Đế quốc Tây La Mã

Đế quốc Tây La Mã là phần đất phía tây của Đế quốc La Mã cổ đại, từ khi Hoàng đế Diocletianus phân chia Đế chế trong năm 285; nửa còn lại của Đế quốc La MãĐế quốc Đông La Mã, ngày nay còn được biết đến rộng rãi với tên gọi Đế chế Byzantine.

Đế quốc Tây La Mã đã tồn tại gián đoạn trong nhiều giai đoạn giữa thế kỷ thứ 3 và thế kỷ thứ 5 sau chế độ "Tứ đầu chế" của Diocletianus và liên quan đến các cuộc thống nhất của các Hoàng đế Constantinus IJulianus (324 - 363). Đời Hoàng đế Valentinianus I, người Tây La Mã có vua sáng tôi hiền nên vinh hiển đánh thắng người German.[2] Theodosius I (379 - 395) là vị Hoàng đế La Mã cuối cùng cai trị một Đế chế La Mã thống nhất. Sau khi ông mất năm 395, Đế chế La Mã bị chia rẽ mãi mãi, trong đó Đế quốc Tây La Mã do người con yếu kém của ông là Hoàng đế Honorius. Triều đình Tây La Mã suy sụp, nhà vua chỉ còn nắm quyền trên danh nghĩa, trong khi quyền lực thực sự rơi vào tay của một loạt các quyền thần, mà mở đầu với đại tướng Flavius Stilicho. Ông là người lập công hiển hách đánh tan người German và người Gaul.[3] Thành La Mã bị người Đông Goth cướp phá vào năm 410.[4] Ngoài ra, đời Hoàng đế Valentinianus III, Đế quốc Tây La Mã cũng hứng chịu cuộc xâm lược của người Hun do vua Attila lãnh đạo, song đại tướng Flavius Aetius đánh tan tác quân Hun trong trận Chalons vào năm 451.[5] Nhưng rồi, đất nước ngày càng suy sụp khi Valentinianus III do tư thù đã ám sát Aetius. Đế quốc Tây La Mã chính thức cáo chung với sự kiện Hoàng đế Romulus Augustus thoái vị dưới sức ép của Odoacer vào ngày 4 tháng 9 năm 476, và không chính thức cáo chung với cái chết của cựu hoàng Julius Nepos trong năm 480.

Mặc dù Đế quốc Đông La Mã đã tiến hành tái chinh phạt trong một thời gian ngắn ngủi, Đế quốc Tây La Mã vẫn không thể được khôi phục lại. Sau khi Đế quốc Tây La Mã sụp đổ, một kỷ nguyên mới bắt đầu trong lịch sử Tây Âu: đó chính là thời kỳ Trung Cổ. Vào năm 800, vị vua - chiến binh nước FrankKarl I Đại Đế được Giáo hoàng Lêô III tấn phong làm Hoàng đế - được coi là sự kiện khôi phục Đế quốc Tây La Mã.[6]

Đế quốc La Mã
285–476
Đồng tremissis hình Flavius Julius Nepos (474-480), hoàng đế chính thống cuối cùng của Tây triều Đế quốc Tây La Mã
Đồng tremissis hình Flavius Julius Nepos (474-480),
hoàng đế chính thống cuối cùng của Tây triều
Tổng quan
Đế quốc Tây La Mã vào thời điểm rộng lớn nhất vào khoảng năm 395
Đế quốc Tây La Mã vào thời điểm rộng lớn nhất vào khoảng năm 395
Vị thếNửa phía tây của Đế quốc La Mã
Thủ đôMediolanum
(286–402)

Ravenna
(402–476)
Ngôn ngữ thông dụngLatinh (chính thức)
Tiếng Hy Lạp Koine, Aquitaine, Gallia, Briton phổ thông, Goth, Tân Punic, Berber
Tôn giáo chính
Tôn giáo La Mã đến thế kỷ 4
Thiên chúa giáo sau năm 380
Chính trị
Chính phủChế độ chuyên quyền,
Tứ đầu chế
(293–313)
Hoàng đế 
• 395–423
Honorius
• 457–461
Majorianus
• 475–476
Romulus Augustulus
Quan chấp chính 
• 395
Flavius Anicius Hermogenianus Olybrius, Flavius Anicius Probinus
• 476
Basiliscus, Flavius Armatus
Lập phápViện nguyên lão
Lịch sử
Thời kỳCuối cổ đại
• Phân chia bởi Diocletianus
285
• Sự phân chia sau Constantinus I
337
• Phân chia bởi Valentinianus I
364
• Sự phân chia sau Theodosius I
395
• Romulus Augustus bị phế truất
4 tháng 9 476
Địa lý
Diện tích
• 395[1]
2.000.000 km2
(772.204 mi2)
Kinh tế
Đơn vị tiền tệTiền tệ La Mã
Tiền thân
Kế tục
Dio coin3.jpg Đế quốc La Mã
Vương quốc Odoacer (476-493)
Vương quốc Visigothic
Vương quốc Soissons
Lãnh địa người Moor
Sub-Roman Britain
Vương quốc Burgund
Francia
Vương quốc Vandal
Alamannia
Vương quốc Suebi
Armorica
San Marino
Hiện nay là một phần của

Bối cảnh

Khi Cộng hòa La Mã mở rộng, nó đã đạt đến một điểm mà chính quyền trung ương ở Rome đã không thể cai trị hiệu quả các tỉnh ở xa. Thông tin liên lạc và giao thông vận tải thực sự là một vấn đề khó trong phạm vi rộng lớn của đế chế. Tin tức về các cuộc xâm lược, những cuộc nổi dậy, thảm họa tự nhiên, hoặc bùng phát dịch bệnh được vận chuyển bằng tàu hoặc thư tín, thường đòi hỏi nhiều thời gian để có thể đến Rome và cho việc thực hiện mệnh lệnh của Rome tới địa bàn tỉnh xuất xứ. Vì lý do này, thống đốc tỉnh đã trên thực tế đã có toàn quyền cai trị trên danh nghĩa của Cộng hòa La Mã.

Trước khi thành lập chính thể đế quốc, các vùng lãnh thổ của nước Cộng hòa La Mã đã được phân chia giữa các thành viên của chế độ tam hùng lần thứ hai: Mark Antony, OctavianMarcus Aemilius Lepidus. Antonius đã nhận được các tỉnh ở phía đông: Achaea, Macedonia và Epirus (Hy Lạp, Albania và bờ biển của Croatia ngày nay), Bithynia, Pontus và châu Á (Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay), Syria, Síp, và Cyrenaica. Những vùng đất này trước đó đã được chinh phục bởi Alexander Đại đế, do đó, phần nhiều tầng lớp quý tộc có gốc gác Hy Lạp. Toàn khu vực này, đặc biệt là các thành phố lớn, phần lớn đã được đồng hóa vào nền văn hóa Hy Lạp, tiếng Hy Lạp thường được sử dụng như là Franca lingua.

Octavian nhận được các tỉnh La Mã ở phía tây: Italia, Gaul (nước Pháp hiện nay), Belgica (vùng đất ngày nay là Bỉ, Hà Lan và Luxembourg) Gallia, và Hispania (hiện nay là Tây Ban NhaBồ Đào Nha).[7] Những vùng đất này cũng bao gồm các thuộc địa của người Hy Lạp và Carthaginia nằm ở các khu vực ven biển, mặc dù các bộ tộc Celt như người Gauls và Celtiberia nắm sự chi phối về văn hóa. Lepidus nhận được các tỉnh nhỏ của châu Phi (Tunisia ngày nay). Octavian sớm chiếm lấy châu Phi từ tay Lepidus, trong khi thêm Sicilia (Sicilia hiện nay) vào lãnh địa của mình.

Sau khi đánh bại Marcus Antonius, Octavian đã kiểm soát một Đế chế La Mã hoàn toàn thống nhất.

Khởi nghĩa, nổi loạn và tranh giành quyền lực chính trị

Những cuộc khởi nghĩa nhỏ và các cuộc nổi dậy là những sự kiện khá phổ biến trên toàn đế quốc. Các Bộ tộc và thành phố bị chinh phục sẽ nổi dậy, và các quân đoàn sẽ được tách ra để đè bẹp cuộc khởi nghĩa. Trong khi quá trình này rất đơn giản trong thời bình, nó có thể sẽ phức tạp hơn trong thời chiến, như ví dụ trong cuộc đại khởi nghĩa của người Do Thái.

Trong một chiến dịch quân sự toàn diện, các quân đoàn, dưới sự chỉ huy của các vị tướng như Vespasianus, trở nên nhiều hơn rất nhiều. Để đảm bảo sự trung thành của một chỉ huy, một hoàng đế thực dụng có thể giữ một số thành viên của gia đình họ làm con tin. Hoàng đế Nero đã giữ lại Domitian và Quintus Petillius Cerialis, thống đốc của Ostia, tương ứng là người con trai thứ và người em rể của Vespasian. Sự cai trị của Nero chỉ kết thúc khi lực lượng vệ binh hoàng gia làm phản, những người đã bị mua chuộc bởi Galba.

Kẻ thù chính ở phía tây của đế chế được cho là các bộ lạc Đức nằm ở bên kia bờ các con sông Rhine và sông Danube. Augustus đã cố gắng để chinh phục họ, nhưng cuối cùng đã bị đẩy lùi sau thất bại ở trận rừng Teutoburg.

Đế chế Parthia, ở phía đông, mặt khác, lại quá xa và hùng mạnh để có thể chinh phục. Bất kỳ cuộc xâm lược nào của người Parthia đều bị ngăn chặn và thường đánh bại, tương tự như vậy, người Parthia cũng đã đẩy lùi một số nỗ lực xâm lược của người La Mã, tuy nhiên, ngay cả sau những cuộc chiến tranh chinh phục thành công - chẳng hạn như được thực hiện bởi TrajanSeptimius Severus - những vùng lãnh thổ xa xôi đã được từ bỏ để ngăn chặn tình trạng bất ổn và cũng để đảm bảo một nền hòa bình lâu dài và bền vững hơn với người Ba Tư.

Kiểm soát biên giới phía tây của Rome tỏ ra là dễ dàng hơn bởi vì nó là tương đối gần và còn vì sự chia rẽ giữa các kẻ thù người Đức, tuy nhiên, kiểm soát toàn bộ cả hai đường biên giới trong chiến tranh thực sự khó khăn. Nếu hoàng đế gần biên giới ở phía đông, cơ hội sẽ là lớn cho bất kì một vị tướng đầy tham vọng nào đó nổi loạn ở phía tây và ngược lại.

