Địa cực

Các vùng địa cực, còn được gọi là các vùng băng giá, của Trái đất là các khu vực của hành tinh bao quanh các cực địa lý của nó (cực BắcNam), nằm trong các vòng cực. Những vĩ độ cao này bị chi phối bởi các khối băng cực của Trái đất: phía bắc nằm trên Bắc Băng Dươngphía nam trên lục địa Nam Cực.

Hình dung của băng và tuyết bao phủ các vùng cực bắc và cực nam của Trái đất
Frozenground
Bắc bán cầu băng vĩnh cửu (mặt đất đóng băng vĩnh viễn) màu tím

Vùng cực trên mặt đất

Định nghĩa

Bắc Cực có nhiều định nghĩa khác nhau, bao gồm khu vực phía bắc Vòng Bắc Cực (hiện tại là Epoch 2010 ở 66 ° 33'44 "N), hoặc khu vực phía bắc vĩ độ 60 ° Bắc, hoặc khu vực từ Bắc Cực về phía nam đến đường gỗ. Nam Cực thường được định nghĩa là phía nam của vĩ độ 60 ° nam, hoặc lục địa Nam Cực. Hiệp ước Nam Cực năm 1959 sử dụng định nghĩa trước đây.

Hai vùng cực được phân biệt với hai vành đai khí hậu và sinh học khác của Trái đất, vành đai nhiệt đới gần xích đạo và hai vùng vĩ độ trung bình nằm giữa vùng nhiệt đới và vùng cực.

Khí hậu

Các vùng cực nhận được bức xạ mặt trời cường độ thấp hơn các phần khác của Trái đất vì năng lượng của mặt trời đến vùng này với một góc xiên, lan rộng ra một khu vực lớn hơn và cũng đi một quãng đường dài hơn qua bầu khí quyển của Trái đất, tại đó nó có thể bị hấp thụ, tán xạ hoặc phản xạ đó là điều tương tự làm cho mùa đông lạnh hơn so với phần còn lại của năm ở vùng ôn đới.

Độ nghiêng dọc trục của Trái đất có ảnh hưởng lớn đến khí hậu của các vùng cực. Vì các vùng cực nằm xa xích đạo nhất, chúng nhận được ít ánh sáng mặt trời nhất và do đó rất lạnh. Lượng lớn băng và tuyết cũng phản ánh một phần lớn lượng nhỏ ánh sáng mặt trời mà các vùng Cực nhận được, góp phần gây ra cái lạnh. Các vùng cực được đặc trưng bởi khí hậu cực, nhiệt độ cực lạnh, băng giá bất cứ nơi nào có đủ lượng mưa để tạo thành băng vĩnh cửu và sự thay đổi cực độ của giờ ban ngày, với hai mươi bốn giờ ánh sáng ban ngày vào mùa hè và tối hoàn toàn vào giữa mùa đông.

Vùng Bắc cực

Polar Bear 2004-11-15
Gấu bắc cực

Có nhiều khu định cư ở vùng cực bắc của Trái đất. Các quốc gia có yêu sách đối với các khu vực Bắc Cực là: Hoa Kỳ (Alaska), Canada (Yukon, Lãnh thổ Tây BắcNunavut), Đan Mạch (Greenland), Na Uy, Phần Lan, Thụy Điển, IcelandNga. Các quần thể tuần hoàn Bắc cực thường chia sẻ nhiều điểm chung với nhau hơn so với các quần thể khác trong phạm vi quốc gia của họ. Như vậy, vùng cực bắc rất đa dạng về các khu định cư và văn hóa của con người.

Nam Cực và biển phía Nam

Pygoscelis papua
Chim cánh cụt vùng cực Nam

Vùng cực nam không có con người ở thường trú.[1] Trạm McMurdo là trạm nghiên cứu lớn nhất ở Nam Cực, được điều hành bởi Hoa Kỳ. Các trạm đáng chú ý khác bao gồm Ga Palmer và Trạm Amundsen của Scott South Cực (Hoa Kỳ), Esperanza Base và Marambio Base (Argentina), Scott Base (New Zealand) và Vostok Station (Nga).

Mặc dù không có văn hóa con người bản địa, nhưng có một hệ sinh thái phức tạp, đặc biệt dọc theo các vùng ven biển của Nam Cực. Sự nổi dậy ven biển cung cấp các chất dinh dưỡng dồi dào, nuôi sống loài nhuyễn thể, một loại động vật giáp xác biển, từ đó nuôi sống một hệ sinh thái phức hợp các sinh vật sống từ chim cánh cụt đến cá voi xanh.

