Đới tách giãn Đông Phi

Đới tách giãn Đông Phi (tiếng Anh: East African Rift), một phần của Thung lũng tách giãn Lớn, là một ranh giới mảng tách giãn đang phát triển. Nó đang chia tách mảng châu Phi thành 2 mảng nhỏ là mảng Nubi và Somali. Đới tách giãn này kéo dài từ ngã ba Afar ở miền võng Afar xuyên qua miền đông châu Phi về phía nam. Người ta tin rằng nó chạy ở ngoài khơi bờ biển Mozambique dọc theo đới tách giãn hay địa hào Kerimba và Lacerda.[1] Nó kết thúc ở đới đứt gãy Andrew Bain; vị trí này được xem là một phần của nối ba này với sống núi tây nam Ấn Độ.[2]

Đới tách giãn Đông Phi là một đới tách giãn có hoạt động bất thường trên vỏ đại dương trên thế giới, và hầu hết nằm dưới biển. Bên cạnh đó đới tách giãn Baikal nhỏ hơn nằm ở phía đông Nga và xa hơn, đới tách giãn tây Nam Cực bị băng phủ là ví dụ duy nhất về tách giãn trên lục địa đang hoạt động trên Trái Đất.

Đới tách giãn Đông Phi bao gồm hai nhánh chính được gọi là thung lũng tách giãn phía Đông và thung lũng tách giãn phía Tây. Các kết quả nghiên cứu về hoạt động của các đứt gãy thuận cắm sâu cho thấy đây là loại đới tách giãn kiến tạo đặc biệt.

Great Rift Valley
Đới tách giãn Đông Phi

Hoạt động núi lửa

Đới tách giãn Đông Phi bao gồm một số núi lửa đang hoạt động cũng như đã tắt như núi Kilimanjaro, núi Kenya, núi Longonot, núi Menengai, núi Karisimbi, núi Nyiragongo, núi Merunúi Elgon cũng như cao nguyên miệng núi lửa ở Tanzania. Núi lửa Ol Doinyo Lengai vẫn còn hoạt động và là núi lửa phun natrocarbonatit duy nhất trên thế giới.

Tham khảo

  1. ^ Mougenot, D.; Recq, M.; Virlogeux, P.; Lepvrier, C. (ngày 5 tháng 6 năm 1986). “Seaward extension of the East African Rift”. Nature 321: 599–603. doi:10.1038/321599a0. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2009.
  2. ^ Lemaux, James, II; Gordon, Richard G.; Royer, Jean-Yves (tháng 4 năm 2002). “Vị trí của the Nubia-Somalia boundary along the Southwest Indian Ridge”. Geology 30 (4): 339–342. doi:10.1130/0091-7613(2002)030<0339:LOTNSB>2.0.CO;2.
Addis Ababa

Addis Ababa (tiếng Amhara: አዲስ አበባ?, Addis Abäba IPA: [adˈdis ˈabəba] (), "bông hoa mới"; hay Addis Abeba; tiếng Oromo: Finfinne "suối tự nhiên") là thủ đô và thành phố lớn nhất của Ethiopia. Đây là nơi đặt trụ sở chính phủ liên bang. Theo thống kê dân số 2007, thành phố có tổng dân số 2.739.551 người.Là một thành phố hiến chương (ras gez astedader), Addis Ababa có vai trò của một thành thành phố lẫn một bang. Đây còn là nơi mà cả Liên minh châu Phi (AU) lẫn tổ chức tiền thân Tổ chức châu Phi Thống nhất (OAU) đặt trụ sở. Addis Ababa do vậy mang danh "thủ phủ chính trị châu Phi" vì vai trò chính trị, ngoại giao, lịch sử với châu lục. Về địa lý, thành phố nằm cách đới tách giãn Đông Phi chỉ mấy dặm về phía tây.Dân cư thành phố bắt nguồn khắp mọi miền của Ethiopia.

Andosols

Andosols (bắt nguồn từ tiếng Nhật an nghĩa là sẫm và do nghĩa là đất, một từ đồng nghĩa của kuroboku) là loại đất hiện diện tại những vùng núi lửa, hình thành trên nền vật liệu vụn núi lửa. Trong một số trường hợp, cũng có thể tìm thấy Andosols tại những vùng ngoài nơi núi lửa hoạt động. Đất Andosols bao phủ khoảng 1–2% diện tích đất liền không đóng băng của Trái Đất. Andosols có mối liên hệ chặt chẽ với những loại đất khác như Vitrosols, Vitrandosols, Vitrons và đất đá bọt (Pumice Soils), xuất hiện trong các hệ thống phân loại đất khác nhau.

