Đại Trung Đông

Đại Trung Đông[1], đôi khi còn gọi "Trung Đông mới",[2] hay "Dự án Đại Trung Đông".[3][4] là một thuật ngữ chính trị biểu thị một loạt các quốc gia kết nối liên tục kế nhau. Khu vực này trải dài từ phía tây Maroc đến rìa phía tây của Trung Quốcphía đông.[5] Đôi khi khu vực này cũng bao gồm Nam KavkazTrung Á.

Greater Middle East (orthographic projection)
  Định nghĩa về Trung Đông trong Đông phương học
  Đại Trung Đông (Khu vực có chung văn hóa đang trải qua sự tái cấu trúc chính trị lớn)
  Các khu vực đôi khi được liên hệ với Trung Đông (Những mối liên hệ chung về xã hội - văn hóa)

Các quốc gia và vùng lãnh thổ của Đại Trung Đông

Các nước đôi khi sáp nhập vào khái niệm Đại Trung Đông

Nguồn: "Cuộc chiến của Hoa Kỳ trong Đại Trung Đông, Andrew Bacevich (2016)"

Sự hình thành "Đề án Đại Trung Đông"

Năm 1957, tổng thống Mỹ Dwight Eisenhower đã đệ trình Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ "Đề án về Trung Đông" nhằm lấp đầy khoảng trống chiến lược ở vùng này, ngăn chặn Liên Xô "nhảy vào" sau khi Anh và Pháp rút khỏi các thuộc địa ở đây và trao trả độc lập cho hơn 10 quốc gia Hồi giáo trong khu vực. Năm 1970, một năm trước khi tuyên bố xóa bỏ chế độ "bản vị vàng" của đồng Dollar Mỹ và chuyển sang sử dụng "bản vị dầu mỏ", tổng thống Mỹ Richard Nixon đã đề xuất một "Đề án thứ hai về Trung Đông" trên cơ sở "Học thuyết Guam" (cũng gọi là "Học thuyết Nixon") nhàm "Trung Đông hóa" vùng này tương tự như "Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh" nhằm giảm sự hiện diện của quân đội Mỹ tại đây nhưng vẫn bảo đảm sự khống chế của Mỹ đối với vùng dầu mỏ quan trọng bậc nhất thế giới này.

Năm 1980, tổng thống Mỹ Jimmy Carter tiếp tục đề xuất "Đề án Trung Đông thứ ba" nhằm tranh giành ảnh hưởng với Liên Xô trong khu vực. Tiếp đó, năm 1987, tổng thống Mỹ Ronald Reagan cũng có "Đề án Trung Đông thứ tư" nhằm thiết lập sự gắn kết các vùng lợi ích trọng điểm chiến lược của Mỹ vắt ngang qua Châu Phi và Châu Á. Đến năm 1996, nhóm nghị sĩ "Tân bảo thủ" tại Hạ nghị viện Mỹ đã đệ trình tổng thống William Clinton "Chiến lược Đại Trung Đông" trên cơ sở 4 đề án về Trung Đông đã được hình thành từ năm 1957 đến năm 1987 nhằm phát huy lợi thế của Mỹ sau khi Liên Xô và khối XHCN Đông Âu sụp đổ.

Sau vụ khủng bố ngày 11-9-2001 nhằm vào Tòa tháp đôi WTC ở New York và Lầu Năm Góc ở Washington DC, tổng thống Mỹ Gẻoge W. Bush ban hành văn kiện "Chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ - Phân tích sau sự kiện 11-9-2001" đặt mục tiêu thay đổi hiện trang chính trị-xã hội ở 24 quốc gia từ Marocco đến Afghanistan, đặt cơ sở cho việc thiết lập quyền kiểm soát của Mỹ đối với toàn bộ lục địa Á-Âu và Bắc Phi. Nội dung cơ bản của "Đề án Đại Trung Đông" được tổng thống Mỹ George W. Bush trình bày tại "Quỹ quốc gia hỗ trợ dân chủ" (National Endowment of Democracy - NED) ngày 6-11-2003. [6]

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ “Chính quyền Bush và chiến lược Đại Trung Đông”. Vnexpress. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2016.
  2. ^ Nazemroaya, Mahdi Darius (ngày 18 tháng 11 năm 2006). “Plans for Redrawing the Middle East: The Project for a "New Middle East". Global Research. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2008.
  3. ^ “Great Middle East Project” Conference by Prof. Dr. Mahir Kaynak and Ast.Prof. Dr. Emin Gürses in SAU
  4. ^ Turkish Emek Political Parties
  5. ^ Ottaway, Marina & Carothers, Thomas (ngày 29 tháng 3 năm 2004), The Greater Middle East Initiative: Off to a False Start], Policy Brief, Carnegie Endowment for International Peace, 29, Pages 1-7.
  6. ^ Lê Thế Mẫu. Thế giới - Bước ngoặt lịch sử. NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội. 2015, trang 262-263