Tham khảo

  1. ^ Matthew Teller (20 tháng 6 năm 2014). “Why do so many nations want a piece of Antarctica?” (bằng tiếng Anh). BBC. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2019.
Antártica Chilena (tỉnh)

Antártica Chilena hay Địa Cực Chile (tiếng Tây Ban Nha: Provincia de la Antártica Chilena) là tỉnh nằm ở cực Nam và là một trong bốn tỉnh của khu vực Magellan và Địa Cực Chile. Thủ phủ của tỉnh là Puerto Williams. Tỉnh bao gồm các phần cực nam của Đảo Đất Lửa (phía nam của dãy núi Cordillera Darwin), các hòn đảo phía nam và phía tây của Đất Lửa, và khu vực Địa Cực Chile đã được tuyên bố. Tỉnh được chia thành hai xã: Cabo de Hornos nằm ​​ở mũi phía nam của Nam Mỹ, và Lãnh thổ Nam Cực, một khu vực tuyên bố chủ quyền tại Nam Cực không được quốc tế công nhận. Tổng diện tích của tỉnh là 1.265.853,7 km 2 (488.749 sq mi) khiến nó có diện tích gấp đôi so với các tỉnh khác gộp lại.

Băng

Băng hay nước đá là dạng rắn của nước. Dạng tồn tại phổ biến nhất của băng là Ih, hình thành khi nước đông đặc tại 0 độ C (273.15 K, 32 độ °F) tại áp suất khí quyển tiêu chuẩn, có tỉ trọng nhỏ hơn nước lỏng. Băng xuất hiện trong tự nhiên qua các dạng như tuyết, mưa đá, sông băng, các tảng băng ở địa cực.

Danh sách lãnh thổ phụ thuộc

Một lãnh thổ phụ thuộc, vùng phụ thuộc hay khu phụ thuộc là một lãnh thổ không có đầy đủ nền độc lập chính trị hay chủ quyền như một quốc gia.

Có nhiều hình thức và cấp độ phụ thuộc phổ biến khác nhau để phân biệt giữa các địa thể/địa khu (entities) và không được xem là một phần của mẫu quốc (motherland) hay chính quốc (mainland) của quốc gia chủ quản (governing state). Trong đa số trường hợp, tất cả những điều vừa nói cũng đại diện một trật tự khác nhau về phân chia hành chính. Một địa khu cấp dưới quốc gia thường thường đại diện cho sự phân chia hành chính quốc gia cho hợp lý trong khi một lãnh thổ phụ thuộc có thể là một lãnh thổ hải ngoại được hưởng một mức độ tự trị lớn hơn. Ví dụ nhiều lãnh thổ phụ thuộc có những hệ thống pháp lý ít nhiều khác với quốc gia chủ quản. Vì còn có nhiều sự khác biệt nữa ngoài hệ thống pháp lý và truyền thống hiến pháp, những lãnh thổ này có thể hoặc không thể xem như một phần của các quốc gia chủ quản.

Những vùng được gọi riêng là phi độc lập là các lãnh thổ đang trong vòng tranh chấp, bị chiếm đóng quân sự, hoặc có chính quyền lưu vong hay phong trào đòi độc lập đáng kể.

Dặm Anh

Mile (dặm Anh đôi khi được gọi tắt là dặm, tuy nhiên cũng nên phân biệt với một đơn vị đo lường cổ được người Việt và người Hoa sử dụng cũng được gọi là dặm) là một đơn vị chiều dài, thường được dùng để đo khoảng cách, trong một số hệ thống đo lường khác nhau, trong đó có Hệ đo lường Anh, Hệ đo lường Mỹ và mil của Na Uy/Thụy Điển. Chiều dài của mỗi hệ chênh lệch nhau, nhưng nói chung là hơn 1 km và dưới 3 km. Trong các ngữ cảnh tiếng Anh hiện nay mile có thể là:

Dặm pháp định bằng 5.280 feet (khoảng 1.609 m), hoặc 63360 inch

Hải lý (nautical mile) bằng chính xác 1.852 m (khoảng 6.076 feet).Có nhiều cách viết tắt cho mile: mi, ml, m, M. NIST hiện nay sử dụng và đề nghị cách viết tắt "mi", nhưng dặm trên giờ thường được viết ngắn lại là "mph", "m.p.h." hoặc "MPH" thay vì "mi/h".

Eo biển Magellan

Eo biển Magellan là một tuyến đường biển nằm ở phía nam của lục địa Nam Mỹ và phía bắc của Đất Lửa. Đây là tuyến hàng hải quan trọng nhất nối giữa Thái Bình Dương và Đại Tây Dương, nhưng đây cũng là một tuyến đường biển khó đi bởi hướng gió khó lường, hải lưu và độ hẹp của eo biển này. Ngày nay nó nằm hoàn toàn trong lãnh thổ Chile, nhưng cửa vào phía đông lại thuộc lãnh hải của Argentina.