Loại Andosols kém phát triển thường có nhiều trong những vật liệu thủy tinh (vitreous material), nên còn được gọi là Vitric Andosols.

Thường lệ, Andosols được định nghĩa là loại đất có tỷ lệ cao vật liệu thủy tinh và chất keo vô định hình, bao gồm allophane, imogolite và ferrihydrite. Trong hệ thống phân loại đất USDA, Andosols được thay bằng Andisols.Do tuổi đất hầu như khá trẻ, nên Andosols điển hình rất màu mỡ, ngoại trừ trường hợp đất nằm ở những nơi dễ cố định phospho (một quá trình đôi lúc xuất hiện tại vùng nhiệt đới). Đất thích hợp cho thâm canh cây trồng, như tại đảo Java, Andosols nuôi dưỡng một diện tích lớn đồng ruộng lúa nước, đem lại nguồn lương thực cho vùng đất thuộc diện đông dân nhất thế giới. Andosols cũng phù hợp để trồng trên đó các loại cây ăn quả, ngô, trà, cà phê và thuốc lá. Tại vùng Tây Bắc Thái Bình Dương Hoa Kỳ, Andosols làm nền cho những mảnh rừng rậm rạp tươi tốt.

Andosols chiếm khoảng 1% diện tích đất liền không đóng băng trên toàn cầu. Tập trung chủ yếu quanh Vành đai lửa Thái Bình Dương, gồm những khu vực hiện hữu rộng nhất nằm ở trung tâm Chile, Ecuador, Colombia, Mexico, Tây Bắc Thái Bình Dương Hoa Kỳ, Nhật Bản, Java và Đảo Bắc New Zealand. Andosols cũng hiện diện ở Đới tách giãn Đông Phi, Ý, Iceland và Hawaii.

Andosols hóa thạch xuất hiện ở những vùng cách xa các nơi có hoạt động núi lửa ngày nay, và trong một số trường hợp lui tận về thời kỳ Tiền Cambri, cách đây 1,5 tỷ năm.

Hồ Albert (châu Phi)

Hồ Albert cũng gọi là Albert Nyanza và tên trước đây Hồ Mobutu Sese Seko – là một trong các Hồ Lớn châu Phi. Đây là hồ lớn thứ bảy tại châu Phi, và hồ có dung tích lớn thứ 27 trên thế giới. Năm 1864, nhà thám hiểm Samuel Baker đã tìm ra hồ và đặt tên nó theo Thân vương Albert, phu quân của Nữ hoàng Victoria. Trong thế kỷ 20, tổng thống Congo Mobutu Sese Seko đã từng đặt tên của hồ theo tên chính ông.

Hồ Albert nằm tại trung tâm của lục địa châu Phi, tại biên giới giữa Uganda và Cộng hòa Dân chủ Congo. Hồ Albert là cực bắc của chuỗi hồ tại Đới tách giãn Albertine, nhánh phía tây của Đới tách giãn Đông Phi. Hồ có chiều dài 160 km (100 mi) và rộng 30 km (19 mi), độ sâu lớn nhất là 51 m (168 ft), và mặt nước nằm ở độ cao 619 m (2,030 ft) so với mực nước biển.

Hồ Albert là một phần của hệ thống phức tạp thượng lưu sông Nin. Nguồn chính của nó là Nin Victoria bắt nguồn từ hồ Victoria ở phía đông nam, và sông Semliki chảy ra từ hồ Edward ở phía tây nam. Nước của Nin Victoria có độ mặn thấp hơn nhiều nước ở hồ Albert. Dòng sông ở cực bắc của hồ này là Nin Albert (được gọi là Nin Núi khi nó chảy đến Nam Sudan).

Ở cực nam của hồ, nơi sông Semliki chảy đến, là các đầm lầy. Xa về phía nam hiện ra lờ mờ dãy núi Ruwenzori hùng vĩ, trong khi một dãy đồi gọi là Dãy núi Xanh vút lên ở bờ phía tây bắc. Các khu định cư dọc theo bờ này bao gồm Butiaba và Pakwach.

