1600 TCN

Năm 1600 TCN là một năm trong lịch Julius.

Thiên niên kỷ: thiên niên kỷ 2 TCN
Thế kỷ:
  • thế kỷ 17 TCN
  • thế kỷ 16 TCN
  • thế kỷ 15 TCN
Thập niên:
  • thập niên 1620 TCN
  • thập niên 1610 TCN
  • thập niên 1600 TCN
  • thập niên 1590 TCN
  • thập niên 1580 TCN
Năm:
  • 1603 TCN
  • 1602 TCN
  • 1601 TCN
  • 1600 TCN
  • 1599 TCN
  • 1598 TCN
  • 1597 TCN
1600 TCN trong lịch khác
Lịch Gregory1600 TCN
MDXCIX TCN
Ab urbe condita−846
Năm niên hiệu AnhN/A
Lịch ArmeniaN/A
Lịch Assyria3151
Lịch Ấn Độ giáo
 - Vikram Samvat−1543 – −1542
 - Shaka SamvatN/A
 - Kali Yuga1502–1503
Lịch Bahá’í−3443 – −3442
Lịch Bengal−2192
Lịch Berber−649
Can ChiCanh Thìn (庚辰年)
1097 hoặc 1037
    — đến —
Tân Tỵ (辛巳年)
1098 hoặc 1038
Lịch Chủ thểN/A
Lịch Copt−1883 – −1882
Lịch Dân Quốc3511 trước Dân Quốc
民前3511年
Lịch Do Thái2161–2162
Lịch Đông La Mã3909–3910
Lịch Ethiopia−1607 – −1606
Lịch Holocen8401
Lịch Hồi giáo2289 BH – 2288 BH
Lịch Igbo−2599 – −2598
Lịch Iran2221 BP – 2220 BP
Lịch JuliusN/A
Lịch Myanma−2237
Lịch Nhật BảnN/A
Phật lịch−1055
Dương lịch Thái−1056
Lịch Triều Tiên734

Sự kiện

Sinh

Mất

Ai Cập cổ đại

Ai Cập cổ đại là một nền văn minh cổ đại nằm ở Đông Bắc châu Phi, tập trung dọc theo hạ lưu của sông Nile thuộc khu vực ngày nay là đất nước Ai Cập. Đây là một trong sáu nền văn minh phát sinh một cách độc lập trên thế giới. Nền văn minh Ai Cập được thống nhất lại vào năm 3150 TCN (theo trình tự thời gian của bảng niên đại Ai Cập) với sự thống nhất chính trị của Thượng và Hạ Ai Cập dưới thời vị pharaon đầu tiên (Narmer, thường được gọi là Menes). Lịch sử của Ai Cập cổ đại đã trải qua một loạt các thời kỳ vương quốc ổn định, và các giai đoạn hỗn loạn giữa chúng được gọi là các giai đoạn chuyển tiếp: Cổ Vương quốc thời kỳ Sơ kỳ Đồ đồng, Trung Vương quốc tương ứng giai đoạn Trung kỳ Đồ Đồng và Tân Vương quốc ứng với Hậu kỳ Đồ đồng.