Có độ dài 570 km. Độ sâu tại đây rất khác nhau nơi nông nhất chỉ khoảng 20 mét. Tại điểm rộng nhất của nó và 33 km, điểm hẹp nhất chỉ là khoảng 3 km.

Thuyền trưởng Ferdinand Magellan là người châu Ầu đầu tiên tới đây ngày mồng 1 tháng 11 năm 1520. Ông đặt tên cho eo biển này là "Estrecho de Todos los Santos" hay "eo biển Tousaint”. Khi hải thuyền của Magellan tới Philippne năm 1521 thì ông ta bị giết, số còn lại thủy thủ và thuyền viên về tới Tây Ban Nha năm 1522. Từ đó mà có tên gọi Magellan để chí eo biển này.

Gấu trắng Bắc Cực

Gấu trắng Bắc Cực (danh pháp hai phần: Ursus maritimus) là một loài động vật có vú lớn của bộ Ăn thịt (Carnivora), họ Gấu (Ursidae). Chúng là loài động vật sống gần địa cực tìm thấy xung quanh Bắc Băng Dương và chúng là loài động vật ăn thịt lớn nhất trên đất liền.

Gấu Bắc Cực sinh sống trên lãnh thổ của năm quốc gia khác nhau. Chúng có mặt ở ngoài khơi bờ biển phía bắc và tây bắc Alaska, Canada, Greenland, Svalbard (Na Uy) và Liên bang Nga.Quần thể gấu Bắc Cực ước tính khoảng 16.000 đến 35.000, với khoảng 60% ở Canada.

Gấu Bắc Cực là hình ảnh thu nhỏ của cuộc sống băng giá phía bắc Trái Đất, song xét về mặt tiến hóa của sinh giới, nó là động vật xuất hiện khá muộn. Vào khoảng 50000 đến 100000 năm trước, một cuộc chạy đua để phát triển của loài gấu nhằm đương đầu với cuộc sống khắc nghiệt đã diễn ra trên vùng Bắc Cực. Trong quá trình này, chúng đã trải qua nhiều lần thay đổi đáng kể.

Hiện tượng 2012

Hiện tượng 2012 bao gồm hàng loạt những đức tin về thuyết mạt thế cho rằng vào ngày 21 tháng 12 năm 2012 là ngày tận thế hoặc sẽ xảy ra những sự kiện biến đổi lớn. Ngày này được coi là ngày kết thúc của một chu kỳ dài 5.125 năm trong lịch Long Count của người Maya. Đã có những đề xuất về sự liên quan giữa ngày này với sự thẳng hàng của các sao trong thiên văn và những công thức thần số học.

Tín đồ Tân Kỷ nguyên giải thích ngày này đánh dấu một thời điểm bắt đầu một thời kỳ mà Trái Đất và cư dân sống trên đó có thể sẽ trải qua một sự biến đổi về thể chất hoặc tinh thần, và cho rằng năm 2012 có thể là cột mốc khởi đầu của một kỷ nguyên mới. Những người khác thì cho rằng năm 2012 sẽ đánh dấu sự kết thúc của thế giới hoặc là một thảm họa nhỏ hơn. Cả hai ý kiến này đều phổ biến trong sách và phim tư liệu, và được lan truyền rộng rãi trên các trang web và qua các nhóm thảo luận. Thảm cảnh được đưa ra cho ngày tận thế gồm có: Mặt trời sẽ đạt mức năng lượng cực đại hoặc sự va chạm của Trái Đất với một lỗ đen hay với hành tinh "Nibiru".

Các học giả từ nhiều ngành khác nhau đã bác bỏ ý tưởng về những sự kiện tận thế sẽ xảy ra vào năm 2012. Những nhà nghiên cứu chính thống về người Maya cho thấy không tìm được trong bất kỳ tài liệu cổ thư nào còn sót lại của người Maya dự đoán về ngày tận thế sắp xảy ra, và cho rằng ý tưởng về lịch Long Count sẽ "kết thúc" trong năm 2012 là bóp méo lịch sử của người Maya. Hiện nay, những người Maya hiện đại phần lớn không tin về sự kiện 2012, còn nguồn tư liệu cổ của người Maya về vấn đề này rất hiếm và nhiều mâu thuẫn. Các nhà thiên văn học và những nhà khoa học khác đã phủ nhận và cho rằng những dự đoán về ngày tận thế là giả khoa học, họ tuyên bố những sự kiện tiên đoán ​​là trái ngược với các quan sát thiên văn đơn giản.