Hồ Edward

Hồ Edward hay Edward Nyanza là hồ nhỏ nhất trong các Hồ Lớn châu Phi. Hồ nằm trên Đới tách giãn Albertine, nhánh phía tây của Đới tách giãn Đông Phi, trên biên giới giữa Cộng hòa Dân chủ Congo và Uganda, bờ phía bắc của hồ chỉ cách xích đạo vài kilômét. Hồ được nhà thám hiểm Henry Morton Stanley đặt tên để tỏ lòng kính trọng Hoàng tử Albert Edward, Hoàng tử xứ Wales, người về sau trở thành Vua Edward VII.

Stanley thấy hồ lần đầu tiên vào năm 1875, và nghĩ rằng nó là một phần của hồ Albert, và đã đặt tên cho nó là vịnh Beatrice. Trong chuyến viếng thăm lần thứ 2 từ 1888 đến 1889, ông nhận ra rằng đây là hai hồ riêng biệt và đặt cho nó cái tên như hiện nay. Năm 1973, Uganda và Zaire (CHDC Congo) renamed đã đổi tên hồ thành Idi Amin hay Idi Amin Dada theo tên nhà độc tài Uganda Idi Amin. Sau khi ông ta bị lật đổ vào năm 1979, tên hồ được đổi lại thành Edward.

Hồ Edward lies nằm trên độ cao 920 mét, hồ dài 77 km và rộng 40 km ở những điểm cực đại, và có tổng diện tích bề mặt là 2.325 km2 (898 sq mi), và là hồ lớn thứ 15 tại lục địa. Hồ được cung cấp nước nhờ các sông Nyamugasani, Ishasha, Rutshuru, Ntungwe River và Rwindi. Hồ thoát nước ra phía bắc qua sông Semliki, sông này đổ nước vào hồ Albert. Hồ George ở phía đông bắc trút nước vào hồ Edward qua kênh Kazinga.

Phần dốc đứng của thung lũng Tách giãn Lớn nổi lên với chiều cao 2000 m trên mực nước biển nằm ở bờ phía tây của hồ. Bờ hồ phía đông và nam là vùng đồng bằng dung nham bằng phẳng. Dãy núi Ruwenzori nằm cách 20 km về phía bắc của hồ.

Hồ Kivu

Hồ Kivu là một trong các Hồ Lớn châu Phi. Hồ nằm trên biên giới giữa Cộng hòa Dân chủ Congo và Rwanda, và nằm tại đới tách giãn Albertine, nhánh phía tây của Đới tách giãn Đông Phi. Hồ Kivu thoát nước vào sông Ruzizi, sông này chảy về phía nam và đổ vào hồ Tanganyika. Tên gọi kivu có nghĩa là "hồ" trong tiếng Bantu, cũng giống như các từ tanganyika hay nyanza.

Hồ có diện tích mặt nước là 2.700 km2 (1.040 sq mi) và có độ cao 1.460 mét (4.790 ft) trên mực nước biển. Khoảng 1.370 km2 hay 58% mặt nước của hồ thuộc lãnh thổ Cộng hòa Dân chủ Congo. Đáy hồ nằm trên một thung lũng tách giãn đang dần bị tách ra, gây nên các hoạt động núi lửa trong khu vực, và khiến nó đặc biệt sâu: xấp xỉ 480 m (1.575 ft) và là hồ sâu thứ tám trên thế giới. Hồ có các dãy núi hùng vĩ bao bọc.

Đảo nội địa lớn thứ tám trên thế giới là Idjwi nằm tại hồ Kivu, cùng với đó là đảo nhỏ Tshegera, đều nằm trong ranh giới của vườn quốc gia Virunga; các điểm định cư ven bờ hồ bao gồm Bukavu, Kabare, Kalehe, Sake và Goma tại CHDC Congo và Gisenyi, Kibuye và Cyangugu tại Rwanda.

Các loài cá bản địa bao gồm Barbus, Clarias, và Haplochromis, cũng như cá mòi Tanganyika. Limnothrissa miodon, một trong hai loài được biết đến với cái tên cá mòi Tanganyika, được đưa đến vào năm 1959 và tạo nên cơ sở của một vùng thủy sản xa bờ. Vào đầu thập niên 1990, số ngư dân quanh hồ là 6.563 người, trong đó 3.027 liên quan đến thủy sản xa bờ và 3.536 là đánh bắt truyền thống. Xung đột vũ trang đã nổ ra ở khu vực xung quanh từ giữa thập niên 1990 đã khiến cho sản lượng thu hoạch thủy sản bị suy giảm.