Khủng hoảng của thế kỉ thứ ba

Romanworld271AD
Đế quốc La Mã vào năm 268

Mọi thứ bắt đầu vào ngày 18 tháng 3, năm 235, với vụ ám sát Hoàng đế Alexander Severus, Đế chế La Mã chìm vào một cuộc nội chiến kéo dài 50 năm, mà ngày nay gọi là thời kì khủng hoảng của thế kỷ thứ ba. Sự nổi lên của triều đại Sassanid hiếu chiến ở Parthia tạo ra một mối đe dọa lớn đối với Rome ở phía đông. Minh chứng rõ nhất cho mối đe dọa ngày càng tăng lên đó là việc hoàng đế Valerian đã bị bắt bởi Shapur I vào năm 259. Con trưởng và người thừa kế chính thức của ông,Gallienus, đã lên kế vị và tiếp tục tiến hành cuộc chiến ở biên giới phía đông. Người con trai của Gallienus, Saloninus, và pháp quan thái thú Silvanus thì lại có mặt ở Colonia Agrippina (hiện nay là Köln) để củng cố lòng trung thành của các quân đoàn địa phương. Tuy nhiên, Marcus Cassianius Latinius Postumus, tổng đốc chính quyền địa phương các tỉnh Đức - nổi loạn, và cuộc tấn công của ông ta vào Colonia Agrippina dẫn đến cái chết của Saloninus và vị thái thú. Trong sự nhầm lẫn sau đó, một nhà nước độc lập được biết đến như là Đế chế Gallic xuất hiện.

Kinh đô của nó là Augusta Treverorum (Trier hiện nay), và nó nhanh chóng mở rộng sự kiểm soát đối với các tỉnh Germania và Gaul và trên toàn bộ Hispania và Britannia. Nó có viện nguyên lão riêng của mình, và một phần danh sách các chấp chính quan của nó vẫn còn tồn tại. Nó duy trì tôn giáo, ngôn ngữ và văn hóa La Mã, và quan tâm nhiều hơn đến việc chiến đấu các bộ lạc người Đức hơn là đối với người La Mã. Tuy nhiên, trong triều đại của Claudius Gothicus (268-270), một phần rộng lớn của đế chế Gallic đã được khôi phục lại dưới sự cai trị của La Mã. Vào cùng một khoảng thời gian, một số tỉnh phía đông ly khai theo Đế chế Palmyra, dưới sự cai trị của Nữ hoàng Zenobia.

Năm 272, Hoàng đế Aurelian cuối cùng đã cố gắng để giành lại Palmyra và lãnh thổ của nó quay về với đế quốc. Với việc phía đông đã an toàn, mọi sự chú ý của ông lúc này đã được chuyển sang phía tây, tiêu diệt đế chế Gallic một năm sau đó. Bởi vì có một thỏa thuận bí mật giữa Aurelian và Hoàng đế Gallic Tetricus I và con trai của ông Tetricus II, quân đội Gallic đã nhanh chóng bị đánh bại. Đổi lại, Aurelian tha mạng cho họ và ban cho hai kẻ phản loạn những vị trí quan trọng ở Ý.

Tứ đầu chế

Tetrarchy map3
Sự phân chia đế quốc dưới chế độ Tứ đầu chế.

Các đường biên giới bên ngoài khác chủ yếu ổn định trong phần còn lại của thời kì khủng hoảng của thế kỷ thứ ba, mặc dù, vào giai đoạn giữa cái chết của Aurelian trong năm 275 và sự lên ngôi của Diocletianus mười năm sau đó, ít nhất tám hoàng đế hoặc nhiều hơn bị giết hại, phần nhiều bị ám sát bởi quân đội riêng của họ.

Dưới thời Diocletianus, sự phân chia chính trị của Đế chế La Mã đã bắt đầu. Năm 285, ông thăng cho Maximianus lên hàng ngũ Augustus (Hoàng đế) và giao cho ông ta quyền kiểm soát của khu vực phía tây của đế chế. Năm 293, GaleriusConstantius Chlorus lần lượt được bổ nhiệm là cấp dưới của họ (Caesars), tạo ra chế độ tứ đầu chế đầu tiên. Hệ thống hiệu quả này phân chia đế chế thành bốn khu vực chính và tạo ra các kinh đô riêng biệt bên cạnh Rome như một cách để tránh tình trạng nội chiến bất ổn đã đánh xảy ra vào thế kỷ thứ 3. Ở phía tây, kinh đô của Maximianus nằm tại Mediolanum (tại Milan) và của Constantius là Trier. Ở phía đông, kinh đô là Sirmium và Nicomedia. Ngày 01 tháng 5 năm 305, cả hai vị Augusti đều thoái vị, và hai Caesar tương ứng của họ đã được thăng lên hàng ngũ Augusti và bổ nhiệm hai Caesars khác, tạo ra chế độ tứ đầu chế thứ hai.

Constantinus Đại đế

Tuy nhiên, Hệ thống tứ đầu chế nhanh chóng bị sụp đổ khi mà hoàng đế Tây La Mã Constantius qua đời đột ngột trong năm 306, và con trai của ông Constantinus Đại Đế đã được tuyên bố là Augustus của phía tây bởi các quân đoàn ở Anh. Một cuộc khủng hoảng tiếp theo sau đó xảy ra khi một số kẻ cố gắng để tranh đoạt quyền cai trị một nửa phía tây. Năm 308, Augustus phía đông, Galerius, đã sắp xếp một cuộc họp tại Carnuntum mà làm sống lại chế độ Tứ đầu chế bằng cách phân chia phía tây giữa Constantine và một người khác tên là Licinius. Mặc dù vậy, Constantinus quan tâm nhiều hơn đến việc chinh phuc lại toàn bộ đế chế. Thông qua một loạt các trận đánh ở phía đông và phía tây, Licinius và Constantine đã ổn định các phần tương ứng của Đế chế La Mã vào năm 314, và bắt đầu cạnh tranh để trở thành người duy nhất kiểm soát một nhà nước thống nhất. Cuối cùng Constantine đã giành được chiến thắng vào năm 324 sau khi đánh bại Licinius trong trận Chrysopolis.

Lần phân chia thứ hai

Constantius đã được sinh ra vào năm 317 tại Sirmium, Pannonia. Ông ta là con trai thứ ba của Constantine Đại đế, và là người con thứ hai với Fausta, người vợ thứ hai của ông, con gái của Maximian. Constantius đã được phong làm Caesar bởi cha mình vào ngày 13 tháng 11 năm 324.[8] Lúc này Đế chế La Mã đang nằm dưới sự cai trị của một Hoàng đế duy nhất, nhưng, với cái chết của Constantine vào năm 337, cuộc nội chiến đã nổ ra giữa ba người con trai của ông, phân chia đế chế thành ba phần khác nhau. phía tây đã được thống nhất trong năm 340 dưới sự cai trị của Constans, người sau đó bị ám sát vào năm 350 theo lệnh của Magnentius, kẻ cướp ngôi, sau khi Magnentius thua trận Mursa Major và buộc phải tự tử, đế quốc đã được thống nhất hoàn toàn một lần nữa vào năm 353, dưới sự cai trị của Constantius II.

Constantius II tập trung hầu hết quyền lực của mình ở phía đông và được coi là hoàng đế đầu tiên của Đế quốc Byzantine. Dưới sự cai trị của ông, thành phố Byzantium - chỉ mới được tái lập lại với tên Constantinopolis- đã thự sự được xây dựng như một kinh đô. Năm 361, Constantius II bị bệnh và mất, và người cháu nội của Constantius Chlorus, Julianus, người đã từng là của Caesar của Constantius II, đã lên nắm quyền. Julianus sau đó đã bị giết chết trong trận Samarra vào năm 363 khi chống lại Đế chế Ba Tư và đã được kế vị bởi Jovianus, người đã cai trị một thời gian ngắn cho đến năm 364.

Lần phân chia cuối cùng

Theodosius I's empire
Sự phân chia đế quốc La Mã sau cái chết của Theodosius,khoảng năm 395 SCN,đường biên giới của đế quốc La Mã vẽ đè lên biên giới của các quốc gia ngày nay
  Đế quốc Tây La Mã
  Đế quốc Đông La Mã (Đế quốc Byzantine)

Sau cái chết của Jovianus, Valentinianus I đã trở thành Hoàng đế vào năm 364. Ông ngay lập tức chia đế quốc một lần nữa, nửa phía đông giao cho Valens, em trai của ông. Sự ổn định đã có được ở cả hai nửa, hoặc, vì các cuộc xung đột với các lực lượng bên ngoài ngày càng gia tăng. Trong năm 376, người Visigoth, khi đang chạy trốn người Hun, đã được phép vượt qua sông Danube, và định cư ở khu vực Balkan bởi chính quyền phía đông. Sự ngược đãi họ đã gây ra một cuộc nổi dậy quy mô lớn, và năm 378, họ gây ra một thất bại làm què quặt quân đội chính quy của Đông La Mã trong trận Adrianople, trong đó Valens cũng chết trận. Sau khi cướp bóc các vùng nông thôn, họ chính thức trở thành foederati.

Trong năm 379, con trai và người kế vị Valentinian I, Gratianus đã từ chối mặc áo choàng của quan tư tế tối cao (Pontifex Maximus), và trong năm 382 ông ta đã bãi bỏ quyền của các thầy tế đa thần giáo và loại bỏ bàn thờ đa thần giáo khỏi nghị viện, một quyết định mà gây ra sự bất mãn giữa các tầng lớp quý tộc theo truyền thống đa thần giáo La Mã. Theodosius I sau đó ra lệnh cấm trên các tôn giáo đa thần bản địa, tiếp tục coi Kitô giáo là tôn giáo chính thức của đế quốc.

Tình hình chính trị cũng không ổn định. Năm 383, một vị tướng quyền lực và nhiều tiếng tăm tên là Magnus Maximus chiếm đoạt quyền lực ở phía tây và buộc người em cùng cha của Gratian, Valentinian II chạy trốn về phía đông xin sự trợ giúp, sau đó Hoàng đế phía đông, Theodosius I đã nhanh chóng khôi phục lại quyền lực cho ông. Năm 392, viên pháp quan thái thú đa thần giáo và gốc Frank, Arbogast đã ám sát Valentinian II và tuyên bốị ủng hộ một nguyên lão vô danh tên là Eugenius lên làm Hoàng đế.

Cuộc nổi loạn này đã bị dập tắt trong năm 394 bởi Theodosius I, người mà sau đó một thời gian ngắn đã cai trị một đế chế thống nhất cho đến khi ông qua đời năm 395. Ông là vị Hoàng đế cuối cùng đã cai trị cả hai phần của Đế chế La Mã cũ. Arcadius, người con trai cả của ông được thừa kế nửa phía đông trong khi Honorius nhỏ tuổi hơn có được một nửa phía tây. Cả hai đều đang còn ít tuổi, do đó Honorius đã được đặt dưới sự giám hộ của viên Magister militum có một nửa dòng máu La Mã một nửa là người rợ, Flavius ​​Stilicho, trong khi Rufinus nắm quyền hành phía sau ngai vàng ở phía đông. Rufinus và Stilicho là đối thủ của nhau, và sự bất đồng giữa triều đình phía đông và phía tây liên quan đến quyền sở hữu vùng Illyricum đã được khéo léo khai thác bởi vua Goth, Alaric I, người mà đã một lần nữa nổi loạn sau cái chết của Theodosius I.

