Đới tách giãn Albertine

Đới tách giãn Albertine là nhánh phía tây của Đới tách giãn Đông Phi, bao gồm các bộ phận tại các quốc gia Uganda, Cộng hòa Dân chủ Congo (DRC), Rwanda, BurundiTanzania. Nó trải dài từ phía bắc của hồ Albert đến cuối phía nam của hồ Tanganyika. Thuật ngữ địa lý bao gồm các thung lũng và những ngọn núi xung quanh. [1]

GahingaMuhabura
Núi Gahinga (bên trái) và Núi Muhabura (phải) thuộc Dãy núi Virunga
Map of Great Rift Valley
Bản đồ của Đới tách giãn Albertine Rift ở phía Tây

Địa chất

Đới tách giãn Albertine và những ngọn núi xung quanh là kết quả của quá trình địa chất kiến tạo mảng mà dần dần mảng Somali tách ra khỏi phần còn lại của lục địa châu Phi. Các ngọn núi xung quanh rạn nứt ra được tạo thành từ việc nâng dần nền móng tiền Cambri, phủ lên trên đá núi lửa trong khoảng thời gian gần đây.

Tự nhiên

Sông hồ

Phần phía bắc bị chia cắt bởi hai dãy núi lớn, núi Rwenzori giữa Hồ Albert và Hồ Rutanzige (trước đây là Hồ Edward) và dãy núi Virunga giữa Hồ Rutanziga và hồ Kivu. Các đỉnh của dãy Virunga tạo thành một rào cản giữa các lưu vực sông Nin ở phía bắc và phía đông và lưu vực sông Congo ở phía tây và phía nam. Hồ Rutenzige được nuôi dưỡng bởi nhiều con sông lớn, sông Rutshuru là một trong số đó, nó chảy về phía bắc qua sông Semliki vào hồ Albert. Sông Victoria Nin chảy từ hồ Victoria vào cuối phía bắc của hồ Albert và chảy ra sông Nin Trắng từ một điểm ở phía tây, chảy về phía bắc đến Địa Trung Hải. [2]

Phía nam của Virunga, nước từ hồ Kivu chảy về phía nam vào hồ Tanganyika qua sông Ruzizi. Hồ Tanganyika sau đó chảy vào sông Congo qua sông Lukuga. [2] Dường như hệ thống thủy văn hiện nay được thiết lập trong khoảng thời gian gần đây khi các núi lửa Virunga phun trào và chặn dòng chảy về phía bắc của nước từ hồ Kivu vào hồ Edward, làm cho nó thay vì xả về phía nam vào hồ Tanganyika. Trước đó hồ Tanganyika, hoặc tiểu lưu vực riêng biệt trong những gì bây giờ là hồ, có thể đã không có lối thoát nước nào khác hơn là bốc hơi. [3] Các sông Lukuga đã hình thành gần đây, cung cấp một lộ trình mà qua đó các loài thủy sản lưu vực sông Congo có thể tới được Hồ Tanganyika.[4]

Núi

Mount Stanley
Núi Stanley, ngọn núi cao thứ 3 tại châu Phi

Từ phía bắc đến phía nam của đới tách giãn này là các đỉnh núi bao gồm cao nguyê Lendu, Núi Rwenzori, núi Virunga và Itombwe. [5] Núi Ruwenzori dài 120 km (75 dặm) và rộng 65 km (40 dặm). Nó bao gồm các Núi Stanley cao 5.119 mét (16.795 ft), núi Speke cao 4.890 mét (16.040 ft) và núi Baker cao 4.843 mét (15.889 ft). [6] Khối núi Virunga dọc theo biên giới Rwanda và Cộng hòa Dân chủ Congo bao gồm 8 ngọn núi lửa. Hai trong số này chính là Nyamuragira và Nyiragongo, những ngọn núi lửa vẫn còn hoạt động. [7]

Các khối núi bị cô lập về phía nam bao gồm Núi Bururi ở miền nam Burundi, núi Kungwe-Mahale ở phía tây Tanzania, và núi Kabobo, núi Marungu trên bờ hồ Tanganyika thuộc Cộng hòa Dân chủ Congo. [5] Hầu hết các núi đều cao từ 2.000 m (6.600 ft) tới 3.500 mét (11.500 ft). [8]

Tham khảo

  1. ^ Owiunji & Plumptre 2011, tr. 164.
  2. ^ a ă Erfurt-Cooper & Cooper 2010, tr. 35-36.
  3. ^ Clark 1969, tr. 35.
  4. ^ Hughes & Hughes 1992, tr. 562.
  5. ^ a ă WWF.
  6. ^ Erfurt-Cooper & Cooper 2010, tr. 37.
  7. ^ Erfurt-Cooper & Cooper 2010, tr. 36.
  8. ^ Birdlife.