Ai Cập đạt đến đỉnh cao của quyền lực vào giai đoạn Tân Vương quốc, trong thời kỳ Ramesside, vào thời điểm đó nó sánh ngang với đế quốc Hittite, đế quốc Assyria và đế chế Mitanni, trước khi bước vào giai đoạn dần suy yếu. Ai Cập đã bị xâm chiếm hoặc chinh phục bởi một loạt các cường quốc nước ngoài, chẳng hạn như người Canaan/Hyksos, Lybia, người Nubia, Assyria, Babylon, Ba Tư dưới triều đại Achaemenid, và người Macedonia trong Thời kỳ Chuyển tiếp thứ Ba và cuối thời kỳ Ai Cập cổ đại. Sau khi Alexander Đại Đế qua đời, một trong những tướng lĩnh của ông, Ptolemy I Soter, đã tuyên bố ông là vị vua mới của Ai Cập. Triều đại Ptolemy gốc Hy Lạp này đã cai trị Ai Cập cho đến năm 30 TCN khi nó rơi vào tay đế quốc La Mã và trở thành một tỉnh La Mã.Sự thành công của nền văn minh Ai Cập cổ đại một phần đến từ khả năng thích ứng của nó với các điều kiện của thung lũng sông Nile cho sản xuất nông nghiệp. Từ việc có thể dự đoán trước lũ lụt và việc điều tiết thủy lợi ở khu vực thung lũng màu mỡ đã tạo ra nhiều nông sản dư thừa, giúp nuôi dưỡng một lượng dân số đông hơn, tạo điều kiện phát triển xã hội và văn hóa. Với việc có nhiều nguồn lực dư thừa, nhà nước đã tập trung vào việc khai thác khoáng sản ở các thung lũng và các khu vực sa mạc xung quanh, cũng như việc sớm phát triển một hệ thống chữ viết độc lập, tổ chức xây dựng tập thể và các dự án nông nghiệp, thương mại với khu vực xung quanh, và xây dựng một đội quân nhằm mục đích đánh bại kẻ thù nước ngoài và khẳng định sự thống trị của Ai Cập. Thúc đẩy và tổ chức những hoạt động này là một bộ máy quan lại gồm các ký lục ưu tú, những nhà lãnh đạo tôn giáo, và các quan lại dưới sự kiểm soát của một pharaon, người đảm bảo sự hợp tác và đoàn kết của toàn thể người dân Ai Cập dưới một hệ thống tín điều tôn giáo tinh vi.Những thành tựu của người Ai Cập cổ đại bao gồm khai thác đá, khảo sát và kỹ thuật xây dựng hỗ trợ cho việc xây dựng các công trình kim tự tháp, đền thờ, và cột tháp tưởng niệm; một hệ thống toán học, một hệ thống thực hành y học hiệu quả, hệ thống thủy lợi và kỹ thuật sản xuất nông nghiệp, những tàu thủy đầu tiên được biết đến trên thế giới, công nghệ gốm sứ và thủy tinh của Ai Cập, những thể loại văn học mới, và các hiệp ước hòa bình được biết đến sớm nhất, được ký kết với người Hittite. Ai Cập đã để lại một di sản lâu dài. Nghệ thuật và kiến ​​trúc của nó đã được sao chép rộng rãi, và các cổ vật của nó còn được đưa tới khắp mọi nơi trên thế giới. Những tàn tích hùng vĩ của nó đã truyền cảm hứng cho trí tưởng tượng của du khách và nhà văn trong nhiều thế kỷ. Sự quan tâm mới hình thành dành cho những cổ vật và các cuộc khai quật trong thời kỳ cận đại ở châu Âu và Ai Cập dẫn đến việc khai sinh ra ngành Ai Cập học để nghiên cứu nền văn minh Ai Cập và một sự đánh giá đúng đắn hơn đối với di sản văn hóa của nó.

Cô Trúc

Cô Trúc là một nước chư hầu của các triều đại Thương, Chu trong lịch sử Trung Quốc, nguyên được phong từ thời nhà Thương. Các vị quân chủ của Cô Trúc cai trị vùng đất này từ khoảng đầu thời nhà Thương đến tận giữa thời kỳ Xuân Thu. Ngày nay còn lưu lại các truyện về Bá Di, Thúc Tề là những người của nước Cô Trúc. Năm 664 TCN, Cô Trúc bị liên minh Tề-Yên tiêu diệt. Một phần lớn lãnh thổ Cô Trúc bị nhập vào Yên. Dân cư Cô Trúc một phần chạy theo Sơn Nhung, một phần bị hòa lẫn vào các quần thể dân cư nước Yên.

Danh sách các vương triều Ai Cập

Trong lịch sử Ai Cập cổ đại, mỗi vương triều là thời kỳ mà các vị pharaon cùng chung dòng tộc hoặc trong cùng gia đình nối tiếp cai trị vương quốc.

Ai Cập Cổ đại được phân thành ba mươi mốt vương triều pharaon. Quan tư tế Ai Cập Manetho được xem là người đầu tiên đưa ra cách phân chia này trong tác phẩm Aegyptiaca của ông, cuốn sách có lẽ được viết cho những nhà lãnh đạo nói tiếng Hy Lạp thời Vương triều Ptolemaic. Tên gọi Vương triều thứ 31 không phải do Manetho đề nghị mà do người ta đặt sau này.