Stilicho đã có thể bảo vệ Ý chống lại người Goth xâm lược, nhưng ông đã không thể ngăn được người Vandal, Alan, Suevi xâm lược Gaul với số lượng lớn. Stilicho sau đó đã trở thành nạn nhân của những âm mưu triều chính ở Ravenna - nơi mà triều đình Hoàng gia phía tây cư trú từ năm 402 - và ông ta đã bị hành quyết vì tội phản quốc năm 408. Trong khi nửa phía đông bắt đầu phục hồi chậm chạp và dần được củng cố, nửa phía tây bắt đầu sụp đổ hoàn toàn.

Tình hình kinh tế

Nửa phía tây, với mức độ đô thị hóa ít hơn cũng như sự phân tán dân cư, có thể đã trải qua một sự suy giảm kinh tế suốt giai đoạn cuối của đế quốc ở một số tỉnh phía đông, vốn luôn luôn giàu có, thì lại không thiếu thốn như vậy, đặc biệt là khi các vị hoàng đế như Constantinus Đại đếConstantius II đã đầu tư rất nhiều cho nền kinh tế phía đông. Kết quả là, Đế quốc Đông La Mã có thể có đủ khả năng duy trì được một số lượng lớn những quân lính chuyên nghiệp và thêm vào đó là lính đánh thuê, trong khi Đế quốc Tây La Mã không thể đủ khả năng này với cùng mức độ. Ngay cả khi gặp thất bại, phía đông có thể, chắc chắn không phải không có khó khăn, mua chuộc kẻ thù của mình với những khoản tiền chuộc.

Việc kiểm soát chính trị, các nguồn lực kinh tế và quân sự của Đông La Mã vẫn an toàn ở Constantinopolis, nơi mà đã được củng cố vững chắc và nằm tại ngã tư của một số tuyến đường giao thương lớn và các tuyến đường quân sự. Ngược lại, đế quốc phía tây đã bị chia cắt nhiều hơn. Kinh đô đã được chuyển về Ravenna trong năm 402 chủ yếu vì lý do phòng thủ: các hạm đội của hoàng đế Đông La Mã có thể dễ tiếp cận nó nhưng nó lại bị cô lập bởi các mặt của nó đã bị bao quanh bởi các đầm lầy. Sức mạnh kinh tế vẫn tập trung vào Roma và tầng lớp quý tộc nguyên lão giàu có thống trị Ý và đặc biệt ở châu Phi. Sau khi Gallienus cấm các nguyên lão nắm quyền chỉ huy quân đội vào giữa thế kỷ 3, tầng lớp nguyên lão đã mất tất cả kinh nghiệm và sự quan tâm đến đời binh nghiệp. Trong những năm đầu thế kỷ thứ 5,tầng lớp địa chủ giàu có của viện nguyên lão La Mã chủ yếu cấm những người tá điền của mình đi lính, nhưng họ cũng từ chối ủng hộ đầy đủ kinh phí cho việc duy trì một đội quân lính đánh thuê đủ mạnh để bảo vệ toàn bộ đế quốc phía tây. Khu vực quân sự quan trọng nhất của phía tây trong thế kỉ thứ 4 là biên giới phía bắc Gaul và phòng tuyến sông Rhine, khi mà Trier thường xuyên được dùng như là kinh đô của đế quốc và nhiều tướng lĩnh quan trọng phía tây là người Frank. Sau cuộc nội chiến vào năm 394 giữa Theodosius IEugenius, chính quyền phía tây mới được đưa lên bởi Theodosius I ngày càng phải chuyển các nguồn lực quân sự của Anh và Rhine sang bảo vệ Ý.

Đế quốc Tây La Mã có nguồn nguyên liệu rất nghèo nàn, và sự thiếu thốn nhân lực có sẵn buộc chính quyền phải phụ thuộc nhiều vào các liên quân man tộc chiến đấu dưới quyền của các thủ lĩnh của họ, và theo đó Đế quốc thường gặp khó khăn trong việc trả thù lao cho họ. Trong một số trường hợp nhất định, chính quyền phải ban tặng đất đai cho các chỉ huy đánh thuê để tưởng thưởng cho họ, điều này khiến cho lãnh thổ của Đế quốc bị thu hẹp - đồng nghĩa với việc chính quyền sẽ thu được ít thuế hơn để chi phí cho quân sự.

Với sự suy yếu của quyền lực trung ương, Nhà nước mất dần quyền kiểm soát các tỉnh và biên ải, cũng như quyền thống trị vùng Địa Trung Hải. Các Hoàng đế Tây La Mã chủ trương bảo vệ quyền làm chủ trên biển, nhưng sau khi người Vandal xâm chiến Bắc Phi, Triều đình La Mã phải trị vì quá nhiều đất liền với nguồn lực ít ỏi. Sự mất mát các tỉnh châu Phi có lẽ là một chuyển biến tệ hại của vận mệnh Đế quốc Tây La Mã, do chúng nằm trong số những lãnh thổ giàu có nhất và cung cấp nguồn nhập khẩu gạo cần thiết cho Ý. Ở nhiều nơi, các chính quyền địa phương La Mã đã sụp đổ cùng với sự ổn định kinh tế. Ở một số vùng miền, sự định cư của các man tộc trên các lãnh thổ cũ của La Mã xem ra chỉ gây tương đối ít rối ren, nhưng những nơi khác, nhất là tại những phần đất nhất định ở Bắc Phi, các địa chủ La Mã bị truc xuất và ruộng đất của họ bị tịch thu.

Cuộc cướp phá thành Roma và sự sụp đổ của đế quốc Tây La Mã

Invasions of the Roman Empire 1
Những cuộc xâm lược của người German và Hun vào đế quốc La Mã, 100–500 SCN

Vẫn còn là hoàng đế sau cái chết của Stilicho vào năm 408, Honorius tiếp tục trị vì cho đến khi ông ta qua đời vào năm 423. Triều đại của ông ta đã được lấp đầy với những kẻ tiếm vị và những cuộc xâm lược. Năm 410, Rome đã bị cướp phá bởi quân đội của Alaric. Sự kiện này đã gây chấn động đối với những người đương thời, vì đây là lần đầu tiên kể từ cuộc xâm lược của người Gaul ở thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên, thành phố đã bị rơi vào tay của một kẻ thù ngoại quốc. Dưới thời những người kế tục Alaric, người Goth sau đó định cư ở Gaul (412-418), từ đó họ đóng vai trò là đồng minh của người La Mã chống lại người Vandal, Alan, và người Suevi ở Tây Ban Nha, và chống lại kẻ tiếm vị Jovinus (413).[9] Trong khi đó, một kẻ tiếm vị khác, Constantinus (406-411), đã rút hết quân đội La Mã ở Anh vốn dành để phòng thủ nó khi ông ta vượt qua eo biển để về Gaul vào năm 407, bỏ mặc những cư dân La Mã ở đây cho những kẻ xâm lược, đầu tiên là từ người Pict và sau đó là bởi người Sachsen và Angli, những người bắt đầu định cư vĩnh viễn từ khoảng năm 440 trở đi.[10]

Cái chết của Honorius vào năm 423 kéo theo sau đó là sự khủng hoảng cho đến khi chính quyền Đông La Mã với các lực lượng quân đội tôn Valentinian III lên làm hoàng đế phía tây ở Ravenna, với Galla Placidia đóng vai trò là nhiếp chính trong thời gian đầu cho người con trai còn nhỏ của bà.[11] Sau một cuộc xung đột bạo lực với nhiều đối thủ, và chống lại mong muốn của Placidia, Aetius đã vươn tới chức vụ Magister militum. Aetius lúc này đã có thể ổn định tình hình quân sự của nửa phía tây đế quốc một chút, và phải dựa rất nhiều vào các đồng minh Hun của ông ta. Với sự giúp đỡ của họ, ông đã đánh bại người Burgundy, những người đã chiếm đóng một phần miền Nam Gaul sau năm 407 và họ định cư ở vùng Savoy với vai trò là đồng minh của La Mã (năm 433).[12]

Trong khi đó, do áp lực từ người Visigoth và một cuộc nổi loạn của Bonifacius, tổng đốc của châu Phi,đã khiến cho người Vandal theo Gaiseric vua của họ vượt biển từ Tây Ban Nha đến châu Phi trong năm 429.[13] Họ tạm thời dừng lại ở Numidia năm 435 trước khi di chuyển về phía đông và chiếm Carthage,[14] từ đó họ thành lập một nhà nước độc lập với lực lượng hải quân hùng mạnh (năm 439). Hạm đội Vandal đã trở thành một mối nguy hiểm thường trực cho thương mại đường biển của La Mã và vùng bờ biển và hải đảo của miền tây và trung tâm Địa Trung Hải.[15]

Năm 444, người Hun, những người vốn được sử dụng như những đồng minh La Mã bởi Aetius, đã được thống nhất dưới quyền vị vua Attila đầy tham vọng của họ. Quay giáo chống lại đồng minh cũ của mình, người Hun đã trở thành một mối đe dọa lớn đối với đế quốc. Attila sau đó đã nhận được một lời cầu xin giúp đỡ và nhẫn từ Honoria, em gái của Hoàng đế. Đe dọa chiến tranh, ông yêu cầu nhận được một nửa lãnh thổ của đế quốc Tây La Mã như là của hồi môn cho mình.[16]

Bị từ chối, ông ta xâm lược Gaul và chỉ dừng lại trong trận đồng bằng Catalaunian bởi liên quân La Mã-Đức được chỉ huy bởi Aetius. Năm tiếp theo, Attila xâm lược Ý và tiến quân theo hướng đến Roma, nhưng một đợt bùng phát dịch bệnh trong quân đội của ông, lời cầu xin hòa bình của Đức Giáo hoàng Leo, và tin báo về một chiến dịch của Marcianus trực tiếp hướng đến căn cứ của ông ta ở Pannonia đã buộc ông ta dừng chiến dịch này. Attila bất ngờ qua đời một năm sau đó (năm 453).[17]

Roman Empire 460 AD
Đế quốc La Mã dưới sự cai trị của Majorian (phía tây) và Leo I (phía đông) vào năm 460 CN.