Nguồn

Hồ Albert (châu Phi)

Hồ Albert cũng gọi là Albert Nyanza và tên trước đây Hồ Mobutu Sese Seko – là một trong các Hồ Lớn châu Phi. Đây là hồ lớn thứ bảy tại châu Phi, và hồ có dung tích lớn thứ 27 trên thế giới. Năm 1864, nhà thám hiểm Samuel Baker đã tìm ra hồ và đặt tên nó theo Thân vương Albert, phu quân của Nữ hoàng Victoria. Trong thế kỷ 20, tổng thống Congo Mobutu Sese Seko đã từng đặt tên của hồ theo tên chính ông.

Hồ Albert nằm tại trung tâm của lục địa châu Phi, tại biên giới giữa Uganda và Cộng hòa Dân chủ Congo. Hồ Albert là cực bắc của chuỗi hồ tại Đới tách giãn Albertine, nhánh phía tây của Đới tách giãn Đông Phi. Hồ có chiều dài 160 km (100 mi) và rộng 30 km (19 mi), độ sâu lớn nhất là 51 m (168 ft), và mặt nước nằm ở độ cao 619 m (2,030 ft) so với mực nước biển.

Hồ Albert là một phần của hệ thống phức tạp thượng lưu sông Nin. Nguồn chính của nó là Nin Victoria bắt nguồn từ hồ Victoria ở phía đông nam, và sông Semliki chảy ra từ hồ Edward ở phía tây nam. Nước của Nin Victoria có độ mặn thấp hơn nhiều nước ở hồ Albert. Dòng sông ở cực bắc của hồ này là Nin Albert (được gọi là Nin Núi khi nó chảy đến Nam Sudan).

Ở cực nam của hồ, nơi sông Semliki chảy đến, là các đầm lầy. Xa về phía nam hiện ra lờ mờ dãy núi Ruwenzori hùng vĩ, trong khi một dãy đồi gọi là Dãy núi Xanh vút lên ở bờ phía tây bắc. Các khu định cư dọc theo bờ này bao gồm Butiaba và Pakwach.

Hồ Edward

Hồ Edward hay Edward Nyanza là hồ nhỏ nhất trong các Hồ Lớn châu Phi. Hồ nằm trên Đới tách giãn Albertine, nhánh phía tây của Đới tách giãn Đông Phi, trên biên giới giữa Cộng hòa Dân chủ Congo và Uganda, bờ phía bắc của hồ chỉ cách xích đạo vài kilômét. Hồ được nhà thám hiểm Henry Morton Stanley đặt tên để tỏ lòng kính trọng Hoàng tử Albert Edward, Hoàng tử xứ Wales, người về sau trở thành Vua Edward VII.

Stanley thấy hồ lần đầu tiên vào năm 1875, và nghĩ rằng nó là một phần của hồ Albert, và đã đặt tên cho nó là vịnh Beatrice. Trong chuyến viếng thăm lần thứ 2 từ 1888 đến 1889, ông nhận ra rằng đây là hai hồ riêng biệt và đặt cho nó cái tên như hiện nay. Năm 1973, Uganda và Zaire (CHDC Congo) renamed đã đổi tên hồ thành Idi Amin hay Idi Amin Dada theo tên nhà độc tài Uganda Idi Amin. Sau khi ông ta bị lật đổ vào năm 1979, tên hồ được đổi lại thành Edward.

Hồ Edward lies nằm trên độ cao 920 mét, hồ dài 77 km và rộng 40 km ở những điểm cực đại, và có tổng diện tích bề mặt là 2.325 km2 (898 sq mi), và là hồ lớn thứ 15 tại lục địa. Hồ được cung cấp nước nhờ các sông Nyamugasani, Ishasha, Rutshuru, Ntungwe River và Rwindi. Hồ thoát nước ra phía bắc qua sông Semliki, sông này đổ nước vào hồ Albert. Hồ George ở phía đông bắc trút nước vào hồ Edward qua kênh Kazinga.