Lãnh thổ một số vương triều chỉ bao gồm một phần của Ai Cập hiên nay và cũng có một số vương triều tồn tại song song với các vương triều khác, với thủ đô là những thành phố khác nhau. Vương triều thứ 7 đôi khi bị coi là không hoàn toàn tồn tại, Vương triều thứ 10 có vẻ là sự tiếp nối của Vương triều thứ 9, và có thể đã có thời kỳ Naqada III trước khi Vương triêu thứ 1 bắt đầu.

Trang này liệt kê tên các bài viết khác nhau về các vương triều của Ai Cập cổ đại.

Danh sách thập niên

Đây là danh sách thập niên từ đầu thế kỷ 18 TCN đến cuối thế kỷ 23 CN, cùng với liên kết đến bài viết tương ứng với nhiều thông tin hơn.

Giải phẫu học

Giải phẫu học (Tiếng Anh: anatomy, lấy từ chữ Hy Lạp là anatomē, nghĩa là "mổ xẻ") là một trong các phân ngành của sinh học, liên quan đến nghiên cứu hình thái và cấu tạo của cơ thể sinh vật. Giải phẫu học cũng là một nhánh trong khoa học tự nhiên đi sâu vào tổ chức cấu trúc trong các sinh vật sống. Đây là một bộ môn khoa học lâu đời với nguồn gốc có từ tận thời Tiền sử. Phân ngành này vốn gắn liền với các ngành khác như sinh học phát triển, phôi học, giải phẫu so sánh, sinh học tiến hóa và phát sinh chủng loại học, vì thông qua giải phẫu, ta có thể quan sát những biến đổi về cấu trúc trong một khoảng thời gian ngắn (như sự phát triển của phôi) hoặc rất dài (như trong tiến hóa). Trong khi giải phẫu học nghiên cứu về cấu trúc thì sinh lý học nghiên cứu về chức năng của sinh vật cũng như các cơ quan, vì vậy, hai bộ môn này tạo thành một cặp liên ngành trong khoa học tự nhiên và thường được nghiên cứu cùng nhau. Giải phẫu người là một trong những ngành khoa học cơ bản thiết yếu được áp dụng trong y học.Các ngành của giải phẫu có thể được chia thành giải phẫu vĩ mô và giải phẫu vi mô. Giải phẫu vĩ mô hay giải phẫu thô là nghiên cứu các bộ phận cơ thể của động vật chỉ với mắt thường. Giải phẫu vĩ mô cũng bao gồm các nhánh của giải phẫu bề ngoài. Giải phẫu vi mô hay giải phẫu hiển vi lại sử dụng các dụng cụ quang học hỗ trợ để nghiên cứu các mô từ các cấu trúc khác nhau, được gọi là mô học, và cả trong nghiên cứu tế bào.

Lịch sử giải phẫu học được đặc trưng bởi sự hiểu biết ngày càng tiến bộ về cấu trúc và chức năng của các cơ quan trên cơ thể con người. Các phương pháp sử dụng để giải phẫu cũng có những bước tiến đáng kể: từ chỉ phẫu tích thô xác động vật, ngày nay, ta sử dụng các kỹ thuật hình ảnh y học tiên tiến như X-quang, siêu âm và chụp cộng hưởng từ để nghiên cứu.

Hình Đài

Hình Đài (邢台, Xíngtái) là một địa cấp thị thuộc tỉnh Hà Bắc, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Năm 2004, dân số đô thị của Hình Đài là 561.400 và tổng dân số là 6,73 triệu. Hình Đài giáp Thạch Gia Trang và Hành Thủy về phía bắc, Hàm Đan về phía nam, và các tỉnh Sơn Đông về phía đông, Sơn Tây về phía tây.

Địa cấp thị Hình Đài có tổng diện tích 12.486 km².

