Điểm nóng (địa chất)

Trong địa chất học, điểm nóng (tiếng Anh: hotspot) là vị trí trên bề mặt Trái Đất xuất hiện núi lửa hoạt động trong một thời gian dài.

Hotspot(geology)-1
Hình vẽ thể hiện mặt cắt ngang thạch quyển của Trái Đất (màu vàng) và mác ma dâng lên từ manti (màu đỏ)

Đặc điểm

John Tuzo Wilson đưa ra ý tưởng vào năm 1963 cho rằng các chuỗi núi lửa giống quần đảo Hawaii được tạo ra từ sự chuyển động chậm của các mảng kiến tạo bên trên một điểm nóng "cố định" ở dưới sâu bề mặt của hành tinh. Người ta cho rằng các điểm nóng được tạo ra bởi một dòng đối lưu manti nóng hẹp dâng lên từ ranh giới lõi-manti của Trái Đất được gọi là chùm lớp phủ,[1] mặc dù một số nhà địa chất cho rằng sự đối lưu manti trên là nguyên nhân gây ra hiện tượng này.[2][3] Điều này đối lặp hoàn toàn với giả thuyết ảnh hưởng cặp đôi, giả thuyết cho rằng cặp điểm nóng ngược nhau có thể tạo ra từ sự ảnh hưởng của một sao băng lớn.[4] Các nhà địa chất đã xác định 40-50 điểm nóng trên toàn cầu như Hawaii, Réunion, Yellowstone, Galápagos và Iceland nằm trên hầu hết các núi lửa hoạt động hiện tại.

Tham khảo

  1. ^ "Hotspots": Mantle thermal plumes”. United States Geological Survey. Ngày 5 tháng 5 năm 1999. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2008.
  2. ^ Wright, Laura (tháng 11 năm 2000). “Earth's interior: Raising hot spots”. Geotimes. American Geological Institute. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2008.
  3. ^ Christiansen, Robert L.; G.R. Foulger and John R. Evans (tháng 10 năm 2002). “Upper-mantle origin of the Yellowstone hotspot” (PDF). GSA Bulletin (Geological Society of America) 114 (10): 1245–1256. doi:10.1130/0016-7606(2002)114<1245:UMOOTY>2.0.CO;2. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2008.
  4. ^ Hagstrum, Jonathan T. (ngày 30 tháng 7 năm 2005). “Antipodal hotspots and bipolar catastrophes: Were oceanic large-body impacts the cause?” (PDF). Earth and Planetary Science Letters (Elsevier B.V.) 236 (1-2): 13–27. doi:10.1016/j.epsl.2005.02.020. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2008.

Liên kết ngoài

Chùm manti

Chùm manti là sự dâng lên của một khối đá nóng bất thường bên trong manti của Trái Đất. Phần đầu của chùm manti có thể gây tan chảy từng phần các đá nằm trên đường đi của nó khi nó xâm nhập lên gần mặt đất, đây cũng là nguyên nhân tạo ra các trung tâm núi lửa như điểm nóng và cũng có thể tạo ra lũ bazan. Quá trình này là một cách mất nhiệt của Trái Đất nhưng không phổ biến bằng kiểu mất nhiệt thông quan các rìa mảng kiến tạo (xem kiến tạo mảng). Một số nhà khoa học nghĩ rằng kiến tạo mảng làm nguội manti, và chùm manti làm lạnh lõi Trái Đất.

Dạng hình học của chuỗi núi ngầm Hawaii-Emperor và tuổi của các núi lửa dọc theo nó là một dấu hiệu quan trọng để chứng minh cho lý thuyết về chùm manti (Morgan, 1972 và Willson, 1963).