Hồ Lớn châu Phi

Hồ Lớn châu Phi hay Đại Hồ châu Phi là một chuỗi các hồ tạo thành một phần của các hồ Thung lũng Đứt gãy nằm tại và xung quanh Đới tách giãn Đông Phi. Chúng bao gồm hồ Victoria, hồ nước ngọt lớn thứ hai thế giới về diện tích bề mặt; và hồ Tanganyika, hồ lớn thứ hai thế giới về dung tích và cũng là hồ sâu thứ hai thế giới. Thuật ngữ Hồ Lớn cũng được sử dụng, nhưng ít phổ biến.

Các Hồ Lớn châu Phi nằm trong ba lưu vực sông khác nhau, và một số, chẳng hạn như hồ Turkana, có hệ thống thoát nước nội bộ. Các hồ được sắp xếp từ lớn nhất đến nhỏ nhất, có mặt trong hầu hết danh sách về các Hồ Lớn châu Phi:

Hồ Victoria

Hồ Tanganyika

Hồ Malawi

Hồ Turkana

Hồ Albert

Hồ Kivu

Hồ EdwardMột số cho rằng các Hồ Lớn châu Phi chỉ có bao gồm hồ Victoria, hồ Albert, và hồ Edward, chúng là ba hồ duy nhất thuộc lưu vực sông Nin Trắng. Hồ Kyoga là một phần của hệ thống Hồ Lớn, song nó lại không được coi là một phần của Hồ Lớn do kích thước của nó. Hồ Tanganyika và hồ Kivu đều thuộc lưu vực sông Congo, trong khi hồ Malawi đổ nước vào sông Shire tới Zambezi. Hồ Turkana không có dòng thoát nước ra.

Hai hồ khác gần hồ Tanganyika không xuất hiện trong danh sách mặc dù chúng lớn hơn Edward và Kivu: hồ Rukwa và hồ Mweru.

Bởi thuật ngữ này không rõ ràng, nên nhiều khi các thuật ngữ như Các Hồ Thung lũng Đứt gãy châu Phi hay các Hồ Đông Phi được sử dụng.

Hồ Malawi

Hồ Malawi (cũng gọi là Hồ Nyasa hoặc Hồ Nyassa, Hồ Niassa, hay Lago Niassa ở Mozambique), là một trong các hồ Lớn châu Phi. Hồ này nằm ở vùng cực nam của hệ Thung lũng tách giãn Lớn ở Đông Phi. Đây là hồ lớn thứ ba ở châu Phi và là hồ lớn thứ 8 trên thế giới và cũng là hồ sâu thứ nhì châu Phi. Nó nằm giữa các nước Malawi, Mozambique và Tanzania. Vùng nước nhiệt đới của hồ lớn này được cho là nơi sinh sống của nhiều loài cá hơn bất cứ vùng nước ngọt nào trên thế giới, trong đó có trên 1.000 loài cá hoàng đế.Hồ Malawi đã được chính phủ Mozambique chính thức công bố là khu bảo tồn vào ngày 10.6.2011 trong một nỗ lực nhằm bảo vệ một trong các hồ nước ngọt lớn nhất và đa dạng sinh quyển trên thế giới

Hồng hạc nhỏ

Hồng hạc nhỏ (danh pháp khoa học: Phoenicopterus minor) là một loài hồng hạc. Đây oài chim cư trú ở châu Phi (chủ yếu là trong Đới tách giãn Đông Phi) và miền nam châu Á. Chim đôi khi được ghi nhận ở xa hơn về phía bắc, nhưng đây là những thường được coi là những con chim trốn thoát.

Đây là loài hồng hạc nhỏ nhất. Loài này cân nặng từ 1,2 đến 2,7 kg (2,6 đến 6,0 lb).. Chiều cao đứng là khoảng 80 đến 90 cm (31 đến 35 in). Tổng chiều dài (từ mỏ đến đuôi) và sải cánh là trong cùng một phạm vi các cách đo, từ 90 đến 105 cm (35 đến 41 in).

Hầu hết bộ lông hơi trắng hồng. Sự khác biệt rõ ràng nhất giữa loài này và hồng hạc lớn, là màu đen rộng hơn rất nhiều trên mỏ.

