vợ ông) mà không cần ly hôn Cleopatra II, người đã tức điên lên, và vào năm 132 TCN hoặc 131 TCN, người dân của Alexandria nổi loạn dữ dội và đốt cung điện hoàng gia. Physcon, Cleopatra III, và con cái của họ trốn sang Cyprus, trong khi Cleopatra II đã đưa con trai mười hai tuổi Ptolemy Memphitis lên làm vua. Tuy nhiên, Physcon có thể đã bắt được cậu bé và giết ông ta, gửi trả các mảnh thân thể tới cho Cleopatra.

Cuộc nội chiến tiếp theo xảy ra giữa Cleopatra ở Alexandria chống lại các vùng nông thôn, những người hỗ trợ Physcon. Cleopatra chấp nhận dâng ngai vàng của Ai Cập cho Demetrius II Nicator, nhưng ông ta đã không có thêm hơn Pelusium và năm 127 trước Công nguyên Cleopatra bỏ tới Syria, bỏ lại thành Alexandria trụ vững thêm một năm nữa.

Sau nhiều âm mưu khác nữa, Cleopatra II cuối cùng đã trở về Ai Cập vào năm 124 trước Công nguyên và giảng hòa với anh trai, và vào khoảng thời gian này, Physcon cho con gái thứ hai của mình với Cleopatra III, Tryphaena, kết hôn với Antiochos VIII Philometor. Một sắc lệnh ân xá đã được ban ra vào năm 118 trước Công nguyên, nhưng nó là không đủ để cải thiện tình hình, và người La Mã sẽ sớm buộc phải can thiệp sau khi ông qua đời năm 116 trước Công nguyên.

Khi ông qua đời, ông để kại ngai vàng cho Cleopatra III với một trong số những người con trai của bà, tùy theo ý muốn của bà. Bà đã chọn người con trai nhỏ tuổi hơn Alexandros để trị vì với bà. Tuy nhiên, người dân Alexandria muốn người con trai lớn nhất của bà, Philometer Soter, thống đốc của Síp, đồng cai trị. Bà miễn cưỡng tuân theo, với Philometer mang tên Ptolemy IX, mặc dù người con trai nhỏ của bà cũng sẽ cai trị tại một thời điểm.

Ptolemaios XI Alexandros II

Ptolemy XI Alexandros XI là một pharaông của nhà Ptolemy đã trị vì Ai Cập trong vài ngày năm 80 TCN.

Ptolemy XI là con của Ptolemy X Alexandros I và một trong hai người là Cleopatra Selene I hay Berenice III. Ptolemy IX Lathryos qua đời năm 81 TCN hay 80 TCN mà không có người kế thừa hợp pháp, và vì vậy Cleopatra Berenice (tên khác là Berenice III) lên ngôi. Dù vậy Sulla của thành Roma đã muốn người thân La Mã cai trị trên ngai vàng, và phái con út của Ptolemy X tới Ai Cập biểu lộ ý định của Ptolemy Alexandros ở Rome như chứng minh cho rõ ràng sự can thiệp đó.

Ptolemaios X Alexandros I

Ptolemy X Alexandros I là vua Ai Cập từ 110 TCN đến 109 TCN và 107 TCN đến 88 TCN.

Ông là con của Ptolemy VIII Physcon và Cleopatra III. Năm 110 TCN ông lên ngôi vua với mẹ ông là nhiếp chính, sau khi mẹ ông truất phế anh trai ông, vua Ptolemaios IX Lathyros. Dù vậy, năm 109 TCN, ông bị hạ bệ bởi Ptolemaios IX. 107 TCN, ông làm vua trở lại, và lại đồng trị với mẹ ông. Năm 101 TCN, mẹ ông bị giết hại, và ông cai trị cùng với cháu gái/vợ là Berenice III.

Khi ông qua đời, Ptolemy IX chiếm lại ngai vàng. Khi Ptolemy IX chết, vợ của Ptolemy X là Berenice III trở thành nữ hoàng duy nhất trong 6 tháng.

Syracusia

Syracusia (tiếng Hy Lạp: Συρακουσία, syrakousía, nghĩa là "của Syracuse") là một con tàu Hy Lạp cổ đại dài 110 m (360 ft) đôi khi được cho là tàu vận tải lớn nhất của thời cổ đại. Chiếc tàu này chỉ chạy một lần, từ Syracuse ở Sicily đến Alexandria trong Vương quốc Ptolemy.

Thượng Ai Cập

Thượng Ai Cập (tiếng Ả Rập: صعيد مصر‎ Sa'id Misr) là dải đất liền, trên cả hai mặt của thung lũng sông Nile, kéo dài từ Nubia, và ở phía hạ lưu (phía bắc) Hạ Ai Cập.

Thời kỳ Hậu nguyên của Ai Cập cổ đại

Thời kỳ Hậu nguyên của Ai Cập cổ đại đề cập đến triều đại cuối cùng của những nhà cai trị Ai Cập bản địa sau Thời kỳ Chuyển tiếp thứ Ba trong Vương triều thứ 26 do Psamtik I thành lập, nhưng bao gồm cả thời kỳ Achaemenid cai trị Ai Cập sau cuộc chinh phục của Cambyses II vào năm 525 trước Công nguyên. Thời kỳ Hậu nguyên tồn tại từ năm 664 trước Công nguyên cho đến năm 332 trước Công nguyên, sau một thời kỳ cai trị bởi các nước bên ngoài từ Vương triều thứ 25 và bắtđầu với một thời kỳ ngắn ngủi của Neo-Assyrian, với Psamtik I ban đầu cai trị như là một chư hầu. Thời kỳ này kết thúc với cuộc chinh phạt của Đế quốc Ba Tư bởi Alexander Đại đế và thành lập triều đại Ptolemaic bởi vị tướng Ptolemy I Soter của ông, một trong những người Hy Lạp từ georgon ở miền bắc Hy Lạp. Với cuộc chinh phạt Hy Lạp của người Macedonia vào nửa cuối thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên, thời đại của Ai Cập thuộc Hy Lạp bắt đầu.

Người Libya và Ba Tư xen kẽ cai trị với người Ai Cập bản địa, nhưng các truyền thống vẫn được tiếp tục trong nghệ thuật.

Trận Raphia

Trận Raphia (Rafah) hay còn gọi là trận Gaza, là trận đánh diễn ra vào ngày 22 tháng 6 năm 217 TCN, tại vùng Rafah, gần Gaza, giữa các lực lượng của Ptolemaios IV, vua của Ai Cập và Antiochos III của đế quốc Seleucos trong cuộc chiến tranh Syria. Đây là một trong những trận đánh lớn nhất xảy ra giữa các quốc gia Hy Lạp hóa - Diadochi nhằm xác định chủ quyền đối với vùng đất Coele Syria.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.