Khoa học Trái Đất

Khoa học trái đất hay Địa học bao gồm tất cả các lĩnh vực khoa học tự nhiên liên quan đến hành tinh Trái Đất. Đây là một nhánh của khoa học liên quan đến sự cấu tạo của trái đất và bầu khí quyển của nó. Khoa học trái đất nghiên cứu về các đặc điểm vật lý của hành tinh của loài người, từ động đất đến hạt mưa, và từ lũ lụt đến hóa thạch. Khoa học trái đất có thể được coi là một nhánh của khoa học vũ trụ, nhưng có lịch sử lâu đời hơn. Khoa học trái đất bao gồm bốn nhánh nghiên cứu chính,thạch quyển, thủy quyển, khí quyển, và sinh quyển, mỗi nhánh được chia nhỏ thành các lĩnh vực chuyên biệt hơn.

Khoa học trái đất được tiếp cận bằng cả hai hướng giản lược và toàn diện. Nó cũng bao gồm những nghiên cứu về Trái đất và các hành tinh lân cận khác trong không gian. Một số nhà khoa học trái đất sử dụng tri thức của họ về các hành tinh để định vị và phát triển tài nguyên năng lượng và khoáng sản. Số khác lại nghiên cứu tác động từ hoạt động của con người đến môi trường Trái đất; từ đó thiết kế những biện pháp bảo vệ hành tinh. Ngoài ra, số còn lại thì đi sâu hơn về nghiên cứu các hiện tượng trái đất như núi lửa, động đất, và bão để giúp con người tránh những thảm hoạ tàn khốc của thiên nhiên.

Khoa học trái đất có thể bao gồm các nghiên cứu về địa chất, thạch quyển, và cấu trúc quy mô lớn sâu bên trong lõi trái đất, cũng như là bầu khí quyển của trái đất, thủy quyển, và sinh quyển. Thông thường, các nhà khoa học trái đất sử dụng các công cụ địa lý, niên đại học, vật lý, hoá học, sinh học, và toán học để xây dựng hệ tri thức định lượng về cách Trái Đất vận động và phát triển. Khoa học trái đất ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Ví dụ như các nhà khí tượng học nghiên cứu thời tiết và theo dõi các cơn bão nguy hiểm. Các nhà thủy văn học nghiên cứu nước và cảnh báo lũ lụt. Các nhà địa chấn học nghiên cứu động đất và dự đoán nơi nó sẽ diễn ra. Các nhà địa chất nghiên cứu đá và giúp xác định vị trí của các khoáng chất hữu ích. Các nhà khoa học trái đất thường làm việc ngoài thực địa như leo núi, khám phá đáy biển, bò qua các hang động hoặc lội trong đầm lầy. Họ đo lường và thu thập các vật mẫu (như các mẫu đá hoặc nước sông), sau đó họ ghi chép lại phát hiện của họ trên các biểu đồ và bản đồ.

Khí hậu Ấn Độ

Khí hậu của Ấn Độ bao gồm nhiều điều kiện thời tiết khác nhau trên phạm vi địa lý rộng lớn và địa hình đa dạng, làm cho các khái quát hoá trở nên khó khăn. Dựa trên hệ thống Köppen, Ấn Độ có sáu tiểu thể khí hậu chính, từ sa mạc khô cằn ở phía tây, dốc núi cao và sông băng ở phía bắc và các vùng nhiệt đới ẩm ướt hỗ trợ các khu rừng nhiệt đới ở phía tây nam và đảo. Nhiều vùng có khí hậu cực kỳ khác biệt. Quốc gia này có bốn mùa: mùa đông (tháng 12, tháng 1 và tháng 2), mùa hè (tháng 3, tháng 4 và tháng 5), mùa mưa gió mùa (tháng 6 đến tháng 9) và mùa mưa hậu (tháng 10 đến tháng 11).