Phần dốc đứng của thung lũng Tách giãn Lớn nổi lên với chiều cao 2000 m trên mực nước biển nằm ở bờ phía tây của hồ. Bờ hồ phía đông và nam là vùng đồng bằng dung nham bằng phẳng. Dãy núi Ruwenzori nằm cách 20 km về phía bắc của hồ.

Hồ Kivu

Hồ Kivu là một trong các Hồ Lớn châu Phi. Hồ nằm trên biên giới giữa Cộng hòa Dân chủ Congo và Rwanda, và nằm tại đới tách giãn Albertine, nhánh phía tây của Đới tách giãn Đông Phi. Hồ Kivu thoát nước vào sông Ruzizi, sông này chảy về phía nam và đổ vào hồ Tanganyika. Tên gọi kivu có nghĩa là "hồ" trong tiếng Bantu, cũng giống như các từ tanganyika hay nyanza.

Hồ có diện tích mặt nước là 2.700 km2 (1.040 sq mi) và có độ cao 1.460 mét (4.790 ft) trên mực nước biển. Khoảng 1.370 km2 hay 58% mặt nước của hồ thuộc lãnh thổ Cộng hòa Dân chủ Congo. Đáy hồ nằm trên một thung lũng tách giãn đang dần bị tách ra, gây nên các hoạt động núi lửa trong khu vực, và khiến nó đặc biệt sâu: xấp xỉ 480 m (1.575 ft) và là hồ sâu thứ tám trên thế giới. Hồ có các dãy núi hùng vĩ bao bọc.

Đảo nội địa lớn thứ tám trên thế giới là Idjwi nằm tại hồ Kivu, cùng với đó là đảo nhỏ Tshegera, đều nằm trong ranh giới của vườn quốc gia Virunga; các điểm định cư ven bờ hồ bao gồm Bukavu, Kabare, Kalehe, Sake và Goma tại CHDC Congo và Gisenyi, Kibuye và Cyangugu tại Rwanda.

Các loài cá bản địa bao gồm Barbus, Clarias, và Haplochromis, cũng như cá mòi Tanganyika. Limnothrissa miodon, một trong hai loài được biết đến với cái tên cá mòi Tanganyika, được đưa đến vào năm 1959 và tạo nên cơ sở của một vùng thủy sản xa bờ. Vào đầu thập niên 1990, số ngư dân quanh hồ là 6.563 người, trong đó 3.027 liên quan đến thủy sản xa bờ và 3.536 là đánh bắt truyền thống. Xung đột vũ trang đã nổ ra ở khu vực xung quanh từ giữa thập niên 1990 đã khiến cho sản lượng thu hoạch thủy sản bị suy giảm.

Linh dương Waterbuck

Linh dương Waterbuck (Danh pháp hai phần: Kobus ellipsiprymnus) là một loài linh dương lớn phân bố rộng tại châu Phi hạ Sahara. Loài này thuộc chi Kobus, họ Bovidae. Loài này được nhà tự nhiên học người Ireland William Ogilby mô tả lần đầu tiên năm 1833. Có 13 phân loài được phân nhóm theo hai loại: Linh dương Waterbuck thông thường (hay còn gọi Linh dương Waterbuck nhóm Ellipsen) và linh dương Waterbuck nhóm Defassa. Chiều dài đầu đến hết thân đặc thù rơi vào giữa 177–235 cm (70–93 in) và chiều cao trung bình đạt giữa 120–136 cm (47–54 in). Linh dương Waterbuck dị hình giới tính, con đực cao hơn cũng như nặng hơn so với con cái. Linh dương đực có bờ vai cao xấp xỉ 127 cm (50 in), trong khi linh dương cái cao khoảng 119 cm (47 in). Con đực thường nặng 198–262 kg (437–578 lb), còn con cái nặng 161–214 kg (355–472 lb). Màu sắc lông biến thiên từ nâu đến xám. Sừng dài, xoắn ốc, chỉ xuất hiện trên đầu linh dương đực, cong ngược về sau, sau đó cong về phía trước và dài 55–99 cm (22–39 in).