Aetius đã bị giết trong năm 454 bởi tay Valentinian, người mà sau đó chính bản thân ông ta cũng bị sát hại bởi những người ủng hộ vị tướng một năm sau. Với sự kết thúc của triều đại Theodosian, một giai đoạn mới của những cuộc tranh giành quyền lực lại xảy ra sau đó. Người Vandal đã lợi dụng tình trạng bất ổn và để vượt biển đến Roma, nơi mà họ tiến hành cướp phá vào năm 455.[18]

Trong suốt hai mươi năm sau, có vài vị hoàng đế phía tây đã được đặt lên ngôi bởi Constantinopolis, nhưng quyền lực của họ lại phải dựa vào những vị tướng man rợ như Ricimer (456-472), Gundobad (473-475). Năm 475, Orestes, một cựu thư ký của Attila, đánh đuổi Hoàng đế Julius Nepos ra khỏi Ravenna và tuyên bố rằng của con trai ông ta Romulus Augustus là vị hoàng đế mới.[19]

Nhưng sau đó, Orestes lại bội ước với Odoacer, không ban cấp đất đai cho những người rợ như đã hứa trước đó. Odoacer lền dẫn quân đánh bại và giết chết Orestes rồi lật đổ Romulus Augustus, tự mình lên làm vua cai trị khắp nước Ý.[19] Ông ta sau đó gửi biểu tượng Hoàng đế (Imperial insignia) cho Hoàng đế Đông La Mã Zeno.[20]

Ba tàn dư cuối cùng của đế quốc Tây La Mã tiếp tục tồn tại dưới một số hình thức này hay khác sau năm 476: Julius Nepos kiểm soát Dalmatia cho đến khi ông ta bị ám sát vào năm 480.[21] Syagrius cai trị lãnh địa Soissons cho đến khi ông ta bị giết vào năm 487. Cuối cùng, một vương quốc La Mã-Moor còn tồn tại ở Bắc Phi, đã chống lại những kẻ xâm lược người Vandal, và trở thành một phần của Đế quốc Đông La Mã vào năm 533 khi Belisarius đánh bại người Vandal.[22][23]

Vị hoàng đế cuối cùng

Theo quy ước, Đế quốc Tây La Mã được coi là đã kết thúc vào ngày 04 tháng 9 năm 476, khi Odoacer lật đổ Romulus Augustulus.

Tuy vậy, Julius Nepos vẫn còn tuyên bố mình là Hoàng đế của đế quốc Tây La Mã, và cai trị một quốc gia tàn dư ở Dalmatia. Ông được công nhận bởi Hoàng đế Đông La Mã ZenoSyagrius, người đã cố gắng để bảo vệ chủ quyền của La Mã ở một vùng đất biệt lập nằm ở miền bắc xứ Gaul, được biết đến ngày hôm nay là lãnh địa Soissons.

Odoacer tuyên bố mình là vua của Ý và bắt đầu đàm phán với Zeno. Zeno cuối cùng đã ban tước hiệu quý tộc cho Odoacer như là dấu hiệu công nhận quyền lực của ông ta và chấp nhận ông ta là phó vương của Ý. Zeno, tuy nhiên, khẳng định rằng Odoacer phải tỏ sự thần phục với Julius Nepos, người mới là Hoàng đế của đế quốc Tây La Mã. Odoacer chấp nhận điều kiện này và ban hành tiền xu với tên của Julius Nepos trên khắp Italia. Tuy nhiên, điều này chủ yếu là một thủ đoạn chính trị vô nghĩa, vì Odoacer không bao giờ trao lại bất kỳ quyền lực thực sự hoặc vùng lãnh thổ nào cho Julius Nepos. Sau vụ ám sát Julius Nepos trong năm 480, Odoacer đã xâm chiếm Dalmatia, sáp nhập nó vào Vương quốc Ý.

Ảnh hưởng của thời tiết

Viện Nghiên cứu rừng, tuyết và phong cảnh của Thụy Sĩ đã nghiên cứu lịch sử khí hậu châu Âu bằng cách phân tích vòng tròn bên trong gần 9.000 thân cây sồi và thông. Chúng là những thân cây mà các nhà khảo cổ đào được tại châu Âu. Những thân cây già nhất có niên đại lên tới 2.500 năm. Trong giai đoạn mà khí hậu thuận lợi, cây có thể lấy nhiều nước và dưỡng chất từ đất nên tăng trưởng nhanh. Vì thế mà chúng tạo ra những vòng tròn khá rộng va khoảng cách giữa các vòng cũng lớn hơn. Nhưng khi khí hậu trở nên khắc nghiệt, như hạn hán, những vòng tròn trong thân cây nhỏ hơn và khoảng cách giữa chúng cũng gần hơn. Dựa vào kích thước của những vòng tròn trong thân cây, nhóm nghiên cứu dựng lên biểu đồ về nhiệt độ và lượng mưa tại châu Âu trong 25 thế kỷ qua.[24]

Biểu đồ cho thấy, từ năm 250, cứ sau mỗi thập kỷ khí hậu lại chuyển từ trạng thái khô, lạnh sang trạng thái ấm áp và ẩm ướt. Sự thay đổi luân phiên giữa hai kiểu khí hậu này diễn ra liên tục tới tận năm 550. Sức mạnh của đế chế La Mã suy giảm mạnh trong khoảng thời gian này, để rồi tới năm 395 nó bị phân chia thành đế quốc Đông La Mã và đế quốc Tây La Mã. Tới năm 476, đế quốc Tây La Mã sụp đổ. Những thăng trầm chính trị, chiến tranh, nạn đói và làn sóng di cư ồ ạt của con người luôn xuất hiện trong giai đoạn mà thời tiết thay đổi liên tục.[24] Ulf Buntgen, một thành viên của nhóm nghiên cứu, nhận xét:

Khí hậu không trực tiếp gây nên chiến tranh hay khủng hoảng kinh tế, song nó vẫn là một trong những nhân tố khiến các xã hội cổ đại sụp đổ. Trong những xã hội đang ngập chìm trong nạn đói hay khủng hoảng chính trị, những mùa đông khắc nghiệt sẽ khiến người dân càng cảm thấy khốn quẫn hơn và họ sẵn sàng vùng lên để tìm đường sống[24]

Danh sách Hoàng đế Tây La Mã

Hoàng đế Gallic (259 tới 273)

  • Postumus: 259 tới 268
  • Laelianus: 268 Tiếm vị
  • Marcus Aurelius Marius: 268
  • Victorinus: 268 tới 271
  • Domitianus: 271 Tiếm vị
  • Tetricus I: 271 tới 273
    • Tetricus II: 271 tới 273 Con trai và là đồng hoàng đế của Tetricus I

Tetrarchy (293 to 313)

Augusti are shown with their Caesares and regents further indented

Nhà Constantinius (313 tới 363)

  • Constantinus Đại đế: 306 to 337 Hoàng đế của toàn đế quốc từ 324 tới 337
  • Constantinus II: 337 to 340 Hoàng đế của Gaul, Britannia, và Hispania
  • Constantius II: 337 to 361 Hoàng đế phương đông từ 337 tới 353, Sole emperor of the empire from 353 to 360
  • Constans I: 337 to 350 Hoàng đế của Ý và Africa 337-340, Hoàng đế của toàn đế quốc từ 340 tới 350
  • Magnentius: 350 to 353 Tiếm vị
  • Julianus: 355 to 363 Hoàng đế phương tây từ 355 tới 361, Hoàng đế của toàn đế quốc từ 361 tới 363

Không thuộc triều đại nào (363 tới 364)

Nhà Valentinianus (364 tới 392)

Không thuộc triều đại nào (392 tới 394)

Nhà Theodosius (394 tới 455)

Không thuộc triều đại nào (455 tới 480)

  • Petronius Maximus: 455 không được Constantinopolis công nhận
  • Avitus: 455 tới 456 không được Constantinopolis công nhận
    • Ricimer: 456 tới 472 quyền thần
  • Majorian: 457 tới 461
  • Libius Severus: 461 tới 465 không được Constantinopolis công nhận
  • Anthemius: 467 tới 472
  • Olybrius: 472 không được Constantinopolis công nhận
  • Glycerius: 473 tới 474 không được Constantinopolis công nhận
  • Julius Nepos: 474 tới 480 lưu vong từ 475 tới 480
  • Romulus Augustus: 475 tới 476 không được Constantinopolis công nhận

Flavius Orestes was killed by revolting Germanic mercenaries. Their chieftain, Odoacer, assumed control of Italy as a de jure representative of Julius Nepos and Eastern Roman Emperor Zeno. -->

Thay đổi chính trị sau khi đế chế sụp đổ

Theodoric

Hy vọng cuối cùng cho việc thống nhất lại đế quốc đến vào năm 493, khi mà Odoacer bị thay thế bởi Theodoric Đại Đế, vua của người Ostrogoth. Theodoric đã bị buộc phải xưng thần với Zeno để đối phó với một Odoacer nguy hiểm. Trên nguyên tắc Theodoric là một cấp dưới, một phó vương của Hoàng đế phía đông, nhưng trong thực tế ông ngang hàng với ông ta.

Sau cái chết của Theodoric vào năm 526, nửa phía tây của đế chế bây giờ hoàn toàn nằm dưới sự kiểm soát bởi các bộ lạc Đức (mặc dù nhiều người trong số họ tiếp tục công nhận pháp luật La Mã và tuyên bố tiếp tục sử dụng), trong khi một nửa phía đông thì nằm dưới sự cai trị của triều đại Justinian. Mặc dù nửa phía đông sẽ tiến hành một số nỗ lực để khôi phục lại phần phía tây, nhưng đế chế La Mã sẽ không bao giờ thống nhất lại được.

Cuộc tái chinh phục của người Đông La Mã

Justinien 527-565
Đế quốc Đông La Mã, by reoccupying some of the former Western Roman Empire′s lands, enlarged its territory considerably during Justinian's reign from 527 (red) to 565 (orange).

Trong thế kỷ thứ 6, Đế chế Đông La Mã đã cố gắng để chiếm lại những vùng đất rộng lớn của Đế quốc Tây La Mã trước đây. Thành công nhất là các chiến dịch của các vị tướng Belisarius và Narses thay mặt cho hoàng đế Đông La Mã Justinian I (533-554). Vùng lãnh thổ La Mã bị người Vandal chiếm đóng trước đây ở Bắc Phi đã được giành lại, đặc biệt là vùng lãnh thổ tập trung xung quanh thành phố Carthage. Chiến dịch này sau đó sẽ chuyển sang Ý và người Đông La Mã đã tái chinh phục lại nó hoàn toàn. Một vùng lãnh thổ nhỏ khác đã được đánh chiếm xa về phía tây là bờ biển phía nam của bán đảo Iberia. Nhưng ngay trong năm 568, ba năm sau khi Justinian chết, người Lombard đã xâm chiếm Ý.

Mặc dù một số hoàng đế phía đông đôi khi cố gắng để chiếm lại lãnh một số bộ vùng đất ở phía tây, nhưng không ai có được thành công như Justinian. Sự chia rẽ giữa hai khu vực ngày một lớn dần, đã dẫn đến một sự cạnh kình địch càng tăng. Trong khi Đế quốc Đông La Mã vẫn tiếp tục tồn tại sau triều đại Justinian, các vị hoàng đế phía đông sau đó tập trung chủ yếu vào bảo vệ lãnh thổ truyền thống của nó. Từ thế kỷ thứ 7 trở đi, phía đông không còn đủ sức mạnh quân sự cần thiết để làm bất cứ điều gì khác, đánh dấu sự kết thúc của bất kỳ hy vọng cho việc tái thống nhất đế quốc.