Hoa Kỳ

Hoa Kỳ (tiếng Anh: United States - U.S hoặc America), còn gọi là Mỹ, tên đầy đủ là Hợp chúng quốc Hoa Kỳ hoặc Hợp chúng quốc Mỹ (tiếng Anh: United States of America - USA) là một nước cộng hòa lập hiến liên bang gồm 50 tiểu bang và 1 đặc khu liên bang. Quốc gia này nằm gần hoàn toàn trong Tây Bán cầu: 48 tiểu bang lục địa và thủ đô Washington, D.C., nằm giữa Bắc Mỹ, giáp Thái Bình Dương ở phía tây, Đại Tây Dương ở phía đông, Canada ở phía bắc, và México ở phía nam. Tiểu bang Alaska nằm trong vùng tây bắc của lục địa Bắc Mỹ, giáp với Canada ở phía đông. Tiểu bang Hawaii nằm giữa Thái Bình Dương. Hoa Kỳ cũng có 14 lãnh thổ hay còn được gọi là vùng quốc hải rải rác trong vùng biển Caribe và Thái Bình Dương.

Với 3,79 triệu dặm vuông (9.833.520 triệu km²) và 324,1 triệu dân (2018), Hoa Kỳ là quốc gia lớn thứ 3 hoặc thứ 4 về tổng diện tích (xem phần địa lý để biết thêm chi tiết) và thứ 3 về dân số trên thế giới. Hoa Kỳ là một trong những quốc gia đa dạng chủng tộc nhất trên thế giới, do kết quả của những cuộc di dân đến từ nhiều quốc gia khác trên thế giới. Nền kinh tế quốc dân của Hoa Kỳ lớn nhất trên thế giới và đứng thứ 2 thế giới (tính theo sức mua tương đương). Tổng sản phẩm nội địa (GDP) của Mỹ được ước tính cho năm 2015 là trên 18,1 ngàn tỷ đô la (khoảng 23% tổng sản lượng thế giới dựa trên GDP danh nghĩa, và khoảng 16% theo sức mua tương đương). GDP bình quân đầu người của Hoa Kỳ là 56.421 đô la, đứng hạng 5 thế giới theo giá trị thực và hạng 10 theo sức mua tương đương.Quốc gia được thành lập ban đầu với 13 thuộc địa của Liên hiệp Anh nằm dọc theo bờ biển Đại Tây Dương. Sau khi tự tuyên bố trở thành các "tiểu quốc", cả 13 cựu thuộc địa này đã đưa ra tuyên ngôn độc lập vào ngày 4 tháng 7 năm 1776. Các tiểu bang nổi loạn đã đánh bại Đế quốc Anh trong Chiến tranh Cách mạng Mỹ, đây là cuộc chiến tranh thuộc địa giành độc lập đầu tiên thành công trong lịch sử. Hội nghị Liên bang quyết định sử dụng bản Hiến pháp Hoa Kỳ hiện tại vào ngày 17 tháng 9 năm 1787. Việc thông qua bản hiến pháp một năm sau đó đã biến các cựu thuộc địa thành một phần của một nước cộng hòa duy nhất. Đạo luật nhân quyền Hoa Kỳ gồm có mười tu chính án hiến pháp được thông qua năm 1791.

Theo tư tưởng Vận mệnh hiển nhiên, Hoa Kỳ đã bắt đầu cuộc mở rộng lãnh thổ mạnh mẽ trên khắp Bắc Mỹ trong thế kỷ XIX. Sự kiện này bao gồm việc tiêu diệt các dân tộc bản địa (Diệt chủng người da đỏ), đánh chiếm những lãnh thổ mới, và từng bước thành lập các tiểu bang mới. Nội chiến Hoa Kỳ kết thúc chế độ nô lệ tại Hoa Kỳ và ngăn ngừa sự chia xé quốc gia. Đến cuối thế kỷ XIX, Hoa Kỳ đã mở rộng đến Thái Bình Dương, và trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới. Chiến tranh Tây Ban Nha – Hoa Kỳ và Chiến tranh thế giới thứ nhất đã xác định vị thế cường quốc quân sự toàn cầu của Hoa Kỳ. Chiến tranh thế giới thứ hai đã xác định vị thế siêu cường toàn cầu của Hoa Kỳ, là quốc gia đầu tiên có vũ khí hạt nhân, và là một trong năm thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Là siêu cường duy nhất còn lại sau Chiến tranh Lạnh, Hoa Kỳ được nhiều quốc gia nhìn nhận như là một thế lực quân sự, văn hóa, và kinh tế có ảnh hưởng lớn nhất trên thế giới. Tuy nhiên, xã hội Hoa Kỳ cũng đang tồn tại những vấn đề nan giải khó giải quyết (chênh lệch giàu nghèo cao, nạn xả súng bừa bãi, nạn phân biệt chủng tộc, tỷ lệ tội phạm cao, chi phí y tế đắt đỏ...).