Khu bảo tồn Ngorongoro

Khu bảo tồn Ngorongoro (NCA) là một khu bảo tồn thiên nhiên và di sản thế giới nằm cách 180 km (110 dặm) về phía tây Arusha, trên khu vực Cao nguyên Ngorongoro thuộc Tanzania. Khu vực này được đặt tên theo tên của Miệng núi lửa Ngorongoro, một núi lửa lớn nằm trong vườn quốc gia. Được quản lý bởi Cơ quan Bảo tồn Khu vực Ngorongoro, một đơn vị của Chính phủ Tanzania, vườn quốc gia nằm trong ranh giới của vùng Arusha.

Được thành lập vào năm 1959 với diện tích ban đầu là 809.440 ha, vườn quốc gia nằm ở phía Đông nam của Vườn quốc gia Serengeti, phía Tây của Thung lũng tách giãn Lớn. Đây là một khu bảo tồn động vật hoang dã lớn, đồng thời là công viên khảo cổ với các bằng chứng tiến hóa của con người, bao gồm dấu vết của vượn người có niên đại lên đến 3,6 triệu năm.

Việc xây dựng khách sạn du lịch sang trọng trong Khu bảo tồn cho phép mọi người tiếp cận với vẻ đẹp tuyệt vời của một trong những khu bảo tồn động vật hoang dã ít biến đổi nhất thế giới, thậm chí hàng ngàn người Maasai đã bị cưỡng chế ra khỏi khu vực và ngăn không cho họ tiếp cận với nguồn nước cho gia súc của họ.

Linh dương Waterbuck

Linh dương Waterbuck (Danh pháp hai phần: Kobus ellipsiprymnus) là một loài linh dương lớn phân bố rộng tại châu Phi hạ Sahara. Loài này thuộc chi Kobus, họ Bovidae. Loài này được nhà tự nhiên học người Ireland William Ogilby mô tả lần đầu tiên năm 1833. Có 13 phân loài được phân nhóm theo hai loại: Linh dương Waterbuck thông thường (hay còn gọi Linh dương Waterbuck nhóm Ellipsen) và linh dương Waterbuck nhóm Defassa. Chiều dài đầu đến hết thân đặc thù rơi vào giữa 177–235 cm (70–93 in) và chiều cao trung bình đạt giữa 120–136 cm (47–54 in). Linh dương Waterbuck dị hình giới tính, con đực cao hơn cũng như nặng hơn so với con cái. Linh dương đực có bờ vai cao xấp xỉ 127 cm (50 in), trong khi linh dương cái cao khoảng 119 cm (47 in). Con đực thường nặng 198–262 kg (437–578 lb), còn con cái nặng 161–214 kg (355–472 lb). Màu sắc lông biến thiên từ nâu đến xám. Sừng dài, xoắn ốc, chỉ xuất hiện trên đầu linh dương đực, cong ngược về sau, sau đó cong về phía trước và dài 55–99 cm (22–39 in).

Linh dương Waterbuck khá ít vận động trong tự nhiên. Là một loài động vật sống thành bầy, linh dương Waterbuck có thể tụ tập bầy đàn gồm 6 đến 30 cá thể. Những nhóm này hoặc đàn nuôi con với linh dương cái và con non, hoặc đàn linh dương đực đơn thân. Con đực bắt đầu chiếm lãnh thổ khi 5 tuổi, nhưng ưu thế nhất ở độ tuổi từ 6 đến 9. Linh dương Waterbuck không thể chịu đựng sự mất nước khi thời tiết nóng, do đó khu vực sinh sống luôn gần nguồn nước. Chủ yếu ăn cỏ, linh dương Waterbuck hầu hết sinh sống trên đồng cỏ. Tại miền xích đạo, giao phối diễn ra suốt cả năm, nhưng sinh sản đỉnh điểm vào mùa mưa. Thai kỳ kéo dài từ 7 đến 8 tháng, sinh duy nhất một con non.