Lịch sử thiên văn học

Thiên văn học là một trong những môn khoa học ra đời sớm nhất trong lịch sử loài người. Những dấu vết khởi đầu của ngành thiên văn có từ thời tiền sử. Qua quan sát chuyển động biểu kiến của Mặt Trời, Mặt Trăng, con người đã tìm ra những thời điểm thay đổi của thời tiết. Vào cuối thời đại đồ đá (thiên niên kỷ 4 - 3 TCN), ở những nền văn minh cổ đại, quan sát bầu trời là công việc rất quan trọng của giới tăng lữ. Trước khi con người học được cách định vị trên Trái Đất và sáng tạo ra môn địa lý học, họ đã quan sát bầu trời và sản sinh ra những mô hình đầu tiên của nó. Thời điểm thiên văn học trở thành một môn khoa học theo cách nhìn nhận ngày nay đã diễn ra vào thế kỉ 16 nhờ công sức của Nicolaus Copernicus, kế tiếp là Galileo Galilei, Johannes Kepler, Isaac Newton. Một trong những tác nhân quan trọng nhất đối với cuộc cách mạng thiên văn học của Nicolaus Copernicus là phát minh kính viễn vọng.

Những bước tiến của thiên văn học hiện đại đã xảy ra vào nửa cuối thế kỷ 19 khi các phương pháp phổ học và chụp hình được sử dụng trong quan sát thiên văn. Những bước nhảy vọt của thiên văn học được ghi nhận vào những năm 40 của thế kỷ 20 nhờ các quan sát thiên văn vô tuyến và tiếp đó là sự kiện con người khắc phục được những cản trở của khí quyển Trái Đất khi quan sát toàn vẹn phổ của vũ trụ từ các vệ tinh nhân tạo.

Nebiriau II

Nebiriau II (cũng là Nebiryraw II, Nebiryerawet II) là một pharaon của Ai Cập cổ đại thuộc vương triều thứ 16 nằm tại Thebes, trong Thời kỳ Chuyển tiếp thứ Hai.

Người Hitti

Người Hittite (/ hɪtaɪts /) là một người Anatolian cổ đại đã thành lập một đế chế tập trung vào Hattusa ở Anatolia Bắc Trung Đông khoảng năm 1600 TCN. Đế chế này đạt đến đỉnh cao vào giữa thế kỷ 14 trước Công nguyên theo Suppiluliuma I, khi nó bao trùm một khu vực bao gồm hầu hết Anatolia cũng như các phần của vùng phía bắc Levant và Mesopotamia trên. Giữa thế kỷ 15 và 13 TCN đế chế Hittite đã xung đột với đế chế Ai Cập, Đế quốc Assyrian Trung cổ và đế chế Mitanni để kiểm soát vùng Cận Đông. Người Assyria cuối cùng đã nổi lên như là quyền lực thống trị và sát nhập phần lớn đế quốc Hittite, trong khi những người còn lại đã bị những người mới đến Phrygian sa thải cho khu vực. Sau c. 1180 TCN, trong thời kỳ đồ đồng, người Hittites nảy nở thành nhiều thành phố độc lập "Neo-Hittite" độc lập, một số đã tồn tại cho đến thế kỷ 8 trước Công nguyên trước khi lâm trận với đế quốc Tân Assyrian.

Ngôn ngữ Hittite là một thành viên riêng biệt của chi nhánh Anatolian thuộc họ ngôn ngữ Ấn-Âu, và cùng với ngôn ngữ Lu relatedi có liên quan, là ngôn ngữ lịch sử lâu đời nhất của Ấn - Âu. [2] Họ đã đề cập đến quê hương của họ như Hatti. Cái tên thông thường "Hittites" là do sự nhận dạng ban đầu của họ với những người theo Kinh thánh Hittites trong khảo cổ học thế kỷ 19. Mặc dù sử dụng tên Hatti cho lãnh thổ cốt lõi của họ, Hittites nên được phân biệt với Hattians, một người sớm hơn những người sống ở cùng một khu vực (cho đến khi bắt đầu của thiên niên kỷ 2 TCN) và nói một ngôn ngữ không liên quan được gọi là Hattic.

Trong những năm 1920, sự quan tâm đến người Hittites tăng lên cùng với sự ra đời của Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại và thu hút sự chú ý của các nhà khảo cổ như Halet Çambel và Tahsin Özgüç, dẫn đến việc giải mã các chữ tượng hình người Hittite. Trong thời kỳ này, lĩnh vực mới của tiếng Hittitology cũng ảnh hưởng đến việc đặt tên cho các tổ chức, chẳng hạn như ngân hàng quốc doanh Etibank ("ngân hàng Hittite"), và nền tảng của Bảo tàng văn minh Anatolian ở Ankara, cách 200 km về phía tây của thủ đô Hittite và nhà ở là triển lãm toàn diện nhất về các hiện vật Hittite trên thế giới.