Hệ tọa độ địa lý

Hệ tọa độ địa lý là một hệ tọa độ cho phép tất cả mọi điểm trên Trái Đất đều có thể xác định được bằng

một tập hợp các số có thể kèm ký hiệu. Các tọa độ thường gồm số biểu diễn vị trí thẳng đứng, và hai hoặc ba số biểu diễn vị trí nằm ngang. Hệ tọa độ phổ biến hiện dùng là hệ hệ tọa độ cầu tương ứng với tâm Trái Đất với các tọa độ là vĩ độ, kinh độ và cao độ.

Họ Cá nóc

Họ Cá nóc (danh pháp khoa học: Tetraodontidae) là một họ thuộc bộ Cá nóc. Chúng vẫn được coi là động vật có xương sống độc thứ hai trên thế giới, chỉ sau ếch độc phi tiêu vàng. Các nội tạng như gan, và đôi khi cả da của chúng có chứa nhiều độc tố. Chất độc của cá tập trung ở da, ruột, gan, cơ bụng, túi tinh và nhiều nhất ở trứng cá, vì vậy con cái độc hơn con đực và đặc biệt mùa sinh sản, chất độc đó gọi là tetrodotoxin. Đây là một loại độc tố thần kinh cực độc, gấp hơn 1.200 lần so với cyanua. Độc tố của một con cá đủ giết chết 30 người.

Một điều thú vị là bản thân con cá nóc không thể sinh tổng hợp được độc tố; chất tetraodotoxin trong cá nóc là do các vi khuẩn cộng sinh (symbiotic bacteria), chủ yếu là nhóm Pseudomonas và Vibrio vì một vài loại khác sinh tổng hợp ra. Do đó, nếu cá nóc được nuôi dưỡng cách ly thì độc tố không hiện diện.

Bình thường độc tố tồn tại trong cá ở dạng tiền độc tố tetrodomin không độc. Khi cá bị ươn hoặc bị bầm dập, tetrodomin sẽ biến đổi thành tetrodotoxin gây độc. Đun sôi ở nhiệt độ 1.000C trong 6 giờ độc tố tetrodotoxin mới giảm đi 50%, nó chỉ mất đi hoàn toàn khi đun sôi 2.000C trong 10 phút. Vì thế, chúng ta không thể làm mất độc cá nóc bằng cách nấu và chế biến thông thường.. Tuy nhiên thịt của một số loài trong họ Cá nóc được coi là cao lương mỹ vị tại Nhật Bản (河豚 nghĩa là "lợn sông"), Hàn Quốc (bok), Trung Quốc (河豚), Việt Nam gọi là cá đùi gà, thường được chế biến bởi những đầu bếp giàu kinh nghiệm, biết được bộ phận nào an toàn để ăn.

Họ Cá nóc gồm ít nhất 120 loài thuộc 26 chi. Phần lớn các loài sinh sống ở vùng nhiệt đới, khá là hiếm gặp ở vùng ôn đới và hoàn toàn vắng bóng ở địa cực. Chúng có kích thước từ nhỏ đến vừa, mặc dù một vài loài có thể dài đến quá 100 cm.

Họ Tầm ma

Họ Tầm ma (danh pháp khoa học: Urticaceae) là một họ thực vật có hoa. Tên gọi của họ này có nguồn gốc từ chi Urtica (tầm ma). Urticaceae bao gồm một số loài cây đáng chú ý và hữu ích, bao gồm các chi Urtica (tầm ma), Boehmeria nivea (gai), Pipturus albidus (mamaki) và Debregeasia saeneb (ajlai).

Họ này chứa khoảng 2.600 loài, gộp nhóm trong 53 tới 79 chi, tùy theo từng hệ thống phân loại. Các chi đa dạng nhất là Pilea (500 tới 715 loài), Elatostema (khoảng 300 loài), Urtica (khoảng 80 loài), Cecropia (khoảng 75 loài) và Coussapoa (khoảng 50 loài).

Urticaceae có thể tìm thấy khắp nơi trên thế giới, ngoại trừ vùng địa cực.

Kinh tuyến

Kinh tuyến là một nửa đường tròn trên bề mặt Trái Đất, nối liền hai Địa cực, có độ dài khoảng 20.000 km, chỉ hướng bắc-nam và cắt thẳng góc với đường xích đạo. Mặt phẳng của kinh tuyến 0° (chạy qua đài quan sát thiên văn tại Greenwich thuộc Luân Đôn) và kinh tuyến 180°, chia Trái Đất ra làm hai bán cầu – Bán cầu đông và Bán cầu tây.

Các kinh tuyến nối liền các cực từ là các kinh tuyến từ, những kinh tuyến nối liền các Địa cực thì gọi là các kinh tuyến địa lý, còn các đường kinh tuyến vẽ trên bản đồ – là các kinh tuyến họa đồ.