Địa lý và địa chất của Ấn Độ rất quan trọng về mặt khí hậu: sa mạc Thar ở phía tây bắc và dãy Himalayas ở phía bắc làm việc song song để tạo ra một chế độ gió quan trọng về văn hoá và kinh tế. Là dãy núi cao nhất và lớn nhất của Trái Đất, dãy Himalaya ngăn chặn dòng chảy của gió katabatic lạnh lẽo từ Cao nguyên băng giá Tây Tông và Bắc Trung Á. Phần lớn miền Bắc Ấn Độ được giữ ấm hoặc chỉ lạnh lẽo lạnh hoặc lạnh vào mùa đông; cùng một đập nhiệt giữ hầu hết các vùng ở Ấn Độ nóng vào mùa hè.

Mặc dù chí tuyến Bắc - ranh giới giữa vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới - đi qua giữa Ấn Độ, phần lớn đất nước có thể được coi là khí hậu nhiệt đới. Cũng như ở nhiều vùng nhiệt đới, gió mùa và các mô hình thời tiết khác ở Ấn Độ có thể không ổn định: các đợt hạn hán, lũ lụt, lốc xoáy, và các thảm hoạ thiên nhiên khác thường không thường xuyên, nhưng đã di dời hoặc chấm dứt hàng triệu cuộc sống của con người. Có một ý kiến ​​khoa học cho rằng ở Nam Á các sự kiện khí hậu như vậy có thể sẽ thay đổi về tính không thể đoán trước được, tần suất và mức độ nghiêm trọng. Các thay đổi thực vật đang diễn ra và trong tương lai và mực nước biển dâng hiện tại và sự ngập nước tại các vùng duyên hải ở Ấn Độ thấp là những tác động khác hiện tại hoặc dự đoán được do sự ấm lên toàn cầu.

Kiến tạo phủ

Kiến tạo phủ là một lý thuyết địa chất có nguồn gốc trong khái niệm lớp phủ mantle, đặc biệt phổ biến trong những năm 1930 và ban đầu không chấp nhận các kiến tạo mảng lớn và trôi dạt lục địa. Nó đã tồn tại từ những năm 1970 cho đến ngày nay dưới nhiều hình thức và bài thuyết trình khác nhau. Nó đã dần dần phát triển thành một khái niệm và chấp nhận các chuyển động của tấm quy mô lớn như được dự kiến bởi kiến tạo mảng, nhưng đặt chúng trong một khuôn khổ trong đó các lớp phủ lớn là động lực chính của hệ thống . Những tín đồ ban đầu của khái niệm này trong nửa đầu Thế kỷ 20 là các nhà khoa học như Beloussov và van Bemmelen, và gần đây, khái niệm này đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt là ở Nhật Bản, thông qua công trình biên soạn mới về thuyết cổ địa từ, và vẫn được nhóm các nhà khoa học ủng hộ khi Trái đất mở rộng . Ngày nay, nói chung không được chấp nhận là lý thuyết chính để giải thích các động lực của các chuyển động mảng kiến tạo, mặc dù nhiều điều chỉnh về khái niệm này đã được đề xuất.

Lý thuyết này tập trung vào các chuyển động của lớp phủ dưới các mảng kiến tạo, xem chúng là động lực chính của các chuyển động của (một phần) lớp vỏ Trái đất. Ở dạng hiện đại hơn, được hình thành vào những năm 1970, nó cố gắng điều hòa trong một mô hình địa động lực học duy nhất, khái niệm theo chiều ngang của kiến tạo mảng và các khái niệm theo chiều dọc của lớp phủ, bởi sự chuyển động hấp dẫn của các mảng từ lớp vỏ chính của Trái đất. Sự tồn tại của các siêu lục địa khác nhau trong lịch sử Trái đất và sự tan vỡ của chúng đã được liên kết gần đây với sự gia tăng lớn của lớp phủ.

Nó được phân loại cùng với đối lưu lớp phủ là một trong những cơ chế được sử dụng để giải thích các chuyển động của các mảng kiến tạo. Nó cũng cho thấy mối quan hệ với khái niệm các điểm nóng được sử dụng trong kiến tạo mảng hiện đại để tạo ra một khung các điểm nâng cao lớp phủ tương đối ổn định trong suốt thời gian và được sử dụng để hiệu chỉnh các chuyển động của mảng bằng cách sử dụng vị trí của chúng cùng với dữ liệu từ tính. Một mối quan hệ khác là khái niệm về kiến tạo đột biến mà dự kiến chảy qua lớp phủ như là động lực chính của kiến tạo mảng.