Lịch sử của nền văn minh Hittite được biết đến chủ yếu từ các văn bản hình chữ nhật được tìm thấy trong khu vực của vương quốc của họ, và từ sự tương giao ngoại giao và thương mại được tìm thấy trong các văn khố khác nhau ở Assyria, Babylonia, Ai Cập và Trung Đông, việc giải mã đó cũng là một sự kiện quan trọng trong lịch sử của ngôn ngữ học Đông Âu. Quân Hittite đã sử dụng thành công xe cộ [5], và mặc dù thuộc thời đại đồ đồng, người Hittites là tiền thân của thời kỳ đồ sắt, phát triển sản xuất hiện vật bằng sắt từ đầu thế kỷ 18 trước Công nguyên; vào lúc này, những món quà từ "người đàn ông Burushanda" của một ngai sắt và một cái búa sắt cho vua Kaneshite Anitta đã được ghi lại trong văn bản Anitta.

Nhà Thương

Nhà Thương (tiếng Trung Quốc: 商朝, Thương triều) hay nhà Ân (殷代, Ân đại), Ân Thương (殷商) là triều đại đầu tiên được xác nhận rõ ràng về mặt lịch sử của Trung Quốc (theo sử sách Trung Quốc thì trước Nhà Thương đã có nhà Hạ, nhưng hiện chưa tìm được bằng chứng khảo cổ (văn tự, di tích, lăng mộ...) đủ để xác nhận rõ ràng về sự tồn tại của nhà Hạ). Theo biên niên sử dựa trên các tính toán của Lưu Hâm thì nhà Thương trị vì từ khoảng năm 1766 TCN tới khoảng năm 1122 TCN, tuy nhiên theo biên niên sử dựa theo Trúc thư kỉ niên thì khoảng thời gian này là 1556 TCN tới 1046 TCN. Các kết quả của Hạ Thương Chu đoạn đại công trình coi khoảng thời gian này là từ 1600 TCN tới 1046 TCN.

Sao Kim

Sao Kim hay Kim tinh (chữ Hán: 金星), còn gọi là sao Thái Bạch (太白), Thái Bạch Kim tinh (太白金星), là hành tinh thứ hai trong hệ Mặt Trời, tự quay quanh nó với chu kỳ 224,7 ngày Trái Đất. Xếp sau Mặt Trăng, nó là thiên thể tự nhiên sáng nhất trong bầu trời tối, với cấp sao biểu kiến bằng −4.6, đủ sáng để tạo nên bóng trên mặt nước. Bởi vì Sao Kim là hành tinh phía trong tính từ Trái Đất, nó không bao giờ xuất hiện trên bầu trời mà quá xa Mặt Trời: góc ly giác đạt cực đại bằng 47,8°. Sao Kim đạt độ sáng lớn nhất ngay sát thời điểm hoàng hôn hoặc bình minh, do vậy mà dân gian còn gọi là sao Hôm, khi hành tinh này mọc lên lúc hoàng hôn, và sao Mai, khi hành tinh này mọc lên lúc bình minh.

Sao Kim được xếp vào nhóm hành tinh đất đá và đôi khi người ta còn coi nó là "hành tinh chị em" với Trái Đất do kích cỡ, gia tốc hấp dẫn, tham số quỹ đạo gần giống với Trái Đất. Tuy nhiên, người ta đã chỉ ra rằng nó rất khác Trái Đất trên những mặt khác. Sao Kim bị bao bọc bởi lớp mây dày có tính phản xạ cao chứa axít sunfuric, và khiến chúng ta không thể quan sát bề mặt của nó dưới bước sóng ánh sáng khả kiến. Mật độ không khí trong khí quyển của nó lớn nhất trong số bốn hành tinh đất đá, thành phần chủ yếu là cacbon điôxít. Áp suất khí quyển tại bề mặt hành tinh cao gấp 92 lần so với của Trái Đất. Với nhiệt độ bề mặt trung bình bằng 735 K (462 °C), Sao Kim là hành tinh nóng nhất trong Hệ Mặt Trời. Nó không có chu trình cacbon để đưa cacbon trở lại đá và đất trên bề mặt, do vậy không thể có một tổ chức sống hữu cơ nào có thể hấp thụ nó trong sinh khối. Một số nhà khoa học từng cho rằng Sao Kim đã có những đại dương trong quá khứ, nhưng đã bốc hơi khi nhiệt độ hành tinh tăng lên do hiệu ứng nhà kính mất kiểm soát. Nước có thể đã bị quang ly, và bởi vì không có từ quyển hành tinh, hiđrô tự do có thể thoát vào vũ trụ bởi tác động của gió Mặt Trời. Toàn bộ bề mặt của Sao Kim là một hoang mạc khô cằn với đá và bụi và có lẽ vẫn còn núi lửa hoạt động trên hành tinh này.