Liên kết ngoài

Chế độ quân chủ Iran

Chế độ quân chủ Iran có thể là:

Trước thời kỳ Hồi giáo:

2700–519 TCN Đế quốc Elamite

715–549 TCN Đế quốc Median

558–330 TCN Đế quốc Achaemenid

247 TCN - 224 Đế quốc Parthia

224–651 Đế chế Sassanian

Thời kỳ Hồi giáo:

651–1785 các triều đại Hồi giáo Iran thời Trung đại

1785-1925 Triều đại Qajar

1925–1979 Triều đại Pahlavi

MENA

MENA (Tiếng Anh: Middle East and North Africa), là một cụm từ gộp chỉ chung về hai khu vực chính và quan trọng trên thế giới, khu vực Trung Đông/Tây Nam Á với khu vực Bắc Phi, quen gọi trong tiếng Việt là khu vực Trung Đông-Bắc Phi. Nó thi thoảng hay bị lẫn với từ Cận Đông hoặc Đại Trung Đông. Nó trải dài từ Maroc tới Iran.

Do tính chất phức tạp về cách gọi, nó cũng có thể gọi theo các cái tên khác như Tây Á-Bắc Phi (West Asia-North Africa; WANA), hoặc Bắc Phi-Tây Á (NAWA), song MENA vẫn là cái tên thông dụng nhất.

Dân số ở khu vực này chiếm khoảng 6-7% dân số thế giới.

Nghị quyết 242 của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc

Nghị quyết 242 của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc (S/RES/242) được nhất trí thông qua bởi Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc vào ngày 22 tháng 11 năm 1967, sau cuộc chiến tranh 6 ngày. Nó đã được thông qua theo Chương VI của Hiến chương Liên Hợp Quốc. Nghị quyết được tài trợ bởi đại sứ Anh Lord Caradon và là một trong năm dự thảo đang được xem xét.Lời mở đầu đề cập đến "tính không thể chấp nhận được việc chiếm đóng lãnh thổ bằng chiến tranh và cần phải có một nền hòa bình công bằng và lâu dài ở Trung Đông, trong đó mọi quốc gia trong khu vực có thể sống an ninh".

Đoạn 1 "khẳng định rằng việc thực hiện các nguyên tắc về Hiến chương đòi hỏi phải thiết lập một nền hoà bình công bằng và lâu dài ở Trung Đông, bao gồm việc áp dụng cả hai nguyên tắc sau:

(i) Rút quân đội Israel khỏi các lãnh thổ bị chiếm đóng trong cuộc xung đột gần đây;

(ii) Chấm dứt mọi khiếu nại, tình trạng nguy kịch, tôn trọng và công nhận chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và sự độc lập chính trị của mọi quốc gia trong khu vực và quyền sống hòa bình trong phạm vi an toàn và được công nhận không bị đe doạ hoặc hành động ép buộc."Ai Cập, Jordan, Israel và Li Băng đã tham vấn với Đại diện đặc biệt của LHQ về việc thực hiện 242. Sau khi tuyên bố nó vào năm 1967, Syria chấp nhận "có điều kiện" nghị quyết vào tháng 3 năm 1972. Syria chính thức chấp nhận Nghị quyết 338 của Hội đồng Bảo an LHQ, lệnh ngưng bắn vào cuối cuộc chiến Yom Kippur (năm 1973), đưa ra nghị quyết 242.Ngày 1 tháng 5 năm 1968, Đại sứ Israel tại LHQ đã bày tỏ quan điểm của Israel đối với Hội đồng Bảo an: "Chính phủ tôi đã chỉ ra rằng đã chấp nhận nghị quyết của Hội đồng Bảo an để thúc đẩy thỏa thuận về việc thành lập một hòa bình bền vững và lâu dài. để khẳng định lại rằng chúng tôi sẵn sàng tìm kiếm sự đồng thuận với mỗi quốc gia Ả rập về mọi vấn đề trong nghị quyết đó. "

Tháng 9 năm 1993, PLO đồng ý rằng các Nghị quyết 242 và 338 sẽ là cơ sở để đàm phán với Israel khi ký Tuyên bố Nguyên tắc.

Nghị quyết 242 là một trong những nghị quyết khẳng định rộng rãi nhất về cuộc xung đột Ả Rập và Israel và tạo cơ sở cho các cuộc đàm phán sau đó giữa các bên. Những điều này đã dẫn tới các Hiệp ước Hòa bình giữa Israel và Ai Cập (1979) và Jordan (1994), cũng như các hiệp định năm 1993 và 1995 với người Palestine.