Macaronesia

Macaronesia là một tên tập tập hợp ngày nay chỉ cho một vài nhóm các hòn đảo ở Bắc Đại Tây Dương ngoài khơi bờ biển của châu Âu và châu Phi. Chúng thuộc về ba nước: Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, và Cabo Verde. Tên gọi (đôi khi viết sai chính tả "Macronesia" tương tự với Micronesia) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp nghĩa lá "hòn đảo của những người may mắn" μακάρων. νῆσοι makárōn NESOI, một thuật ngữ được sử dụng bởi các nhà địa lý Hy Lạp cổ đại cho hòn đảo phía tây của eo biển Gibraltar.

Macaronesia bao gồm năm quần đảo:

Azores (Bồ Đào Nha)

Quần đảo Canaria (Tây Ban Nha)

Quần đảo Cabo Verde (Cabo Verde)

Quần đảo Madeira (Bồ Đào Nha), gồm Quần đảo Desertas, Đảo Porto Santo, và Quần đảo SelvagensQuần đảo này có nguồn gốc núi lửa và được cho là sản phẩm của một số điểm nóng địa chất.

Núi lửa

Núi lửa là núi có miệng ở đỉnh, qua đó, từng thời kỳ, các chất khoáng nóng chảy với nhiệt độ và áp suất cao bị phun ra ngoài. Núi lửa phun là một hiện tượng tự nhiên trên Trái Đất hoặc các hành tinh vẫn còn hoạt động địa chấn khác, với các vỏ thạch quyển di chuyển trên lõi khoáng chất nóng chảy. Khi núi lửa phun, một phần năng lượng ẩn sâu trong lòng hành tinh sẽ được giải phóng.

Trên thế giới, Indonesia, Nhật Bản và Mỹ được xem là ba nước có nhiều núi lửa đang hoạt động nhất, theo thứ tự giảm dần về mức độ hoạt động.

Núi lửa đá lạnh

Một ngọn núi lửa đá lạnh là một gò đất hình nón băng hình thành trên một hồ nước trên mặt đất thông qua sự phun trào của nước và bùn băng qua một tảng băng. Quá trình này được điều khiển bằng sóng, với gió cung cấp năng lượng cho sóng cắt qua băng và tạo thành các núi lửa. Sau khi được đẩy ra ngoài khí quyển, nước lỏng và bùn đóng băng và rơi trở lại bề mặt, phát triển cấu trúc này. Băng cũng có thể bị phun trào. Hiện tượng này thường được quan sát dọc theo bờ biển phía nam của hồ Erie và hồ Ontario, khi nhiệt độ dưới mức đóng băng và gió thổi vào bờ với vận tốc ít nhất 40 km/h (25 mph). Chúng được biết là làm giảm xói mòn bờ biển ở đó. Các thành tạo chỉ là tạm thời - chúng thường xuyên bị phá hủy bởi bão và thời tiết ấm áp, và một khi hồ hoàn toàn đóng băng, các vụ phun trào không còn có thể.Không có tên đồng thuận cho hiện tượng này. Do sự tương đồng với núi lửa và đặc biệt là núi lửa băng, thuật ngữ "núi lửa đá" thường được sử dụng, nhưng nó vẫn còn gây tranh cãi. Không giống như các mạch nước phun và các cấu trúc liên quan, núi lửa đá không phải là thủy nhiệt.

Sự lên xuống có thể thu hút một số du khách, nhưng chúng rất nguy hiểm và các chuyên gia cảnh báo rằng mọi người có thể rơi xuống băng hoặc trượt xuống hồ nước lạnh. Núi lửa đá được sử dụng bởi những con cú tuyết làm nền tảng săn bắn để tìm kiếm chim nước.