Semenre

Semenre, cũng là Smenre or Semenenre, là một vị pharaoh được chứng thực nghèo nàn của Thebes trong Thời kỳ Chuyển tiếp thứ Hai của Ai Cập, ông đã kế vị một vị vua cũng ít được biết đến không kém là Nebiriau II. Ông đã cai trị từ năm 1601 tới 1600 TCN (Kim Ryholt) hoặc khoảng 1580 TCN (Detlef Franke) và là một thành viên của vương triều thứ 16 (Ryholt) hoặc vương triều thứ 17 (Franke).

Chỉ có tên ngai của ông được biết đến, nó được khắc trên một đầu rìu bằng đồng-thiếc nhưng lại không rõ nguồn gốc, và ngày nay nằm tại bảo tàng Petrie, London (UC30079). Ông có thể cũng đã được ghi lại trên cuộn giấy cói Turin (11.7).

Semenre đã được kế vị bởi Seuserenre Bebiankh ông ta đã để lại nhiều vết tích về các dự án xây dựng và những hoạt động khai thác mỏ dưới triều đại của mình nhiều hơn bất cứ vị vua nào thuộc triều đại này ngoại trừ Djehuti.

Thời kỳ Chuyển tiếp thứ Hai của Ai Cập

Thời kỳ Chuyển tiếp thứ Hai của Ai Cập là một thời đại của lịch sử Ai Cập, đánh dấu một khoảng thời gian khi Vương quốc Ai Cập bị rơi vào tình trạng hỗn loạn và dẫn đến sự kết thúc của Trung Vương quốc Ai Cập. Sau Thời kỳ Chuyển tiếp thứ Hai là sự bắt đầu của thời kỳ mới, Tân Vương quốc.

Giai đoạn này được biết đến như là lúc mà người Hyksos xuất hiện ở Ai Cập và họ đã cai trị Vương triều thứ Mười lăm.

Thời đại đồ đồng

Thời đại đồ đồng là một thời kỳ trong sự phát triển của nền văn minh khi phần lớn công việc luyện kim tiên tiến (ít nhất là trong sử dụng có hệ thống và rộng rãi) bao gồm các kỹ thuật để nấu chảy đồng và thiếc từ các loại quặng lộ thiên sẵn có trong tự nhiên, và sau đó phối trộn các kim loại này với nhau để tạo ra đồng đỏ (đồng thiếc). Thời đại đồ đồng tạo thành một phần của hệ thống ba thời đại cho các xã hội tiền sử. Trong hệ thống đó, nó diễn ra sau thời đại đồ đá mới trong một số khu vực trên thế giới. Tại nhiều khu vực của châu Phi Hạ Sahara thì thời đại đồ đá mới được kế tiếp là thời đại đồ sắt mà không có thời đại đồ đồng.