Linh dương Waterbuck sinh sống tại rừng cây bụi hoặc xavan dọc sông, hồ và thung lũng. Do nhu cầu với đồng cỏ cũng như nguồn nước, linh dương phân phối chuyển tiếp sinh thái thưa thớt. IUCN liệt kê linh dương Waterbuck là loài ít quan tâm. Cụ thể hơn, linh dương Waterbuck thông thường được liệt kê là loài ít quan tâm trong khi linh dương Waterbuck nhóm defassa được liệt kê là loài sắp bị đe dọa. Xu hướng số lượng cả hai nhóm giảm xuống, đặc biệt về sau, quần thể lớn bị loại trừ khỏi nơi cư trú nhất định do nạn săn bắn và bị con người quấy nhiễu.

Ol Doinyo Lengai

Ol Doinyo Lengai là núi lửa vẫn còn hoạt động và là núi lửa phun natrocarbonatit duy nhất trên thế giới, trong đới tách giãn Đông Phi.

Ol Doinyo Lengai là một ngọn núi lửa hoạt động nằm ở phía bắc Tanzania và là một phần của hệ thống núi lửa của thung lũng Great Rift ở Đông Phi. Nó nằm trong các thung lũng Rift phía đông, phía nam của cả hai ngổn ngang hồ và Kenya. Nó là duy nhất trong số các núi lửa hoạt động nó tạo ra dung nham natrocarbonatite, một sự xuất hiện độc đáo của carbonatite núi lửa. Hơn nữa, nhiệt độ của dung nham của nó như nó nổi lên là chỉ có khoảng 510 °C (950 °F). Một vài núi lửa cũ carbonatite tuyệt chủng đang nằm gần đó, bao gồm cả núi Homa.

Ranh giới phân kỳ

Trong kiến tạo mảng, ranh giới phân kỳ hay ranh giới mảng phân kỳ (hay còn gọi là ranh giới xây dựng hoặc ranh giới tách giãn) là một yếu tố dạng tuyến nằm giữa hai mảng kiến tạo và hai mảng này chuyển động ngày càng xa nhau. Các khu vực này có thể hình thành ở trên lục địa, nhưng gặp nhiều nhất ở bồn đại dương. Các ranh giới tách giãn trên lục địa đầu tiên là tạo ra rift ở dạng thung lũng tách giãn. Nếu quá trình tạo rift ngừng lại gọi là rift không hoàn chỉnh. Dù vậy, hầu hết các ranh giới mảng phân kỳ giữa các mảng đại dương thường được gọi là các sống núi giữa đại dương. Các ranh giới này cũng tạo thành quần đảo núi lửa.

Although still an area of active research, Nó xuất hiện tùy thuộc vào đối lưu phức tạp trong các vật liệu manti của Trái Đất dâng lên từ thạch quyển bên dưới ranh giới mảng phân kỳ.

Quá trình này cung cấp một lượng nhiệt rất lớn và làm giảm áp suất của đá nóng chảy từ quyển mềm (hoặc manti trên) bên dưới khu vực rift tạo thành lũ bazan hay dòng dung nham. Sự phun trào này chỉ diễn ra trong một phần của ranh giới mảng và vào bất cứ lúc nào, nhưng khi nó phun trào, nó lấp đầy vào khoảng trống giữa hai mảng đồng thời đẩy hai mảng ra xa nhau. Tốc độ di chuyển của nó nhanh bằng tốc độ mọc móng tay của con người (khoảng 2 cm một năm).Hàng triệu năm qua, các mảng đã di chuyển hàng trăm km về hai phía của ranh giới phân kỳ. Do đó, các đá ở gần ranh giói này trẻ hơn các đá nằm xa hơn trên cùng một mảng.