Núi ngầm chóp phẳng

Trong địa chất biển, một Guyot (phát âm là /ɡiːˈjoʊ/), còn được gọi là một núi ngầm chóp phẳng, là một ngọn núi bị cô lập dưới núi lửa (núi ngầm) với đỉnh bằng phẳng hơn 200 m (660 ft) dưới mặt biển. Đường kính của các đỉnh phẳng này có thể vượt quá 10 km (6,2 mi). Guyot thường được tìm thấy nhiều nhất ở Thái Bình Dương, nhưng chúng đã được phát hiện ở tất cả các đại dương trừ Bắc Băng Dương.

Quần đảo Galápagos

Quần đảo Galápagos (tên chính thức: Archipiélago de Colón, tên tiếng Tây Ban Nha khác: Islas Galápagos, phát âm tiếng Tây Ban Nha: [ˈislas gaˈlapaɣos]) là một quần đảo, tập hợp các đảo núi lửa nằm về hai phía xích đạo trên Thái Bình Dương, cách đất liền của Ecuador 906 km (563 dặm) về phía tây và thuộc quốc gia này.

Quần đảo Galápagos và vùng nước xung quanh tạo thành tỉnh Galápagos của Ecuador, vườn quốc gia Galápagos và khu dự trữ biển Galápagos. Tiếng Tây Ban Nha là ngôn ngữ chính trên quần đảo và số dân ở đây vào khoảng hơn 25.000. Galápagos nổi tiếng với một số lượng lớn các loài đặc hữu từng được Charles Darwin nghiên cứu trong chuyến hành trình Beagle. Những quan sát và thu thập đã đóng góp cho sự khởi đầu thuyết tiến hóa của Darwin.

Con người đến Galápagos lần đầu vào năm 1535 một cách tình cờ khi giám mục Fray Tomás de Berlanga tới Peru để phân xử vụ tranh chấp giữa Francisco Pizarro và Diego de Almagro. Gió đã làm chệch hải trình và nhóm của Berlanga tới quần đảo vào ngày 10 tháng 3 năm 1535. Sau khi quay trở về đế quốc Tây Ban Nha, ông đã mô tả về nhóm đảo và những loài động vật cư trú ở đó. Quần đảo được chỉ ra và đặt tên trong tập atlas của Abraham Ortelius xuất bản năm 1570. Vào năm 1684, tên cướp biển Ambrose Cowley đã lập ra tấm bản đồ thô đầu tiên về quần đảo. Cowley đã đặt tên cho những hòn đảo riêng biệt theo tên của một số đồng bọn hoặc các hoàng thân và quý tộc Anh. Những tên này được dùng trong hải đồ chuẩn bị cho chuyến khảo sát Beagle do Robert Fitzroy chỉ huy và trong cuốn sách The Voyage of the Beagle nổi tiếng của Darwin. Đến năm 1832 nước Cộng hòa Ecuador mới đã tiếp quản quyền sở hữu quần đảo từ Tây Ban Nha và đặt cho nó những cái tên chính thức theo tiếng Tây Ban Nha. Các tên cũ vẫn còn được dùng trong các xuất bản phẩm tiếng Anh, trong đó có The Encantadas của Herman Melville.

Tây Bắc Hawaii

Quần đảo Tây Bắc Hawaii (tiếng Anh: Northwestern Hawaiian Islands) hay quần đảo Dưới Gió (tiếng Anh: Leeward Islands) là một nhóm các đảo và rạn san hô vòng thuộc khu vực phía tây bắc của quần đảo Hawaii. Quần đảo này (trừ rạn san hô vòng Midway) nằm dưới sự quản lý của quận Honolulu, tiểu bang Hawaii, Hoa Kỳ. Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ định nghĩa khu vực này là Dãy điều tra 114.98 thuộc quận Honolulu. Tổng diện tích đất của quần đảo là 3,1075 dặm vuông Anh (8,048 km2).

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.