Kinh tuyến này còn được gọi là kinh tuyến địa lý, để phân biệt với kinh tuyến địa từ là giao tuyến giữa bề mặt Trái Đất và mặt phẳng đi qua đường thẳng nối các cực địa từ Bắc và Nam.

Trái Đất có tất cả 360 đường kinh tuyến. Kinh tuyến gốc bằng 0 độ, nó đi qua vùng Greenwich ở ngoại ô thủ đô Luân Đôn nước Anh.

Magallanes và Địa Cực Chile

Vùng Magallanes (phát âm địa phương: [maɣaˈʝanes]), tên chính thức Vùng Magallanes và Địa Cực Chile (tiếng Tây Ban Nha: Región de Magallanes y de la Antártica Chilena), là một trong 16 đơn vị hành chính cấp 1 của Chile. Đây là vùng cực nam, rộng nhất và ít dân thứ nhì Chile. Vùng gồm bốn tỉnh: Última Esperanza, Magallanes, Tierra del Fuego, và Antártica Chilena.

Trong địa phận Magallanes có Torres del Paine, Cape Horn, Tierra del Fuego, và eo biển Magellan. Ngoài ra, lãnh thổ châu Nam Cực thuộc Chile cũng thuộc vùng này. Dù có diện tích lớn, hầu hết đất đai hoặc là núi cao cheo leo hoặc không thích hợp cho việc định cư. 80% dân số sống ở thủ phủ Punta Arenas, một thành phố thương mại lớn và trung tâm trong nghiên cứu châu Nam Cực.

Hoạt động kinh tế chính là nuôi cừu, khai thác dầu mỏ, và du lịch. Đây là vùng có tỉ lệ nghèo thấp nhất toàn Chile (5,8%); hộ gia đình ở Magallanes có thu nhập cao nhất toàn Chile.Từ năm 2017, vùng này theo múi giờ riêng và dùng giờ mùa hè cả năm (UTC−3).

Năm

Năm thường được tính là khoảng thời gian Trái Đất quay xong một vòng quanh Mặt Trời. Đối với một người quan sát trên Trái Đất, điều này tương ứng với khoảng thời gian Mặt Trời hoàn thành một vòng quay dọc theo cung hoàng đạo.

Trong thiên văn học, năm Julius là một đơn vị thời gian, định nghĩa là 365,25 ngày x 86.400 giây/ngày của hệ SI (không có giây nhuận).Do độ nghiêng trục của Trái Đất, quá trình một năm chứng kiến sự thay đổi tuần tự của các mùa, được đánh dấu bởi những thay đổi về thời tiết, các giờ ban ngày, thảm thực vật và khả năng sinh sản của chúng. Ở vùng ôn đới và ở xa địa cực, thường có bốn mùa được công nhận: mùa xuân, mùa hè, mùa thu và mùa đông, về mặt thiên văn được đánh dấu bởi các điểm xuân phân, hạ chí, thu phân và đông chí của đường đi của Mặt Trời, mặc dù các mùa khí hậu có độ trễ so với các dấu hiệu thiên văn trên. Trong một số khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới chỉ có 2 mùa: mùa mưa với mùa khô.

Một năm dương lịch là một khoảng thời gian xấp xỉ của chu kỳ quỹ đạo của Trái Đất trong một lịch cụ thể. Một năm trong lịch Gregory (cũng như trong lịch Julius) có 365 ngày (năm thường) hoặc 366 ngày (năm nhuận). Chiều dài trung bình của năm trong lịch Gregory (hiện đại) là 365,2425 ngày (có tính đến các quy tắc năm nhuận cho 1 thiên niên kỷ).

Từ "năm" cũng được sử dụng một cách lỏng lẻo cho các khoảng thời gian liên quan nhưng không giống hệt với năm thiên văn hoặc năm dương lịch, chẳng hạn như các năm theo mùa, năm tài chính hoặc năm học, v.v... Theo nghĩa mở rộng, năm có thể có nghĩa là chu kỳ quỹ đạo của bất cứ hành tinh nào: ví dụ, một "năm sao Hỏa" hoặc "năm sao Kim" là thời gian mà sao Hỏa hoặc sao Kim đi đủ một vòng quỹ đạo riêng. Thuật ngữ này cũng được áp dụng theo nghĩa rộng hơn cho bất kỳ thời gian dài hoặc chu kỳ nào, chẳng hạn như "Great Year".