Linh dương Waterbuck khá ít vận động trong tự nhiên. Là một loài động vật sống thành bầy, linh dương Waterbuck có thể tụ tập bầy đàn gồm 6 đến 30 cá thể. Những nhóm này hoặc đàn nuôi con với linh dương cái và con non, hoặc đàn linh dương đực đơn thân. Con đực bắt đầu chiếm lãnh thổ khi 5 tuổi, nhưng ưu thế nhất ở độ tuổi từ 6 đến 9. Linh dương Waterbuck không thể chịu đựng sự mất nước khi thời tiết nóng, do đó khu vực sinh sống luôn gần nguồn nước. Chủ yếu ăn cỏ, linh dương Waterbuck hầu hết sinh sống trên đồng cỏ. Tại miền xích đạo, giao phối diễn ra suốt cả năm, nhưng sinh sản đỉnh điểm vào mùa mưa. Thai kỳ kéo dài từ 7 đến 8 tháng, sinh duy nhất một con non.

Linh dương Waterbuck sinh sống tại rừng cây bụi hoặc xavan dọc sông, hồ và thung lũng. Do nhu cầu với đồng cỏ cũng như nguồn nước, linh dương phân phối chuyển tiếp sinh thái thưa thớt. IUCN liệt kê linh dương Waterbuck là loài ít quan tâm. Cụ thể hơn, linh dương Waterbuck thông thường được liệt kê là loài ít quan tâm trong khi linh dương Waterbuck nhóm defassa được liệt kê là loài sắp bị đe dọa. Xu hướng số lượng cả hai nhóm giảm xuống, đặc biệt về sau, quần thể lớn bị loại trừ khỏi nơi cư trú nhất định do nạn săn bắn và bị con người quấy nhiễu.

Năng lượng ở Uganda

Việc đốt các nguồn tài nguyên tái tạo cung cấp khoảng 90% năng lượng cho Uganda, mặc dù chính phủ đang cố gắng tự cung tự cấp năng lượng. Trong khi phần lớn tiềm năng thủy điện của nước này chưa được khai thác, quyết định của chính phủ để đẩy nhanh việc tạo năng lực sản xuất xăng dầu trong nước cùng với việc phát hiện trữ lượng dầu mỏ lớn hứa hẹn sẽ thay đổi đáng kể tình trạng của Uganda, hiện là một nước nhập khẩu năng lượng.

Thung lũng tách giãn

Thung lũng tách giãn (rift valley) hay còn gọi là thung lũng rip-tơ là một địa hình trũng thấp có dạng tuyến giữa các cao nguyên hay dãy núi được tạo thành bởi hoạt động rip-tơ hay đứt gãy.

Vườn quốc gia Bwindi

Vườn quốc gia Không thể xuyên qua Bwindi hay Vườn quốc gia Bwindi là một vườn quốc gia nằm ở phía tây nam Uganda. Đây là một phần của Rừng Không thể xuyên qua Bwindi và nằm dọc theo biên giới với Cộng hòa Dân chủ Congo, tiếp giáp với Vườn quốc gia Virunga, trên rìa của Đới tách giãn Albertine (một phần của Đới tách giãn Đông Phi). Vườn quốc gia này có diện tích 321 kilômét vuông (124 sq mi) của những khu Rừng trên núi và đất thấp và chỉ có thể tiếp cận được bằng đi bộ. Vườn quốc gia này đã được UNESCO đưa vào danh sách Di sản thế giới nhờ sự giàu có và đa dạng của hệ sinh thái bậc nhất châu Phi.Đây là một trong những nơi giàu nhất về các hệ sinh thái ở châu Phi. Nó cung cấp môi trường sống cho 120 loài động vật có vú, 349 loài chim, 220 loài bướm, 27 loài ếch, tắc kè hoa, thằn lằn cùng nhiều loài có nguy cơ tuyệt chủng. Về hệ thực vật, đây là nhà của hơn 1.000 loài thực vật có hoa, trong đó có 163 loài cây và 104 loài dương xỉ. Khu vực phía bắc, nơi có độ cao thấp hơn là nơi có nhiều loài thực vật điển hình của Guinea-Congo, bao gồm hai loài bị đe dọa là Gụ nâu Kilimanjaro và Lộc vừng. Đặc biệt, khu vực này có mức độ đặc hữu cao các loài của Đới tách giãn Albertine.

