Đại Bình nguyên Bắc Mỹ

Đại Bình nguyên (tiếng Anh: Great Plains) là một vùng trải rộng gồm đồng cỏthảo nguyên nằm về phía đông dãy Rocky (Rặng Thạch Sơn) trong lãnh thổ của Hoa KỳCanada. Khu vực này bao phủ những phần đất của các tiểu bang Colorado, Kansas, Montana, Nebraska, New Mexico, Bắc Dakota, Oklahoma, Nam Dakota, TexasWyoming của Hoa Kỳ, các tỉnh bang và lãnh thổ của CanadaAlberta, ManitobaSaskatchewan, và kéo dài vào trong México. Tại Canada, thuật từ prairie (đồng cỏ) được thông dụng hơn, và vùng này được biết đến là các tỉnh bang đồng cỏ (Prairie Provinces hay đơn giản là "the Prairies".

Một số suy nghĩ hiện thời coi vị trí địa lý của Đồng bằng trung tâm Bắc Mỹ là được biểu thị qua một bản đồ [1] tại Trung tâm Nghiên cứu Đại Bình nguyên của Đại học Nebraska-Lincoln. Bản đồ này kéo dài ranh giới phía đông của đồng bằng trung tâm xuống sông Assiniboine đến Winnipeg, Canada, về phía nam xuống sông Red of the North đến biên giới phía đông của Nam DakotaNebraska rồi xuống sông Missouri đến Kansas City, xuống biên giới phía đông của Kansas đến Oklahoma là nơi bình nguyên này rẽ sang hướng tây nam về phía Oklahoma City trước khi tiếp tục hướng về phía nam qua Ft. Worth và trung Texas rồi sang hướng tây về phía Big Bend của sông Rio Grande. Vùng này rộng khoảng 500 dặm Anh (800 km) từ đông sang tây và 2.000 dặm Anh (3.200 km) từ bắc đến nam. Phần lớn vùng này là nơi cư trú của những đàn bò bison khổng lồ cho đến khi chúng bị săn bắn đến nổi gần như tuyệt chủng trong suốt giữa/cuối thế kỷ 1800. Đồng bằng này có diện tích khoảng 1.300.000 km2

Với đất đai màu mỡ, Đồng bằng trung tâm có nhiều trang trại cùng các cơ sở canh nông chăn nuôi mục súc. Phải kể thêm địa chất ở đây có nhiều quặng than đá và giếng dầu.

Map of Great Plains
Đại Bình nguyên Bắc Mỹ bao gồm miền trung nước Mỹ cùng một phần của CanadaMéxico. Vạch đỏ là Kinh tuyến 100 tây.
Châu Mỹ

Châu Mỹ là một châu lục nằm ở Tây Bán Cầu. Châu lục này bao gồm lục địa Bắc Mỹ, eo đất Trung Mỹ và lục địa Nam Mỹ.

Chó sói bình nguyên Bắc Mỹ

Chó sói bình nguyên Bắc Mỹ (Canis lupus nubilus), còn được gọi là buffalo wolf - sói trâu hay loafer, là một phân loài sói xám đã tuyệt chủng. Loại sói này từng sinh sống trong khu vực trải dài khắp vùng Đại Bình nguyên Bắc Mỹ, từ miền nam Manitoba và Saskatchewan đến phía nam bang Texas, Hoa Kỳ. Phân loài sói này bị công nhận tuyệt chủng vào năm 1926.Chó sói bình nguyên Bắc Mỹ được mô tả là một loài sói có kích thước lớn, có bộ lông sáng màu, tuy vậy vẫn có những cá thể sói có bộ lông màu trắng hoặc đen hoàn toàn hoặc bộ lông hai màu đen và trắng. Người Mỹ bản địa ở Bắc Dakota kể về việc chỉ cần ba con sói thuộc loài này là đã có thể hạ bệ bất kỳ con bò rừng nào, không cần quan tân đến kích thước của nó.

Chùm nho uất hận

Chùm nho uất hận (tiếng Anh: The Grapes of Wrath), còn có tên trên bản dịch là Chùm nho nổi giận hay Chùm nho phẫn nộ, là tiểu thuyết của văn hào John Steinbeck, bao gồm 30 chương, phản ánh những biến đổi sâu sắc trong nông thôn nước Mỹ khoảng những năm đầu thế kỷ 20 dưới ảnh hưởng mạnh mẽ của thời đại công nghiệp hóa. Với tác phẩm này, Steinbeck đã được trao giải Pulitzer vào năm 1940. Năm 1962, Steinbeck được trao giải Nobel Văn học, mà Chùm nho uất hận là sáng tác chính của Steinbeck được Viện Hàn lâm Thụy Điển đưa ra như một trong những lý do trao giải. Tạp chí Time liệt kê tác phẩm này trong danh sách 100 tiểu thuyết Anh ngữ hay nhất từ năm 1923 đến nay. Kết quả tuyển chọn dựa theo tiêu chí bình chọn Những kiệt tác thế giới được dịch ra chữ Hán do Bộ Văn hóa Trung Quốc tổ chức những năm 1980-1981 xếp Chùm nho uất hận là một trong 100 cuốn sách ảnh hưởng khắp thế giới.