Di sản

Khi Đế chế Tây La Mã sụp đổ, các vị vua mới người Đức, những người chinh phục các tỉnh đã duy trì pháp luật và truyền thống La Mã. Phần nhiều trong số các bộ lạc Đức xâm lược đã được cải theo Đạo Cơ Đốc, mặc dù hầu hết là theo giáo phái Arian. Họ nhanh chóng chuyển đổi sang Công giáo, giành được thêm lòng trung thành từ dân cư La Mã ở địa phương, cũng như sự công nhận và ủng hộ từ giáo hội Giáo hội Công giáo Rôma đầy quyền lực. Mặc dù ban đầu họ tiếp tục công nhận những luật lệ truyền thống của các bộ lạc, họ cũng đã chịu nhiều ảnh hưởng của Luật La Mã và dần dần kết hợp chúng với nhau.

Luật pháp La Mã, điển hình như bộ "Dân luật đại toàn" (Corpus Juris Civilis) được tổng hợp theo lệnh của Justinianus I, là nền tảng cổ đại cho sự hình thành của Dân luật hiện nay. Ngược lại, Thông luật được dựa trên luật lệ Anglo-Saxon của người German.

Ý tưởng về Đế quốc La Mã như một Đế quốc Ki-tô giáo hùng mạnh với một ông vua duy nhất hãy còn mê hoặc nhiều vị đế vương hùng mạnh. Trên nguyên tắc chuyển giao Đế chế (translatio imperii), Đế quốc La Mã Thần thánh dân tộc Đức thẳng thừng tuyên bố mình là sự tiếp nối của Đế quốc La Mã. Danh hiệu Hoàng đế Tây La Mã được hồi phục khi vua người Frank và Lombard là Charlemagne được Giáo hoàng Lêô III tấn phong làm Hoàng đế của người La Mã phía tây vào năm 800. Vai vế của Hoàng đế La Mã Thần thánh như là vị Hoàng đế Tây La Mã chính đáng trong thời kỳ Trung Cổ lại càng được hợp pháp hóa khi các Hoàng đế Đông La Mã - những người kế tục trực tiếp từ các Hoàng đế La Mã cổ đại - công nhận họ là "đồng Hoàng đế". Đế quốc La Mã Thần thánh vẫn tiếp tục coi mình là Nhà nước kế tục của Đế quốc Tây La Mã cho đến khi cáo chung vào năm 1806. Vua Pháp Louis XIV, cũng như Hoàng đế Pháp Napoléon Bonaparte, cũng mong muốn tái sinh Đế quốc, nhưng đều thất bại.

Một di sản rất dễ nhận thấy của Đế quốc Tây La Mã là Giáo hội Công giáo Rôma.

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ Taagepera, Rein (1979). “Size and Duration of Empires: Growth-Decline Curves, 600 B.C. to 600 A.D”. Social Science History (Duke University Press) 3 (3/4): 24. JSTOR 1170959. doi:10.2307/1170959.
  2. ^ Stephen Mitchell, A history of the later Roman Empire, AD 284-641: the transformation of the ancient world, các trang 80
  3. ^ Stephen Mitchell, A history of the later Roman Empire, AD 284-641: the transformation of the ancient world, các trang 89-92.
  4. ^ James William Ermatinger, The decline and fall of the Roman Empire, trang XIII
  5. ^ James William Ermatinger, The decline and fall of the Roman Empire, các trang 75-76.
  6. ^ Robert Cowley, Geoffrey Parker, The Reader's Companion to Military History, trang 81
  7. ^ "Gallos ab Aquitanis Garumna flumen, a Belgis Matrona et Sequana diuidit.", Commentarii de Bello Gallico
  8. ^ DiMaio Jr., M. & Frakes, R. 'DIR-Constantius II' from De Imperatoribus Romanis [1]
  9. ^ Heather 2005, tr. 226.
  10. ^ Burns 1994, tr. 239.
  11. ^ Burns 1994, tr. 238–239.
  12. ^ Burns 1994, tr. 240.
  13. ^ Burns 1994, tr. 243.
  14. ^ Nicene and Post-Nicene Fathers: Series II/Volume VI/The Letters of St. Jerome/Letter 127 Philip Schaff et al. http://en.wikisource.org/wiki/Nicene_and_Post-Nicene_Fathers:_Series_II/Volume_VI/The_Letters_of_St._Jerome/Letter_127
  15. ^ Burns 1994, tr. 243–244.
  16. ^ Burns 1994, tr. 228–231.
  17. ^ Heather 2005, tr. 229–232.
  18. ^ Burns 1994, tr. 245.
  19. ^ a ă Jones, 1964 & 185–189.
  20. ^ Heather 2005, tr. 198.
  21. ^ Halsall 2007, tr. 405-411.
  22. ^ The Britons: from Romans to barbarians. Alex Woolf. pp 345–380 in Regna and Gentes. The relationship between Late Antique and Early Mediaeval Peoples and Kingdoms in the Transformation of the Roman World. Edited by Hans-Werner Goetz, Jörg Janut, and Walter Pohl with the collaboration of Sören Kaschke. Brill, Leiden, 2003. ISBN 90-04-12524-8
  23. ^ Halsall 2007, tr. 284–319.
  24. ^ a ă â Marshall, Michael. “Fall of Roman Empire linked to wild shifts in climate”. NewScientist. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2013.

Tham khảo

Liên kết ngoài

22 tháng 8

Ngày 22 tháng 8 là ngày thứ 234 (235 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 131 ngày trong năm.

Basiliscus

Basiliscus (tiếng Latinh: Flavius Basiliscus Augustus; tiếng Hy Lạp: Βασιλίσκος) (không rõ năm sinh, mất năm 476/477) là Hoàng đế Đông La Mã (Byzantine) từ năm 475 đến 476. Ông là một thành viên xuất thân từ Dòng họ Leo, bắt đầu nắm quyền hành khi tiến hành cuộc nổi dậy buộc Hoàng đế Zeno phải trốn khỏi Constantinopolis.

Basiliscus là em trai Hoàng hậu Aelia Verina, vợ của Hoàng đế Leo I (457-474). Mối quan hệ của ông với Hoàng đế cho phép ông theo đuổi binh nghiệp, sau khi đạt được những thành công nhỏ ban đầu, thì trong cuộc xâm chiếm lãnh thổ rợ Vandal ở châu Phi của người La Mã dưới quyền chỉ huy của ông đã thất bại thảm hại vào năm 468, được coi là một trong những chiến dịch quân sự lớn nhất cuối thời cổ đại.

Basiliscus đã thành công trong việc chiếm đoạt quyền lực vào năm 475, lợi dụng sự bất mãn của dân chúng với Hoàng đế Zeno vốn có gốc gác "mọi rợ" kế thừa tiên đế Leo và kết quả là khiến cho phe cánh Thái hậu Verina tiến hành đảo chính đã buộc ông phải trốn khỏi Constantinopolis. Tuy nhiên khi đã yên vị, trong suốt triều đại ngắn ngủi của mình, Basiliscus đã để mất sự ủng hộ của Giáo hội và dân chúng Constantinopolis, chỉ vì lý do đề bạt và cất nhắc những vị trí thần học cho phái Miaphysite mà ông là tín đồ đối lập với đức tin của phái Chalcedonian. Ngoài ra, chính sách của ông chỉ để bảo vệ quyền lực của mình thông qua việc bổ nhiệm những kẻ thân tín giữ những chức vụ trọng yếu gây ra sự chống đối với nhiều nhân vật quan trọng trong triều đình bao gồm cả người chị Verina. Vì vậy, khi Zeno cố gắng đoạt lại Đế quốc về tay ông thì hầu như các phe phái trong triều đều ra sức ủng hộ và khi mang quân ca khúc khải hoàn tiến vào Constantinopolis, ngay lập tức Zeno sai người tới bắt giữ và bí mật thủ tiêu Basiliscus cùng gia quyến của ông.

Cuộc đấu tranh giữa Basiliscus và Zeno đã ngăn cản Đế quốc Đông La Mã có thể can thiệp nhằm tránh sự diệt vong của Đế quốc Tây La Mã như đã xảy ra vào đầu tháng 9 năm 476. Khi viên chúa rợ Heruli là Odoacer đã phế truất vị Hoàng đế Tây La Mã Romulus Augustus và gửi ấn tín đến Constantinopolis, vì Zeno vừa mới khôi phục ngôi vị Hoàng đế nên ông đành ngậm ngùi cho qua mà phong Odoacer được toàn quyền cai trị nước Ý, do đó mà Đế quốc Tây La Mã chính thức cáo chung kể từ đấy.

Constans II (tiếm vị)

Constans II (tiếng Wales: Custennin) là trưởng nam của Hoàng đế Tây La Mã Constantinus III và được phụ hoàng phong làm đồng hoàng đế trong khoảng thời gian từ năm 409 tới 411. Ông bị quân nổi loạn giết năm 411.

Danh sách Hoàng đế La Mã

Danh hiệu ‘"Hoàng đế La Mã"’ được các nhà sử học về sau dùng để gọi người đứng đầu nhà nước La Mã trong thời kỳ đế quốc. Đế quốc La Mã phát triển từ nền Cộng hòa La Mã, sau khi nó từng bước thống trị toàn bộ bờ biển Địa Trung Hải, có điểm đặc trưng là quyền lực tập trung vào một cá nhân, thay vì "Viện nguyên lão và toàn thể công dân La Mã".

Augustus, người được công nhận rộng rãi là hoàng đế La Mã đầu tiên, lên cầm quyền sau một cuộc chiến đẫm máu và trong một thời kỳ mà nhiều người dân La Mã còn giữ ý niệm mạnh mẽ về nền cộng hòa, đã cẩn thận duy trì lớp vỏ cộng hòa cho nền cai trị của mình (từ năm 27 tr.CN). Ông không đặt ra một danh hiệu mới, mà tập trung quyền lực vào một chức vụ tồn tại từ trước mà nay ông thâu tóm, ‘’ Princeps Senatus’’ (người đứng đầu Viện nguyên lão). Thể chế chính quyền này, tồn tại gần 300 năm, được gọi là ‘‘Chế độ Nguyên thủ’’ (Principate).

Về mặt từ nguyên, từ '’ Hoàng đế’’ trong các ngôn ngữ châu Âu xuất phát từ tiếng Latin ‘’Imperator’’, một danh hiệu dành cho người đứng đầu quân đội. Trong thời kỳ đầu của đế chế, Nguyên thủ không đương nhiên có được danh hiệu này mà phải được phong sau một thành tích quân sự. Tuy nhiên trong thời hiện đại nó được dùng một cách không phân biệt mọi nhà cai trị của đế quốc La Mã trong các giai đoạn khác nhau, với hàm ý nhấn mạnh liên hệ mạnh mẽ giữa nền cai trị và quân đội đế chế.