Toán học Babylon

Toán học Babylon (hay còn được biết đến là toán học Assyria-Babylon) là bất kỳ toán học nào được phát triển và thực tập bởi những người sống ở Lưỡng Hà, có niên đại từ đầu thời kỳ của những người Sumer cho đến khi Babylon sụp đổ vào năm 539 TCN. Các văn bản toán học Babylon phong phú và được chỉnh sửa tốt. Về mặt thời gian, nền toán học này gồm hai thời kỳ: Triều đại Babylon Thứ nhất (1830 TCN-1531 TCN và vương quốc Seleukos trong khoảng 3 hay 4 thế kỷ cuối trước Công nguyên. Về nội dung, những tác phẩm toán học Babylon không thể hiện sự khác biệt trong hai thời kỳ trên. Toán học Babylon đã duy trì sự nhất quán, cả về tính chất lẫn nội dung, trong gần 2 thiên niên kỷ.Đối lập với sự tương phản về việc khan hiếm tài liệu của toán học Ai Cập, sự hiểu biết của toán học Babylon đã được chuyển hóa từ 400 tấm đất sét không tiếp đất từ thập niên 1850. Viết bằng chữ nêm, các tấm đất sét này được khắc khi chúng còn ẩm và được làm khô trong một cái lò hoặc phơi dưới ánh sáng Mặt Trời. Đa số của những tấm đất sét được khám phá có niên đại từ 1800 TCN đến 1600 TCN, và nói về các chủ đề bao gồm phân số, đại số, phương trình bậc hai, hàm số bậc ba và định lý Pythagoras. Bản YBC 7289 đã cho thấy giá trị xấp xỉ của căn bậc hai của hai chính xác đến 6 số sau dấu phẩy.

Triều đại Trung Quốc

Trước khi thành lập Trung Hoa Dân Quốc vào năm 1912, quyền lực thống trị tối cao tại Trung Quốc do thành viên các gia tộc thế tập nhau nắm giữ, hình thành nên các triều đại Trung Quốc. Các triều đại có người thống trị tối cao là "vương" hoặc "hoàng đế". Các dân tộc khác nhau lập nên triều đại hoặc chính quyền định đô tại Trung Nguyên, thông thường xưng là vương triều Trung Nguyên; các chính quyền do ngoại tộc thành lập ở ngoài Trung Nguyên, về sau tiến vào thống trị Trung Nguyên được gọi là vương triều chinh phục hoặc vương triều xâm nhập.

Căn cứ lịch sử địa lý học Trung Quốc, các chính quyền hoặc thế lực cát cứ địa phương trong lịch sử Trung Quốc cũng là một bộ phận của các triều đại Trung Quốc

Văn bản giấy cói Edwin Smith

Văn bản giấy cói Edwin Smith là một trong những tác phẩm y học cổ nhất. Đây cũng là một trong những tác phẩm y học xuất sắc nhất thời Ai Cập cổ đại. Sở dĩ có tên như trên vì người phát hiện ra nó là Edwin Smith. Tác giả của tác phẩm này là Imhotep, một vị danh y của Ai Cập cổ đại. Có thể tác phẩm được viết vào khoảng năm 1600 TCN. Trong tác phẩm này, ông đã thể hiện sự tiến bộ của mình so với những người cùng thời: Những lý thuyết y học không hề chứa một ý tưởng ma thuật nào. Ở trong này có hình ảnh một bác sĩ khâu một vết thương. Đó chính là phẫu thuật, một trong những đóng góp lớn nhất của người Ai Cập cổ đại đối với y học thế giới. Trong tác phẩm này, Imhotep chỉ ra 48 cách điều trị vết thương hoặc bệnh tật bằng cách mổ xẻ các bộ phận như đầu, cổ, vai, vú và ngực. Sách này cũng chứa thông tin về hiện tượng gãy xương, mà hầu như có được bởi sự nghiên cứu khám các chỗ bị thương của những người lao dịch trong thời gian xây kim tự tháp.

Vương triều thứ Mười Hai của Ai Cập

Vương triều thứ Mười hai của Ai Cập cổ đại (ký hiệu: Triều XII) là một vương triều thuộc thời kỳ Trung Vương quốc, bắt đầu từ năm 1991 đến năm 1802 trước Công nguyên.

Ân bản kỷ

Ân Bản Kỷ (Chữ Hán: 殷本紀) là một thiên trong 12 thiên Bản kỷ của sách Sử Ký mà Tư Mã Thiên được viết về lịch sử Trung Hoa. Thiên "Ân bản kỷ" kể lịch sử của nhà Thương, cũng gọi bằng Ân Đại (殷代), lúc khoảng 1600 TCN đến khoảng 1066 TCN (hoặc có thuyết cho rằng 1122 TCN).

Sách Ân bản kỷ gồm có truyện về một ông vua nổi tiếng, Trụ Vương.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.