Cornus drummondii

Cornus drummondii là một loài thực vật có hoa trong họ Cornaceae. Loài này được C.A.Mey. miêu tả khoa học đầu tiên năm 1845.

Đây là loài bản địa chủ yếu ở Đại Bình nguyên Bắc Mỹ và vùng Tây Trung bộ của Hoa Kỳ. Loài này cũng được tìm thấy xung quanh sông Mississippi. Chúng không phổ biến trong tự nhiên, và chủ yếu được tìm thấy xung quanh biên giới rừng.

Cầy thảo nguyên

Cầy thảo nguyên, còn gọi là sóc đồng cỏ, sóc chó tên khoa học Cynomys là loài gặm nhấm ăn cỏ biết đào hang có nguồn gốc từ những đồng cỏ ở Bắc Mỹ. Có năm loài như sau: Cầy thảo nguyên đuôi đen, Cầy thảo nguyên đuôi trắng, Cầy thảo nguyên Gunnison, Cầy thảo nguyên Utah và Cầy thảo nguyên Mexico. Chúng là một loại sóc đất, được tìm thấy ở Hoa Kỳ, Canada và Mexico. Ở Mexico, cầy thảo nguyên được tìm thấy chủ yếu ở các bang phía bắc, nằm ở cuối phía nam của Đại Bình nguyên Bắc Mỹ; đông bắc Sonora, phía bắc và đông bắc Chihuahua, phía bắc Coahuila, phía bắc Nuevo León và phía bắc Tamaulipas. Ở Hoa Kỳ, chúng chủ yếu phân bố ở phía tây sông Mississippi, dù đã được đưa vào một vài miền địa phương phía đông. Khác hẳn với tên gọi, chúng không thuộc họ Cầy.

Cắt lưng xám

Cắt lưng xám (danh pháp khoa học: Falco columbarius) là một loài chim cắt thuộc họ Cắt Bắc bán cầu. Chúng sinh sản ở bắc Holarctic; một số di cư đến khu vực cận nhiệt đới và nhiệt đới vào mùa đông.

Dãy núi Rocky

Dãy núi Rocky hay đơn giản là Rockies (phát âm như "Roóc-ky", đôi khi còn được biết đến với tên Rặng Thạch Sơn), là dãy núi khá rộng ở miền Tây Bắc Mỹ. Dãy núi Rocky chạy dài hơn 4.800 kilômét (3.000 dặm) từ cực bắc British Columbia (Canada) đến New Mexico (Hoa Kỳ). Đỉnh cao nhất là Núi Elbert ở Colorado cao 4.401 mét (14.440 foot) trên mực nước biển. Núi Robson ở British Columbia có độ cao 3.954 m (12.972 foot) là đỉnh cao nhất của Dãy núi Rocky phần phía Canada. Song song với dãy Rocky nhưng lui về phía tây là dãy núi Cascade và dãy núi Duyên hải Thái Bình Dương (Pacific Coast Ranges).

Dãy núi Rocky hình thành cách đây 80 đến 55 triệu năm bởi biến động địa thể "Laramide" khi những mảng kiến tạo từ phía tây bị dồn vùi xuống dưới mảng Bắc Mỹ, đôn cao mặt đất sinh ra rặng núi cao. Kể từ đó, do quá trình xói mòn thiên nhiên của nước và băng mà đất đá bị rạn nứt, chỗ thì khoét sâu thành thung lũng và lòng chảo, chỗ thì tỉa gọt đỉnh núi thêm chót vót. Cuối thời kỳ băng hà gần đây nhất, con người mới đặt chân đến vùng núi Rocky; đó là thổ dân châu Mỹ. Sau đó, người gốc châu Âu, như Alexander MacKenzie, Meriwether Lewis và William Clark dần dẫn cuộc xâm nhập dãy núi, thám hiểm địa hình cùng tìm kiếm khoáng sản và lông thú (những nguồn tài nguyên giá trị rất được ưa chuộng vào thế kỷ 18-19). Cho đến nay vùng núi Rocky vẫn là miền đất tương đối thưa dân cư, không như vùng đồng bằng phía đông lục địa hay duyên hải Thái Bình Dương phía tây.