Sư tử

Sư tử (tên khoa học Panthera leo) là một trong những đại miêu trong họ Mèo và là một loài của chi Báo. Được xếp mức sắp nguy cấp trong thang sách Đỏ IUCN từ năm 1996, các quần thể loài này ở châu Phi đã bị sụt giảm khoảng 43% từ những năm đầu thập niên 1990. Trong văn hóa phương Tây, sư tử còn có biệt danh là Chúa tể sơn lâm (King of Beats) hay Vua sư tử (Lion King). Sư tử là lưỡng hình tình dục; con đực lớn hơn con cái với phạm vi trọng lượng điển hình từ 150 đến 250 kg (330 đến 550 lb) đối với con đực và 120 đến 182 kg (265 đến 400 lb) đối với con cái, là loài lớn thứ nhì họ Mèo sau hổ. Đối với sư tử đực thì rất dễ dàng nhận ra được bởi bờm của nó. Sư tử hoang dã hiện sinh sống ở vùng châu Phi hạ Saharan và châu Á (nơi quần thể còn sót lại cư ngụ ở vườn quốc gia Rừng Gir thuộc Ấn Độ), các phân loài sư tử tuyệt chủng từng sống ở Bắc Phi và Đông Nam Á. Cho tới cuối Pleistocene, khoảng 10 000 năm trước, sư tử là động vật có vú có phân bố rộng thứ 2 chỉ sau con người. Khi đó, chúng sống ở hầu khắp châu Phi, ngang qua lục địa Á-Âu từ miền Tây Âu tới Ấn Độ, và châu Mỹ từ Yukon tới Peru. Sư tử là loài sắp nguy cấp, chúng đã được liệt kê là loài dễ bị tổn thương trong sách đỏ IUCN kể từ năm 1996 bởi vì quần thể ở các nước châu Phi đã giảm khoảng 43% kể từ đầu những năm 1990. Nhiều quần thể sư tử không được bảo vệ bên ngoài những khu vực được chỉ định bảo vệ. Mặc dù nguyên nhân của sự suy giảm chưa được làm rõ một cách đầy đủ, nhưng mất môi trường sống và xung đột với con người là những nguyên nhân lớn nhất.

Sư tử sống từ 10–14 năm trong tự nhiên, trong môi trường giam cầm chúng có thể sống hơn 20 năm. Trong tự nhiên, con đực hiếm khi sống hơn 10 năm, do hậu quả của việc đánh nhau liên tục với các đối thủ đồng loại khác. Chúng thường sống ở savan và thảo nguyên chứ không sống trong những khu rừng rậm rạp. Sư tử có tập tính xã hội khác biệt so với các loài họ Mèo còn lại với lối sống theo bầy đàn. Một đàn sư tử gồm con cái và con non của chúng cùng với một số nhỏ con đực trưởng thành. Các nhóm sư tử cái thường đi săn cùng nhau, chủ yếu săn những loài động vật móng guốc lớn. Chúng là loài động vật ăn thịt đầu bảng chủ chốt và chủ yếu ăn thịt sống, mặc dù chúng cũng sẽ ăn xác thối khi có cơ hội. Một số con sư tử đã được biết đến là có thể săn người, mặc dù đây là điều không thường thấy ở chúng.Là một trong những biểu tượng động vật được công nhận rộng rãi nhất trong văn hóa loài người, sư tử đã được mô tả rộng rãi trong các tác phẩm điêu khắc và tranh vẽ, trên quốc kỳ, và trong các bộ phim và văn học đương đại. Sư tử đã được nuôi nhốt từ thời Đế quốc La Mã và là một loài chủ chốt được tìm kiếm để triển lãm trong các vườn bách thú trên khắp thế giới kể từ cuối thế kỷ 18. Miêu tả văn hóa của sư tử là nổi bật trong thời kỳ đồ đá cũ; tranh khắc và tranh vẽ từ hang động Lascaux và Chauvet ở Pháp đã có từ 17.000 năm trước, và các mô tả đã xảy ra ở hầu hết các nền văn hóa cổ đại và trung cổ trùng với các phạm vi trước đây và hiện tại của sư tử.

Thung lũng Tách giãn Lớn, Kenya

Thung lũng Tách giãn Lớn là một phần của hệ thống núi nội lục chạy hướng Bắc - Nam tại Kenya. Nó là một phần của Đới tách giãn Gregory, nhánh phía đông của Đới tách giãn Đông Phi, bắt đầu từ Tanzania ở phía nam tới Ethiopia ở phía bắc. Nó được hình thành trên "Kenya Dome" một kiến tạo địa chất được tạo nên bởi ba mảng kiến tạo chính là Ả Rập, Nubian và Somalia. Trong quá khứ, nó được xem là một phần của Thung lũng tách giãn Lớn chạy từ Madagascar đến Syria. Hầu hết thung lũng Tách giãn Lớn nằm trong tỉnh cũ Rift Valley.

Khu vực này bao gồm Cherangani Hills và chuỗi các núi lửa, một trong số đó vẫn còn hoạt động. Tại đây có khí hậu ôn hòa, nhiệt độ thường không quá 28 °C (82 °F). Hầu hết lượng mưa là vào tháng 6 và tháng 10-11. Tugen Hills ở phía tây của hồ Baringo là nơi chứa các hóa thạch được bảo quản trong các dòng dung nham có niên đại 14-4.000.000 năm trước. Đó chính là các hóa thạch của vượn nhân, tổ tiên của con người hiện đại.