Cuối thế kỷ thứ 3 (sau CN), lên cầm quyền sau một thời kỳ nội chiến và bạo loạn kéo dài, Diocletianus đã chính thức hóa và thêm thắt vào danh hiệu hoàng đế bằng cách thiết lập sự tập trung quyền lực rõ ràng hơn vào cá nhân hoàng đế hay đặt ra tiếng tôn xưng ‘'Dominus Noster'’ (Chúa tể của chúng ta). Điều này đã khởi đầu cho thời kì gọi là Chế độ Quân chủ (Dominate).

Từ Diocletianus về sau, thường tồn tại những hoàng đế cai trị đồng thời trong quá trình phân rã đế quốc (có lúc lên tới 4 hoàng đế chia nhau cai trị các phần lãnh thổ La Mã). Từ sau cái chết của Theodosius I năm 395, La Mã có thể xem như được chia tách làm hai thể chế: Đế quốc Tây La Mã và Đế quốc Đông La Mã . Tuy nhiên về mặt hiến pháp chúng không thực sự tách biệt và trong khi miền Tây ngày càng mất ổn định thì các hoàng đế ở Constantinopolis thường áp đặt quyền lực mình lên nửa Tây đế quốc. Đế quốc Tây La Mã suy sụp vào thế kỷ thứ V, hoàng đế cuối cùng đã thoái vị vào năm 476 trong khi đế quốc Đông La Mã phát triền thành Đế quốc Byzantine còn tồn tại được tới năm 1453. Tuy sự kế vị trong hoàng tộc là không đứt đoạn ở Byzantine và bản thân các hoàng cũng như những người đương thời coi họ là những người kế thừa Đế quốc La Mã cổ đại, sự thay đổi tính chất của đế quốc Byzantine như một nền quân chủ phong kiến phương Đông khiến cho danh sách này chỉ dừng lại ở các vị vua triều đại Justinian.

Để xem danh sách đầy đủ các Hoàng đế Byzantine, xem: Danh sách Hoàng đế Đông La Mã

Như vậy, danh hiệu ‘’Hoàng đế La Mã’’ là không nhất quán như danh hiệu ‘’hoàng đế’’ ở Trung Quốc hay Việt Nam. Trong nhiều trường hợp, việc xác định một người có là hoàng đế ‘’hợp pháp’’ (tiếng Anh: ‘’legitimate’’) hay không là rất khó khăn. Danh sách dưới đây được lập dựa trên nguyên tắc "hoàng đế hợp pháp" phải thỏa mãn một trong các điều kiện:

Là người cai trị toàn bộ Đế quốc mà quyền lực thực tế không bị ai tranh cãi (1)

Là người được công nhận là người thừa kế hợp pháp hoặc là hoàng đế cùng cai trị hợp pháp bởi một hoàng đế hợp pháp trước đó, và đã kế vị cai trị "theo quyền hạn của mình"(2)

Khi có nhiều người cùng tuyên bố đứng đầu Đế quốc, mà không ai trong số đó là người thừa kế hợp pháp, thì người được chấp nhận bởi Viện nguyên lão là Hoàng đế hợp pháp của La Mã(3)Từ sau khi đế quốc phân chia vào năm 395, hoàng đế hợp pháp là người cai trị một phần đế quốc (Đông hoặc Tây) mà không bị tranh cãi. Riêng với đế quốc Tây La Mã, có những giai đoạn để trống ngôi hoàng đế và do sự mất mát sử liệu về giai đoạn sau 455 (khi đế quốc được coi là sụp đổ), tất cả hoàng đế giai đoạn sau đó đều được liệt kê, dù thông thường Romulus Augustus thường được coi là Hoàng đế La Mã cuối cùng (thoái vị vào năm 476). Các chi tiết tranh cãi về vị vua nào là cuối cùng của đế quốc Tây La Mã được liệt kê trong danh sách này.

Flavius Orestes

Flavius Orestes (? - 476) là một vị tướng La Mã và chính trị gia gốc German đã nhanh chóng kiểm soát phần còn lại của Đế quốc Tây La Mã vào năm 475-476. Ngoài ra ông còn là cha của vị Hoàng đế Tây La Mã cuối cùng Romulus Augustulus.

Honorius (hoàng đế)

Honorius (tiếng Latinh: Flavius Honorius Augustus; 384 – 423), là một vị Hoàng đế của Đế quốc Tây La Mã, ở ngôi từ năm 395 cho đến khi mất năm 423. Ông là người con út của Hoàng đế Theodosius I và Hoàng hậu Aelia Flaccilla, đồng thời ông còn là em của Hoàng đế Đông La Mã Arcadius. Sau khi phụ hoàng Theodosius I đánh thắng kẻ tiếm ngôi Magnus Maximus thì Honorius được tấn phong làm Hoàng đế Tây La Mã đồng trị vì của phụ hoàng. Lên ngôi báu lúc mới 10 tuổi, ông là một vị Hoàng đế không có tài trị nước. Ông vừa yếu đuối, lại còn dễ bị mua chuộc.Trong suốt triều đại của Honorius, Đế quốc Tây La Mã thường xuyên rơi vào tình trạng bất ổn nội bộ và hỗn loạn chính trị. Nhờ sự ủng hộ và phò tá của Đại tướng quân Flavius Stilicho, người liên tiếp giữ vai trò giám hộ Honorius (suốt thời thơ ấu của ông) và cha vợ của ông (sau khi Hoàng đế đã trưởng thành). Quyền giám hộ của Stilicho đã giúp cho Đế quốc duy trì được mức độ ổn định trong một thời gian ngắn, nhưng do nghe nịnh thần mà Honorius đã hành quyết Stilicho cùng với người con trai của ông này, để rồi Đế quốc Tây La Mã nhanh chóng rơi vào sự suy sụp. Triều đình Honorius phải đương đầu với các cuộc tấn công mãnh liệt của người Goth do vua Alaric I thống suất.

Hoàng đế La Mã

Hoàng đế La Mã là danh hiệu mà giới sử học dùng để gọi những người cai trị La Mã trong thời đại đế chế. Về mặt từ nguyên, từ "hoàng đế" (tiếng Anh:Emperor, tiếng Pháp:Empereur) bắt nguồn từ danh hiệu "Imperator" trong tiếng Latin, có nghĩa là "người cai trị đế quốc". Người được xem là hoàng đế La Mã đầu tiên, Augustus, luôn tuyên bố mình là một công dân của nền Cộng hòa chứ không phải một vị vua theo kiểu phương Đông. Giống ông, những Hoàng đế sau đó coi danh hiệu của mình là một chức trách của nguyên thủ quốc gia-công dân thứ nhất, đồng thời là tổng chỉ huy quân đội và trong nhiều trường hợp là cả vai trò trong tôn giáo nhà nước.

Vì lý do trên, danh hiệu hoàng đế La Mã không thực sự là cha truyền con nối ít ra là trên danh nghĩa. Tuy nhiên từ thời Diocletianus, nền cai trị càng lúc càng trở nên có tính cách quân chủ. Đế quốc La Mã bị phân chia làm đôi từ thế kỷ IV và từ đó, trong khi đế quốc Tây La Mã nhanh chóng lụn bại, vị hoàng đế cuối cùng của Roma, Romulus Augustus phải thoái vị năm 476 thì đế quốc Đông La Mã hấp thu các yếu tố Đông phương trong đó có việc quân chủ hóa nền cai trị. Các vị Hoàng đế Byzantine tập trung quyền lực tối cao vào bản thân, gồm cả các yếu tố thần quyền, và tiếp tục trị vì cho tới năm 1453.

Magister militum

Magister militum (tiếng Latinh nghĩa là "Thống lĩnh quân đội", số nhiều magistri militum) là một viên chỉ huy quân sự cấp cao nhất của Đế quốc La Mã thời hậu kỳ. Thuật ngữ đề cập đến sĩ quan quân đội cao cấp (tương đương với một chỉ huy chiến trường, hoàng đế lại còn là tổng tư lệnh tối cao) của Đế chế. Trong các nguồn sử liệu Hy Lạp, thuật ngữ này được dịch thành strategos hoặc là stratelates.

Marcianus

Marcianus (tiếng Latinh: Flavius Marcianus Augustus; 392 – 457) là Hoàng đế Đông La Mã từ năm 450 đến 457. Triều đại của ông đã đánh dấu sự phục hồi của Đế quốc Đông La Mã từ trọng trách bảo vệ triều đình khỏi những mối đe dọa bên ngoài đến việc cải cách kinh tế và tài chính. Mặc khác, chính sách biệt lập của Marcianus đã bỏ rơi Đế quốc Tây La Mã khiến họ không đủ sức ngăn chặn các cuộc tấn công của người rợ, đã được thể hiện qua các chiến dịch tàn phá nước Ý của Attila và vụ cướp phá thành Rome của người Vandal năm 455. Về sau ông được Giáo hội Chính Thống giáo Đông phương phong thánh.

Palladius (Caesar)

Palladius (kh. 420 – tháng 6 năm 455) là Caesar (tiểu hoàng đế) của Đế quốc Tây La Mã trong vòng hai tháng năm 455, cùng cha là Petronius Maximus.

Ravenna

Ravenna (phát âm tiếng Ý: [raˈvenna], cũng là phát âm tiếng Ý: [raˈvɛnna] (); Bản mẫu:Lang-rgn) là thành phố thủ phủ của tỉnh Ravenna thuộc vùng Emilia-Romagna, miền Bắc Ý. Nó từng là thủ đô của Đế quốc Tây La Mã từ năm 402 cho đến khi đế quốc sụp đổ vào năm 476. Sau đó nó tiếp tục trở thành thủ đô của Vương quốc Ostrogoth cho đến khi nó bị tái chinh phục bởi Đế quốc Đông La Mã vào năm 540. Thành phố sau đó trở thành trung tâm của Đông La Mã cho đến khi cuộc xâm lăng của người Oliver vào năm 751, trở thành thủ đô của Vương quốc Lombardia.

Mặc dù không phải là thành phố gần biển nhưng Ravenna được nối với biển Adriatic bởi kênh đào Candiano. Thành phố được biết đến với kiến trúc La Mã và Byzantine được bảo tồn tốt, với tám công trình nằm trong danh sách Di sản thế giới của UNESCO như là những Tượng đài Kitô hữu tiên khởi ở Ravenna.