Pakistan

Pakistan (tiếng Việt: Pa-ki-xtan; tiếng Urdu: پاکِستان‎), tên chính thức Cộng hoà Hồi giáo Pakistan, là một quốc gia ở Nam Á. Tiếng Việt còn gọi quốc gia này vào thế kỷ XX là Hồi Quốc.

Pakistan có bờ biển dài 1,046 km (650 mi) dọc theo Biển Ả Rập và Vịnh Oman ở phía nam; phía tây giáp Afghanistan và Iran; phía đông giáp Ấn Độ; cực đông bắc giáp Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Tajikistan cũng nằm rất gần với Pakistan nhưng bị ngăn cách bởi Hành lang Wakhan hẹp. Vì thế, nước này nằm trên ngã tư đường giữa Nam Á, Trung Á và Trung Đông.Vùng tạo thành nước Pakistan hiện đại từng là trung tâm của nền Văn minh lưu vực sông Ấn cổ đại và sau này là nơi lĩnh hội các nền văn hoá Vệ Đà, Ba Tư, Ấn-Hy Lạp, Turk-Mông Cổ và Hồi giáo. Vùng này đã chứng kiện những cuộc xâm lược và/hay định cư của người Ấn-Aryan, Ba Tư, Hy Lạp, Ả Rập, Thổ, Kurdistani, Mông Cổ, Sikh và Anh.Ngoài Phong trào độc lập Ấn Độ yêu cầu một nước Ấn Độ độc lập, Phong trào Pakistan (dưới sự lãnh đạo của Muhammad Ali Jinnah thuộc Liên đoàn Hồi giáo), cũng tìm kiếm một nền độc lập cho Ấn Độ, tìm kiếm một nhà nước độc lập cho đa số dân cư Hồi giáo ở các vùng phía đông và phía tây của Ấn Độ thuộc Anh. Người Anh đã trao độc lập và cũng thành lập một nhà nước đa số Hồi giáo Pakistan gồm các tỉnh Sindh, Tỉnh biên giới Tây Bắc, Tây Punjab, Balochistan và Đông Bengal. Với việc thông qua hiến pháp năm 1956, Pakistan trở thành một nước Cộng hoà Hồi giáo. Năm 1971, một cuộc nội chiến bùng phát ở Đông Pakistan dẫn tới việc thành lập Bangladesh.

Lịch sử Pakistan có đặc điểm bởi những giai đoạn cai trị quân sự và bất ổn chính trị. Pakistan là một quốc gia đang phát triển phải đối mặt với các vấn đề tỷ lệ đói nghèo và mù chữ cao. Nước này là nước đông dân thứ sáu trên thế giới và có cộng đồng dân số Hồi giáo đứng hàng thứ hai thế giới sau Indonesia. Pakistan có số dân theo dòng Hồi giáo Shia đứng thứ hai thế giới.. Đây là quốc gia hạt nhân có đa số dân là tín đồ Hồi giáo duy nhất trên thế giới. Pakistan là một thành viên của Khối thịnh vượng chung, các nền kinh tế Next Eleven và D8.

Allama Iqbal là nhà thơ quốc gia của Pakistan. Ngoài quê hương, anh còn nổi tiếng ở Iran, khu vực Kurdistan và Iraq, nơi được gọi là Iqbāl-e Lāhorī.

Trung Đông

Trung Đông là một phân miền lịch sử và văn hoá của vùng Phi-Âu-Á về mặt truyền thống là thuộc các quốc gia vùng Tây Nam Á và Ai Cập. Trong những phạm vi khác, vùng này có thể gộp vào vùng Bắc Phi và/hay Trung Á. Pakistan và Kavkaz nói chung không thuộc vùng này. Ba ngôn ngữ đứng đầu về số người sử dụng là tiếng Ả Rập, Ba Tư và Thổ Nhĩ Kỳ, tiếng Anh cũng được sử dụng là ngôn ngữ thứ hai của một số cơ quan chính phủ của các nước phát triển và tầng lớp trung-thượng lưu ở các nước này. Các nền kinh tế phát triển thịnh vượng tính theo PPP như Qatar, Kuwait, UAE, Bahrain và Síp; các quốc gia xếp hạng thấp nhất về PPP là chính quyền Palestinian và Bờ Tây. Theo GDP, 3 nền kinh tế lớn nhất Trung Đông năm 2008 là Thổ Nhĩ Kỳ, Ả Rập Xê Út và Iran.

Các khu vực trên thế giới

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.