Thung lũng tách giãn

Thung lũng tách giãn (rift valley) hay còn gọi là thung lũng rip-tơ là một địa hình trũng thấp có dạng tuyến giữa các cao nguyên hay dãy núi được tạo thành bởi hoạt động rip-tơ hay đứt gãy.

Trôi dạt lục địa

Trôi dạt lục địa là sự chuyển động tương đối với nhau của các lục địa trên Trái Đất. Lý thuyết trôi dạt lục địa được Alfred Wegener đưa ra lần đầu tiên năm 1912 và tồn tại cho đến khi nó được thay thế bởi lý thuyết kiến tạo mảng.

Vườn quốc gia Bwindi

Vườn quốc gia Không thể xuyên qua Bwindi hay Vườn quốc gia Bwindi là một vườn quốc gia nằm ở phía tây nam Uganda. Đây là một phần của Rừng Không thể xuyên qua Bwindi và nằm dọc theo biên giới với Cộng hòa Dân chủ Congo, tiếp giáp với Vườn quốc gia Virunga, trên rìa của Đới tách giãn Albertine (một phần của Đới tách giãn Đông Phi). Vườn quốc gia này có diện tích 321 kilômét vuông (124 sq mi) của những khu Rừng trên núi và đất thấp và chỉ có thể tiếp cận được bằng đi bộ. Vườn quốc gia này đã được UNESCO đưa vào danh sách Di sản thế giới nhờ sự giàu có và đa dạng của hệ sinh thái bậc nhất châu Phi.Đây là một trong những nơi giàu nhất về các hệ sinh thái ở châu Phi. Nó cung cấp môi trường sống cho 120 loài động vật có vú, 349 loài chim, 220 loài bướm, 27 loài ếch, tắc kè hoa, thằn lằn cùng nhiều loài có nguy cơ tuyệt chủng. Về hệ thực vật, đây là nhà của hơn 1.000 loài thực vật có hoa, trong đó có 163 loài cây và 104 loài dương xỉ. Khu vực phía bắc, nơi có độ cao thấp hơn là nơi có nhiều loài thực vật điển hình của Guinea-Congo, bao gồm hai loài bị đe dọa là Gụ nâu Kilimanjaro và Lộc vừng. Đặc biệt, khu vực này có mức độ đặc hữu cao các loài của Đới tách giãn Albertine.

Vườn quốc gia là một khu bảo tồn quan trọng của loài Khỉ Colobus đen trắng, Tinh tinh và nhiều loài chim như Hồng hoàng và Turaco. Nhưng đáng chú ý nhất chính là sự có mặt của 400 con Khỉ đột núi đang có nguy cơ tuyệt chủng, chiếm một nửa số lượng loài này trên toàn cầu. Có 14 quần thể khỉ đột núi quen thuộc được mở cửa cho du khách tham quan tại bốn tiểu khu Buhoma, Ruhijja, Rushaga và Nkuringo, chịu sự quản lý của Cơ quan Động vật hoang dã Uganda.

Vườn quốc gia Dãy núi Rwenzori

Vườn quốc gia Dãy núi Rwenzori là một vườn quốc gia ở Uganda và là một Di sản thế giới được UNESCO công nhận nằm trong Dãy núi Rwenzori. Với diện tích gần 1.000 km2 (386 sq mi), vườn quốc gia là nơi có đỉnh Stanley, là đỉnh núi cao thứ ba tại châu Phi, cùng nhiều thác nước, sông, hồ khiến nơi đây trở thành một trong những khu vực núi non đẹp nhất của châu Phi. Vườn quốc gia còn là môi trường sống tự nhiên của nhiều loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng cùng một hệ thực vật vô cùng phong phú.

Đới tách giãn Albertine

Đới tách giãn Albertine là nhánh phía tây của Đới tách giãn Đông Phi, bao gồm các bộ phận tại các quốc gia Uganda, Cộng hòa Dân chủ Congo (DRC), Rwanda, Burundi và Tanzania. Nó trải dài từ phía bắc của hồ Albert đến cuối phía nam của hồ Tanganyika. Thuật ngữ địa lý bao gồm các thung lũng và những ngọn núi xung quanh.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.