Roma

Roma (tiếng Latinh và tiếng Ý: Roma; còn phổ biến với tên gọi Rome trong tiếng Anh và tiếng Pháp hay La Mã theo phiên âm Hán Việt) là thủ đô của nước Ý và là một đô thị cấp huyện (comune) loại đặc biệt (có tên đầy đủ là Comune di Roma Capitale), đồng thời đóng vai trò là thủ phủ vùng Lazio của quốc gia này. Roma là thành phố lớn nhất và đông dân nhất ở Ý với hơn 2,8 triệu cư dân trong phạm vi 1.285 km². Đây là thành phố đông dân thứ tư của Liên minh châu Âu, sau Luân Đôn, Berlin và Madrid, tính theo số dân sinh sống bên trong phạm vi thành phố. Roma cũng đồng thời là trung tâm của Thành phố đô thị Roma Thủ đô với hơn 4,3 triệu cư dân, do đó là thành phố đô thị đông dân nhất của nước Ý. Roma tọa lạc ở vùng Lazio, dọc theo con sông Tevere (khu vực Latium lịch sử) thuộc Trung Tây của bán đảo Ý. Thành quốc Vatican (quốc gia nhỏ nhất thế giới) là một đất nước độc lập nằm trong lòng Roma, đây là ví dụ duy nhất về một quốc gia nằm trong lãnh thổ của một thành phố; cũng vì lý do này mà Roma thường được xem là thủ đô lưỡng quốc.Lịch sử Roma trải dài 28 thế kỷ. Mặc dù thần thoại La Mã đặt mốc thời gian thành lập Roma vào khoảng năm 753 TCN, tuy nhiên thành phố đã có mặt cư dân sinh sống lâu hơn thế, khiến nó trở thành một trong những khu định cư lâu đời nhất có con người vẫn đang tiếp tục sinh sống tại châu Âu. Cư dân ban đầu của thành phố có nguồn gốc hỗn hợp từ người Latinh, Etrusca và Sabine. Sau đó, thành phố trở thành thủ đô của Vương quốc La Mã, Cộng hòa La Mã và Đế quốc La Mã, và được nhận định là cái nôi của nền văn minh phương Tây cũng như là kiểu mẫu đô thị trung tâm đầu tiên từng xuất hiện. Roma ban đầu được gọi là Thành phố vĩnh hằng (tiếng Latinh: Urbs Aeterna) bởi thi hào Tibullus người La Mã trong thế kỷ thứ nhất TCN và ý tưởng đó đã được Ovidius, Vergilius và Livius tiếp nối. Thành phố còn nổi tiếng với danh hiệu "Caput Mundi" trong tiếng Latinh có nghĩa là Kinh đô thế giới. Theo sau sự sụp đổ của Đế quốc Tây La Mã đánh dấu khởi đầu của Đêm trường Trung Cổ, Roma dần rơi vào sự thống trị của giáo hoàng (đã cư ngụ tại thành phố kể từ thế kỷ 1) và chính thức thế kỷ 8 trở thành thủ đô của Vương quốc Giáo hoàng tồn tại cho đến năm 1870. Bắt đầu từ thời kỳ Phục Hưng, hầu như tất cả các giáo hoàng từ Nicôla V (1447–1455) trở đi đều chủ trương theo đuổi tiến trình mang tính kiến trúc và đô thị hóa liên tục suốt 400 năm nhằm mục đích biến thành phố trở thành trung tâm nghệ thuật và văn hóa của thế giới. Do vậy, Roma trở thành trung tâm lớn của nền Phục Hưng Ý, và sau đó là nơi khai sinh của trường phái Baroque và chủ nghĩa Tân cổ điển. Các nghệ sĩ, họa sĩ, nhà điêu khắc và kiến trúc sư nổi tiếng đã biến Roma trở thành trung tâm hoạt động của họ, tạo ra những kiệt tác khắp toàn thành phố. Năm 1871, Roma chính thức trở thành thủ đô của Vương quốc Ý thống nhất và sau đó là Cộng hòa Ý từ năm 1946 cho đến ngày nay.

Roma mang đẳng cấp của một thành phố toàn cầu. Trong năm 2016, Roma xếp thứ 14 trong số những thành phố được viếng thăm nhiều nhất thế giới, đứng thứ 3 tại châu Âu và là điểm thu hút khách du lịch nổi tiếng nhất tại Ý. Khu trung tâm lịch sử của Roma được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới. Bảo tàng Vatican nổi tiếng nằm trong số những bảo tàng được viếng thăm nhiều nhất thế giới và Đấu trường La Mã trở thành điểm thu hút khách du lịch phổ biến nhất thế giới với 7,4 triệu lượt khách trong năm 2018. Roma cũng là nơi tổ chức Thế vận hội Mùa hè 1960. Roma là trụ sở của các cơ quan chuyên môn thuộc Liên Hiệp Quốc như Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp (FAO), Chương trình Lương thực Thế giới (WFP) và Quỹ quốc tế về phát triển nông nghiệp (IFAD). Thành phố cũng là nơi đặt văn phòng Tổng thư ký Hội đồng Nghị viện Liên minh Địa Trung Hải (UfM) cũng như trụ sở của nhiều tập đoàn kinh doanh quốc tế như Eni, Enel, TIM, Leonardo S.p.A., và các ngân hàng nhà nước và quốc tế như Unicredit và BNL. Khu vực quận kinh tế và trung tâm thương mại của thành phố được gọi là EUR, là cơ sở của nhiều công ty quan trọng tham gia vào các ngành công nghiệp dầu mỏ, công nghiệp dược phẩm và dịch vụ tài chính. Roma cũng là một trung tâm thiết kế và thời trang quan trọng nhờ các thương hiệu quốc tế nổi tiếng có trụ sở tại thành phố, và đứng ở vị trí thứ 5 trong bảng xếp hạng các kinh đô thời trang của thế giới trong những năm gần đây. Phim trường Cinecittà của Roma, phim trường lớn nhất tại châu Âu, đã trở thành nơi bấm máy của rất nhiều bộ phim đoạt giải Oscar.

Romulus Augustus

Romulus Augustus (khoảng năm 461/463 - sau năm 476, trước năm 488) là vị Hoàng đế cuối cùng của Đế chế Tây La Mã, trị vì từ ngày 31 tháng 10 năm 475 đến ngày 4 tháng 9 năm 476. Việc ông bị phế truất bởi Odoacer, một thủ lĩnh bộ tộc German, đã đánh dấu sự kết thúc của Đế quốc Tây La Mã, sự sụp đổ của La Mã cổ đại, và bắt đầu của thời Trung cổ ở Tây Âu.

Ông cũng được biết đến với biệt danh "Romulus Augustulus", mặc dù ông đã cai trị chính thức như Romulus Augustus. Hậu tố Ulus- trong tiếng Latin có nghĩa là một thứ gì nhỏ bé, vì vậy, danh hiệu Augustulus có nghĩa là "Augustus Nhỏ". Một số nhà văn Hy Lạp thậm chí còn đi xa như vậy đã sửa đổi sai lạc tên của ông để châm biếm thành "Momylos", hoặc "nỗi ô nhục nhỏ".Các nguồn sử liệu chỉ đưa ra một vài chi tiết về tiểu sử của Romulus. Ông được cha mình là Orestes, một magister militum (Tổng tư lệnh quân đội) đưa lên ngôi sau khi truất phế hoàng đế Julius Nepos. Romulus, lúc đó hãy còn là một đứa trẻ, đã làm một vị vua bù nhìn cho một thực tế là cha ông trị vì. Chỉ làm vua trong 10 tháng, Romulus sau đó đã bị thủ lĩnh bộ tộc German là Odoacer hạ bệ và bị chuyển tới sống ở Lucullanum Castellum tại Campania, sau đó ông biến mất khỏi các sử liệu.

Thời kỳ cổ đại

"Cổ đại" được đổi hướng đến đây. Để biết về các nghĩa khác, xem thời cổ đại. Thời gian trước khi chữ viết xuất hiện là thời sơ sử hay thời tiền sử.Thời kỳ cổ đại là lịch sử thế giới từ khi con người xuất hiện lần đầu tiên ở Cựu thế giới đến thời Sơ kì Trung Cổ ở châu Âu và nhà Tần ở Trung Hoa.Những thời kì theo sau những sự kiện trên bao gồm thời Đế quốc ở Trung Hoa và các vương quốc Trung đại ở Ấn Độ;

Chiều dài của lịch sử sự ghi chép có lẽ là 5000 năm, bắt đầu với việc chữ hình nêm Sumer nổi lên từ thời tiền văn tự trong thế kỷ 30 TCN, đây là lối viết văn cổ nhất theo nghiên cứu hiện nay. Lúc đấy, lịch sử - trái ngược với tiền sử, theo cách xác định của nhiều nhà sử học - đã ra đời.Thuật ngữ thời cổ điển thường được dùng để chỉ lịch sử Cựu Thế giới hay châu Âu, kể từ sự bắt đầu được ghi nhận của lịch sử Hy Lạp năm 776 TCN (Olympiad đầu tiên). Việc này diễn ra gần với năm sáng lập La Mã là 753 TCN, sự ra đời của lịch sử La Mã cổ đại. Dù thời gian kết thúc lịch sử thế giới cổ đại gây tranh cãi, các học giả phương Tây xem Sự sụp đổ của Đế quốc Tây La Mã vào năm 476 SCN, hay cái chết của hoàng đế Justinianus I, hay sự ra đời của Hồi giáo và sự lên ngôi của Charlemagne đánh dấu sự kết thúc của lịch sử châu Âu cổ đại

Valens

Valens (Latin: Augustus Valens Flavius ​​Julius; 328-9 tháng 8 năm 378) là Hoàng đế Đông La Mã từ năm 364-378. Ông đã được trao cho nửa phía đông của đế quốc bởi Valentinianus I, anh trai của ông sau khi ông ta lên ngôi. Valens, đôi khi được gọi là Người La mã đích thực cuối cùng, đã bị đánh bại và bị giết chết trong trận Adrianople, đánh dấu sự bắt đầu sụp đổ của Đế quốc Tây La Mã.

Viện nguyên lão La Mã

Viện nguyên lão là một tổ chức chính trị ở La Mã cổ đại. Đây là một tổ chức lâu dài nhất trong lịch sử La Mã, được thành lập trong những ngày đầu tiên của thành phố Roma (theo truyền thống thành lập vào năm 753 TCN). Viện nguyên lão tồn tại qua nhiều sự kiện như lật đổ các vị vua La Mã năm 509 TCN, sự sụp đổ của Cộng hòa La Mã vào thế kỷ 1 TCN, sự phân chia đế quốc La Mã năm 395 CN, sự diệt vong của Đế quốc Tây La Mã năm 476 CN và sự cai trị Roma của man tộc vào các thế kỷ 5, 6 và 7.

Trong mỗi thời kỳ riêng biệt của sự tồn vong của La Mã cổ đại trong lịch sử của nó, định nghĩa và chức năng thi hành của Viện nguyên lão La Mã / Nghị viện La Mã thay đổi bằng cách mở rộng hoặc suy giảm để thích ứng và phù hợp với những thời kỳ nhất định. Những năm cải cách và tái định nghĩa lại hoạt động của Viện nguyên lão La Mã cổ đại thứ tự lần lượt theo từng năm là năm 616 trước công nguyên → năm 509 trước công nguyên → năm 80 trước công nguyên → năm 27 trước công nguyên.