Suy giảm ôzôn

Sự suy giảm tầng ozon là hiện tượng giảm lượng ôzôn trong tầng bình lưu. Từ năm 1979 cho đến năm 1990 lượng ozon trong tầng bình lưu đã suy giảm vào khoảng 5%. Vì lớp ôzôn ngăn cản phần lớn các tia cực tím có hại không cho xuyên qua bầu khí quyển Trái Đất, sự suy giảm ôzôn đang được quan sát thấy và các dự đoán suy giảm trong tương lai đã trở thành một mối quan tâm toàn cầu, dẫn đến việc công nhận Nghị định thư Montreal hạn chế và cuối cùng chấm dứt hoàn toàn việc sử dụng và sản xuất các hợp chất cacbon của clo và flo (CFC - chlorofluorocacbons) cũng như các chất hóa học gây suy giảm tầng ôzôn khác như tetraclorit cácbon, các hợp chất của brôm (halon) và methylchloroform.

Sự suy giảm ôzôn thay đổi tùy theo vùng địa lý và tùy theo mùa. Lỗ thủng ôzôn dùng để chỉ sự suy giảm ôzôn nhất thời hằng năm ở hai cực Trái Đất, những nơi mà ôzôn bị suy giảm vào mùa Xuân (cho đến 70% ở 25 triệu km2 của Nam Cực và cho đến 30% ở Bắc Cực) và được tái tạo trở lại vào mùa hè. Nồng độ clo tăng cao trong tầng bình lưu, xuất phát khi các khí CFC và các khí khác do loài người sản xuất ra bị phân hủy, chính là nguyên nhân gây ra sự suy giảm này.

Trong các thảo luận chính trị công khai "suy giảm tầng ôzôn" đồng nghĩa với lý thuyết cho rằng xu hướng suy giảm ôzôn toàn cầu, được gây ra vì thải các khí CFC, sẽ tạo điều kiện cho các bức xạ cực tím đến mặt đất nhiều hơn.

Cường độ gia tăng của các bức xạ cực tím đang được nghi ngờ chính là nguyên nhân gây ra nhiều hậu quả trong sinh học, thí dụ như gia tăng các khối u ác tính, tiêu hủy các sinh vật phù du trong tầng có ánh sáng của biển.

Triton (vệ tinh)

Triton là vệ tinh tự nhiên lớn nhất của Sao Hải Vương và là vệ tinh đầu tiên của Sao Hải Vương được phát hiện. Nó được khám phá vào ngày 10 tháng 10 năm 1846 bởi nhà thiên văn học người Anh William Lassell. Đây là vệ tinh lớn duy nhất trong Hệ Mặt Trời có quỹ đạo nghịch hành, quỹ đạo theo hướng ngược với vòng quay của hành tinh. Với đường kính 2.710 kilômét (1.680 mi), đây là vệ tinh lớn thứ bảy trong Hệ Mặt Trời, vệ tinh duy nhất của Sao Hải Vương đủ lớn để ở trạng thái cân bằng thủy tĩnh và vệ tinh hành tinh lớn thứ hai so với hành tinh của nó, sau Mặt Trăng của Trái Đất. Do quỹ đạo nghịch hành và thành phần tương tự như Sao Diêm Vương, Triton được cho là một hành tinh lùn bị bắt từ vành đai Kuiper.