Vườn quốc gia là một khu bảo tồn quan trọng của loài Khỉ Colobus đen trắng, Tinh tinh và nhiều loài chim như Hồng hoàng và Turaco. Nhưng đáng chú ý nhất chính là sự có mặt của 400 con Khỉ đột núi đang có nguy cơ tuyệt chủng, chiếm một nửa số lượng loài này trên toàn cầu. Có 14 quần thể khỉ đột núi quen thuộc được mở cửa cho du khách tham quan tại bốn tiểu khu Buhoma, Ruhijja, Rushaga và Nkuringo, chịu sự quản lý của Cơ quan Động vật hoang dã Uganda.

Vườn quốc gia Dãy núi Rwenzori

Vườn quốc gia Dãy núi Rwenzori là một vườn quốc gia ở Uganda và là một Di sản thế giới được UNESCO công nhận nằm trong Dãy núi Rwenzori. Với diện tích gần 1.000 km2 (386 sq mi), vườn quốc gia là nơi có đỉnh Stanley, là đỉnh núi cao thứ ba tại châu Phi, cùng nhiều thác nước, sông, hồ khiến nơi đây trở thành một trong những khu vực núi non đẹp nhất của châu Phi. Vườn quốc gia còn là môi trường sống tự nhiên của nhiều loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng cùng một hệ thực vật vô cùng phong phú.

Vườn quốc gia Kahuzi-Biéga

Vườn quốc gia Kahuzi-Biéga là một vườn quốc gia nằm gần thị trấn Bukavu, miền đông Cộng hòa Dân chủ Congo. Nó nằm gần bờ phía tây của Hồ Kivu, gần biên giới với Rwanda. Được thành lập vào năm 1970 bởi nhiếp ảnh gia và là nhà bảo tồn người Bỉ Adrien Deschryver. Tên của vườn quốc gia được đặt theo tên của hai ngọn núi lửa đã tắt là Núi Kahuzi và Biega nằm trong ranh giới của vườn quốc gia. Với diện tích 6.000 kilômét vuông (2.300 sq mi), Kahuzi-Biéga là một trong những vườn quốc gia lớn nhất đất nước. Với địa hình đối núi xen lẫn đồng bằng, đây là một trong số ít những nơi trú ẩn cuối cùng của loài Khỉ đột đất thấp phía Đông, một loài trong Sách Đỏ IUCN ở mức Cực kỳ nguy cấp. Vườn quốc gia được UNESCO công nhận là Di sản thế giới từ năm 1980 vì sự đa dạng độc đáo của môi trường rừng nhiệt đới là môi trường sống của một trong số những loài bị đe dọa tuyệt chủng là Khỉ đột đất thấp phía Đông.

Vườn quốc gia Virunga

Vườn quốc gia Virunga (tiếng Pháp: Parc national des Virunga), trước đây tên là Vườn quốc gia Albert, là một vườn quốc gia nằm trong Đới tách giãn Albertine ở phía đông Cộng hòa Dân chủ Congo. Được thành lập năm 1925, đây là một trong số những khu vực được bảo vệ đầu tiên ở châu Phi. Độ cao của nó dao động từ 680 m (2.230 ft) trong thung lũng sông Semliki đến 5.109 m (16.762 ft) tại Dãy núi Rwenzori. Chiều từ bắc xuống nam của vườn quốc gia khoảng 300 km (190 mi), phần lớn dọc theo biên giới quốc tế với Uganda và Rwanda ở phía đông. Với diện tích 8.090 km2 (3.120 sq mi), vườn quốc gia được UNESCO công nhận là Di sản thế giới từ năm 1979 và bị liệt vào Danh sách di sản thế giới bị đe dọa từ năm 1994.Trong ranh giới vườn quốc gia là hai ngọn núi lửa vẫn đang hoạt động là Núi Nyiragongo và Nyamuragira. Chúng định hình đáng kể môi trường sống và tạo ra sự đa dạng hệ động thực vật hoang dã của vườn quốc gia. Đây là nhà của hơn 3.000 loài động thực vật, trong đó có 300 loài đặc hữu của Đới tách giãn Albertine, trong đó phải kể đến Khỉ đột miền Đông và Khỉ vàng.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.