Trong thời kỳ vương quốc, quy mô của Viện nguyên lão còn nhỏ hơn nhiều so với một hội đồng tư vấn cho nhà vua. Vị vua La Mã cuối cùng, Lucius Tarquinius Superbus bị lật đổ sau một cuộc đảo chính do Lucius Junius Brutus lãnh đạo.

Trong thời kỳ đầu của nền cộng hòa, vai trò chính trị của Viện nguyên lão khá yếu, trong khi các quan tòa lại hoạt động khá mạnh mẽ. Phải mất một thời gian dài kể từ khi chuyển đổi từ chế độ quân chủ qua sự cai trị có hiến pháp, Viện nguyên lão mới có thể tự khẳng định vai trò của mình cao hơn với các quan tòa. Viện nguyên lão đạt tới đỉnh cao quyền lực vào thời kỳ giữa của nền cộng hòa. Thời kỳ cuối của nền cộng hòa chứng kiến sự gia tăng quyền lực của Viện nguyên lão, bắt đầu từ sau cuộc cải cách của hai quan bảo dân là Tiberius và Gaius Gracchus.

Sau sự thay đổi từ thể chế cộng hòa sang chế độ Nguyên thủ, Viện nguyên lão mất đi nhiều quyền lực cũng như uy tín của mình. Sau những cải cách của hoàng đế Diocletianus, Viện nguyên lão trở thành một thực thể không liên quan tới chính trị, và cũng không bao giờ lấy lại được quyền lực vốn có trước kia. Khi thủ đô của đế quốc chuyển khỏi Roma, chức năng của Viện giảm xuống chỉ còn như một bộ phận của chính quyền. Điều này càng trở nên rõ rệt hơn khi hoàng đế Constantius II thành lập một nghị viện mới ở Constantinopolis.

Sau khi Đế quốc Tây La Mã sụp đổ năm 476, Thượng viện La Mã (Viện nguyên lão) ở phía Tây vẫn còn hoạt động một thời gian dưới sự cai trị của man tộc trước khi được phục hồi sau cuộc tái chiếm phần lớn lãnh thổ của Đế quốc Tây La Mã dưới thời Justinian I. Tuy nhiên, Thượng viện cuối cùng của Roma đã biến mất vào một thời điểm nào đó sau năm 603 sau công nguyên (năm mà thượng nghị sĩ được biết đến cuối cùng được đề cập). Mặc dù vậy, danh hiệu "thượng nghị sĩ" vẫn được sử dụng thường xuyên vào thời Trung cổ như một phần của sự tôn kính nhưng phần lớn vô nghĩa. Tuy nhiên, Thượng viện La Mã (Viện nguyên lão) phía Đông vẫn tồn tại đến khi biến mất vào thế kỷ thứ 14.

Vương quốc Soissons

Vương quốc Soissons là một quốc gia tàn dư của Đế quốc Tây La Mã ở miền bắc xứ Gaul (đại bộ phận nước Pháp ngày nay) tồn tại trong khoảng hai mươi lăm năm vào cuối thời Cổ đại. Quá trình phát triển của Vương quốc Soissons bắt đầu từ khi Hoàng đế Majorianus (457–461) bổ nhiệm Aegidius làm magister militum xứ Gaul thuộc La Mã. Cho đến lúc Majorianus mất hết quyền hành và mạng sống của ông vào tay viên tướng man tộc Ricimer năm 461, Aegidius đã duy trì nền thống trị của riêng mình tại nhiều vùng miền của xứ Gaul, tạo ra một quốc gia còn sót lại của La Mã được biết đến dưới tên gọi Vương quốc Soissons. Trước tình hình hỗn loạn lúc đó tại Gaul, ông vẫn giữ được quyền lực của mình nhằm đương đầu với người Frank ở miền Đông và người Visigoth ở miền Nam; bù lại mối quan hệ của Aegidius với xứ Brittany bên Anh thuộc La Mã khá là thân thiện. Aegidius lâm bệnh mất vào năm 464 hoặc 465. Con là Syagrius kế thừa cơ nghiệp. Năm 486, Syagrius đại bại trong trận chiến ở Soissons với vua người Frank là Clovis I khiến lãnh địa từ đó trở đi nằm hẳn dưới sự kiểm soát của người Frank.

Zeno (hoàng đế)

Zeno hay Zenon (; tiếng Latinh: Flavius Zeno Augustus; tiếng Hy Lạp: Ζήνων) (425 – 491), tên thật là Tarasis(), là Hoàng đế Đông La Mã từ năm 474 tới 475 và một lần nữa từ 476 tới 491. Các cuộc nổi loạn trong nước và vấn đề chia rẽ tôn giáo đã xảy ra dưới thời ông trị vì, dù vẫn đạt được thành công chừng mực trong các vấn đề đối ngoại. Triều đại của Zeno đã chứng kiến sự cáo chung của Đế quốc Tây La Mã dưới thời Hoàng đế Julius Nepos, nhưng ông đã có công lớn góp phần ổn định Đế quốc Đông La Mã trong thời kỳ đầy biến động này.

Trong lịch sử Giáo hội Thiên Chúa giáo La Mã, Zeno có liên quan đến sự kiện ban hành Henotikon hoặc "Chỉ dụ Hợp nhất" do chính ông ban bố và được tất cả các Giám mục Giáo hội phương Đông ký vào, nhằm mục đích giải quyết những bất đồng xoay quanh thuyết Nhất Tính luận.

Đế quốc Đông La Mã

Đế quốc Đông La Mã (tiếng Hy Lạp cổ đại: Βασιλεία Ῥωμαίων, phiên âm: Basileia Rhōmaiōn, tiếng Latinh: Imperium Romanum tạm dịch là "Đế quốc La Mã") còn được gọi Đế quốc Byzantium, Đế quốc Byzantine, Đế quốc Byzance hay Đế quốc Hy Lạp là một đế quốc tồn tại từ năm 330 đến năm 1453, đóng đô ở Constantinopolis. Trước khi thành lập, phạm vi của Đế quốc Đông La Mã trước đây nằm trong lãnh thổ của Đế quốc La Mã. Năm 330, khi Constantinus I, con của hoàng đế Constantius, nắm quyền trị vì và dời đô từ thành La Mã về Constantinopolis, được xem là thời điểm thành lập đế quốc Đông La Mã. Khi ông qua đời, đế quốc bị các con trai ông phân chia thành Đông và Tây. Sau khi vị hoàng đế cuối cùng của đế quốc phía tây là Romulus Augustus bị một thủ lĩnh người Giéc-man hạ bệ, đế quốc Tây La Mã sụp đổ. Nhưng đế quốc phía đông vẫn tiếp tục phát triển, trở thành một cường quốc có vai trò quan trọng ở châu Âu và được xem là một trong những trung tâm đạo Ki-tô lúc bấy giờ.

Không thấy một tư liệu chính xác nào về sự khởi đầu của đế quốc Đông La Mã. Một vài ý kiến cho rằng đế quốc này được thành lập dưới thời cai trị của Hoàng đế Diocletianus (284–305), người đã chia đế quốc La Mã thành hai nửa đông và tây. Một vài người lại nói rằng đế quốc bắt đầu vào thời của Constantinus I, vị hoàng đế đầu tiên đóng đô tại Constantinopolis. Những ý kiến khẳng định vào thời trị vì của Hoàng đế Theodosius I (379–395) hoặc theo sau cái chết của ông vào năm 395. Một vài người cho vào thời điểm xa hơn vào năm 476 khi đế quốc phía tây sụp đổ. Nhưng hiện nay tư liệu khá chính xác là vào năm 330, khi Constantinus I thành lập tân đô Constantinopolis dưới sự phát triển vượt bậc của văn hóa Ki-tô giáo và thời kỳ văn hóa chịu ảnh hưởng Hy Lạp (quá trình Hy Lạp hóa văn hóa). Đế quốc Đông La Mã đã tồn tại hơn một ngàn năm, từ thế kỷ thứ IV cho đến năm 1453. Trong thời gian tồn tại của nó, Đông La Mã vẫn là một trong những cường quốc kinh tế, văn hóa, và quân sự lớn mạnh nhất ở châu Âu, bất chấp những thất bại và mất mát lãnh thổ, đặc biệt là trong cuộc Chiến tranh La Mã-Ba Tư và Chiến tranh Ả Rập-Đông La Mã. Đế quốc sau đó đã phục hưng dưới triều đại Macedonia, một lần nữa Đông La Mã vươn lên thành liệt cường hàng đầu của vùng Đông Địa Trung Hải vào cuối thế kỷ thứ X, đối địch với Nhà Fatima của người Hồi giáo.Tuy nhiên, sau năm 1071, nhiều lãnh đổ ở Tiểu Á - trung tâm của đế quốc, bị người Thổ Nhĩ Kỳ Seljuk chiếm đoạt. Mặc dù Vương triều nhà Komnenos đã giành lại một số đất đai và hưng thịnh lại Đế quốc trong một thời gian ngắn trong thế kỷ thứ XII, sau khi Hoàng đế Andronikos I Komnenos qua đời và Vương triều Komnennos cáo chung ở cuối thế kỷ thứ XII, một lần nữa Đế quốc lâm vào suy vong. Đế quốc Đông La Mã bị cuộc Thập tự chinh lần thứ tư giáng một đòn chí mạng vào năm 1204, khiến Đế quốc bị giải thể và các lãnh thổ La Tinh và Hy Lạp thuộc Đông La Mã bị chia cắt.

Vào năm 1261, kinh đô Constantinopolis được giải phóng và Đế quốc Đông La Mã trung hưng, thế nhưng dưới triều các hoàng đế nhà Palaiologos, Đông La Mã chỉ còn là một trong nhiều quốc gia nhỏ đối địch nhau ở khu vực, trong suốt 200 năm tồn tại cuối cùng của nó. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, nền văn hóa của Đế quốc sinh sôi nảy nở. Các cuộc biến loạn cung đình xảy ra liên tiếp trong thế kỷ XIV tiếp tục hủy hoại sự thịnh vượng của Đế quốc Đông La Mã, trong khi các lãnh thổ còn lại của Đông La Mã lần lượt bị lấy mất trong cuộc Chiến tranh Đông La Mã-Ottoman, mà đỉnh điểm là sự thất thủ của Constantinopolis và các vùng lãnh thổ còn lại bị Đế quốc Ottoman chinh phục vào thế kỷ thứ XV.

Chủ đề La Mã cổ đại
Lịch sử
Hiến pháp
Chính quyền
Quan tòa
Luật pháp
Quân sự
Kinh tế
Kỹ thuật
Văn hóa
Xã hội
Tác giả
Danh sách
Thành phố
Chủ đề khác
Cổ đại
Trung đại
Hiện đại
Thực dân

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.