Trái Đất

Trái Đất là hành tinh thứ ba tính từ Mặt Trời, đồng thời cũng là hành tinh lớn nhất trong các hành tinh đất đá của hệ Mặt Trời xét về bán kính, khối lượng và mật độ vật chất. Trái Đất còn được biết tên với các tên gọi "hành tinh xanh" hay "Địa Cầu", là nhà của hàng triệu loài sinh vật, trong đó có con người và cho đến nay đây là nơi duy nhất trong vũ trụ được biết đến là có sự sống. Hành tinh này được hình thành cách đây 4,55 tỷ năm và sự sống xuất hiện trên bề mặt của nó khoảng 1 tỷ năm trước. Kể từ đó, sinh quyển, bầu khí quyển của Trái Đất và các điều kiện vô cơ khác đã thay đổi đáng kể, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phổ biến của các vi sinh vật ưa khí cũng như sự hình thành của tầng ôzôn-lớp bảo vệ quan trọng, cùng với từ trường của Trái Đất, đã ngăn chặn các bức xạ có hại và chở che cho sự sống. Các đặc điểm vật lý của Trái Đất cũng như lịch sử địa lý hay quỹ đạo, cho phép sự sống tồn tại trong thời gian qua. Người ta hy vọng rằng Trái Đất chỉ còn có thể hỗ trợ sự sống thêm 1,5 tỷ năm nữa, trước khi kích thước của Mặt Trời tăng lên (Sao khổng lồ đỏ) và tiêu diệt hết sự sống.Bề mặt Trái Đất được chia thành các mảng kiến tạo, chúng di chuyển từ từ trên bề mặt Trái Đất trong hàng triệu năm. Khoảng 71% bề mặt Trái Đất được bao phủ bởi các đại dương nước mặn, phần còn lại là các lục địa và các đảo. Nước là thành phần rất cần thiết cho sự sống và cho đến nay con người vẫn chưa phát hiện thấy sự tồn tại của nó trên bề mặt của bất kì hành tinh nào khác ngoại trừ sao Hỏa là có nước bị đóng băng ở hai cực. Tuy nhiên, người ta có chứng cứ xác định nguồn nước có ở Sao Hỏa trong quá khứ, và có thể tồn tại cho tới ngày nay. Lõi của Trái Đất vẫn hoạt động được bao bọc bởi lớp manti rắn dày, lớp lõi ngoài lỏng tạo ra từ trường và lõi sắt trong rắn. Trái Đất là hành tinh duy nhất có sự sống.Trái Đất tương tác với các vật thể khác trong không gian bao gồm Mặt Trời và Mặt Trăng. Hiện quãng thời gian Trái Đất di chuyển hết một vòng quanh Mặt Trời bằng 365,2564 lần quãng thời gian nó tự quay một vòng quanh trục của mình. Khoảng thời gian này bằng với một năm thiên văn tức 365,2564 ngày trong dương lịch. Trục tự quay của Trái Đất nghiêng một góc bằng 23,44° so với trục vuông góc với mặt phẳng quỹ đạo, tạo ra sự thay đổi mùa trên bề mặt của Trái Đất trong một năm chí tuyến. Mặt Trăng, vệ tinh tự nhiên duy nhất của Trái Đất, đồng thời cũng là nguyên nhân chính gây ra hiện tượng thủy triều đại dương, bắt đầu quay quanh Trái Đất từ 4,53 tỷ năm trước, vẫn giữ nguyên góc quay ban đầu theo thời gian nhưng đang chuyển động chậm dần lại. Trong khoảng từ 4,1 đến 3,8 tỷ năm trước, sự va đập của các thiên thạch trong suốt thời kì "Công phá Mạnh muộn" đã tạo ra những sự thay đổi đáng kể trên bề mặt Mặt Trăng.

Cả tài nguyên khoáng sản lẫn các sản phẩm của sinh quyển được sử dụng để cung cấp cho cuộc sống của con người. Dân cư được chia thành hơn 200 quốc gia độc lập, có quan hệ với nhau thông qua các hoạt động ngoại giao, du lịch, thương mại, quân sự. Văn hóa loài người đã phát triển tạo nên nhiều cách nhìn về Trái Đất bao gồm việc nhân cách hóa Trái Đất như một vị thần, niềm tin vào một Trái Đất phẳng hoặc một Trái Đất là trung tâm của cả vũ trụ, và một quan điểm nhìn hiện đại hơn như Trái Đất là một môi trường thống nhất cần có sự định hướng.

Địa lý châu Á

Địa lý châu Á có thể coi là phức tạp và đa dạng nhất trong số 5 châu lục trên mặt đất. Châu Á được phân biệt với các châu khác không chỉ bởi các biển và đại dương, mà còn bởi nhiều đặc điểm tự nhiên độc đáo khác: một châu lục có kích thước vĩ đại nhất, trên 44,4 triệu km², có lịch sử phát triển và cấu tạo địa chất phức tạp nhất, có địa hình bề mặt bị chia cắt mạnh nhất và có sự phân hóa cảnh quan, khí hậu vô cùng phong phú, đa dạng: từ băng giá vĩnh cửu, rừng lá kim cho tới hoang mạc nóng bỏng, rừng rậm nhiệt đới xanh um. Với sự phối hợp của các điều kiện tự nhiên nói trên, châu Á đã hình thành các khu vực địa lý tự nhiên có đặc điểm hoàn toàn khác nhau như Bắc Á, Trung Á, Đông Á, Đông Nam Á, Nam Á và Tây Nam Á.

Về mặt địa lý xã hội, châu Á cũng là châu lục đông dân cư nhất với hơn 4,4 tỉ người, có đủ các thành phần chủng tộc như Mongoloid, Europeoid, Negroid. Tôn giáo cũng rất đa dạng và đã có từ lâu đời như Phật giáo, Hồi giáo, Thiên Chúa giáo, Ấn Độ giáo...

Ủy ban Khoa học Bắc cực Quốc tế

Ủy ban Khoa học Bắc cực Quốc tế, viết tắt tiếng Anh là IASC (International Arctic Science Committee) là một tổ chức phi chính phủ quốc tế hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu địa cực.IASC thành lập năm 1990 , là thành viên liên kết khoa học của Hội đồng Khoa học Quốc tế (ICSU). Năm 2015 có 23 thành viên quốc gia, trong đó Bồ Đào Nha là thành viên thứ 23 vừa gia nhập.Ban điều hành IASC làm việc ở Akureyri, Iceland . Chủ tịch là Susan Barr từ Na Uy .

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.