Ngày nay, một phần lớn vùng núi Rocky thuộc khu vực bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia, thu hút khách du lịch muốn đi bộ đường dài, cắm trại, leo núi, câu cá, săn bắt, xe đạp leo núi, trượt tuyết, và trượt ván trên tuyết.

Eo Mackinac

Eo Mackinac là một eo nước ngọt kết nối hai hồ trong số Ngũ Đại Hồ: Hồ Michigan và Hồ Huron và phân chia Bán đảo Thượng Michigan với Bán đảo Hạ Michigan. Eo Mackinac là một tuyến giao thông đường thủy dùng cho việc vận chuyển nguyên liệu thô cũng như thành phẩm; ví dụ như nó là tuyến giao thông kết nối giữa mỏ sắt ở Minnesota với các nhà máy luyện thép ở Gary, Indiana. Trước khi hệ thống đường sắt phát triển tới Chicago từ phía đông, phần lớn người dân di cư đi đến vùng Trung Tây và Đại Bình nguyên Bắc Mỹ bằng đường thủy băng qua Ngũ Đại Hồ. Eo Mackinac rộng chừng 5 dặm (8 cây số) ở khu vực hẹp nhất của nó, nơi cầu Mackinac được xây dựng. Trước khi cầu Mackinac được xây, các phương tiện giao thông và cơ giới được các tàu lăn hàng chở qua eo biển. Hiện nay các tàu và phà chỉ chở người tới đảo Mackinac còn xe cơ giới thì không được phép; tuy nhiên phương tiện giao thông của du khách có thể được các phà ở đảo Bois Blanc chở sang.

Các đảo ở Eo Mackinac bao gồm hai đảo có người cư trú: Bois Blanc và Mackinac; và hai đảo chưa có người ở: Round và St.Helena. Với chiều dài 11 dặm (18 cây số), Bois Blanc là đảo lớn nhất trong eo Mackinac.

Eo Mackinac đủ hẹp và nông để hoàn toàn đóng băng trong mùa đông. Giao thông đường thủy vào thời điểm này được duy trì với sự hiện diện của các tàu phá băng

Hoang mạc hóa

Sa mạc hóa hay hoang mạc hóa là hiện tượng suy thoái đất đai ở những vùng khô cằn, gây ra bởi sinh hoạt con người và biến đổi khí hậu. Khuynh hướng sa mạc hóa gần đây đã tăng nhanh trên toàn thế giới phần vì áp lực dân số và nhu cầu trồng trọt và chăn nuôi.

Ảnh hưởng lớn nhất của nạn sa mạc hóa là nét đa dạng sinh thái bị suy giảm và năng suất đất đai cũng kém đi.

Hẻm lốc xoáy

Hẻm lốc xoáy (tiếng Anh: Tornado Alley) là khu vực địa lý ở trung phần Hoa Kỳ nơi thường xảy ra những cơn lốc xoáy. Khu vực này trải dài từ Texas ở phía nam đến Minnesota và Nam Dakota ở phía bắc.

Vì yếu tố thời tiết bị dao động bởi ba luồng khí tiếp giáp nhau trên vùng bình nguyên rộng, lốc xoáy dễ hình thành khi trời trở ấm, đẩy luồng khí ấm và ẩm từ đông nam lấn vào vùng khí lạnh và khô từ tây bắc. Thường thì luồng khí ấm xuất phát từ phía Vịnh Mexico tràn lên vào cuối xuân nhưng bị cản bởi khí lạnh. Nơi va chạm đó ở Đại Bình nguyên Bắc Mỹ là nơi sinh ra lốc xoáy. Hiện tượng này cũng xảy ra vào đầu thu với luồng khí lạnh gặp phải vùng khí nóng nhưng tác động này không mạnh bằng mùa xuân. Tính bình quân trên phương diện diện tích thì hai tiểu bang Oklahoma và Kansas là nơi có nhiều lốc xoáy nhất.

Lãnh thổ Louisiana

Lãnh thổ Louisiana là một lãnh thổ hợp nhất có tổ chức trong lịch sử của Hoa Kỳ từ ngày 4 tháng 7 năm 1805 đến 11 tháng 12 năm 1812. Nó bao gồm phần còn lại của Vùng đất mua Louisiana sau khi tách ra thành Lãnh thổ Orleans. Lãnh thổ Orleans sau đó trở thành tiểu bang Louisiana. Tuy nhiên Lãnh thổ Louisiana lớn hơn tiểu bang Louisiana rất nhiều. Lãnh thổ Louisiana là tất cả phần đất của Vùng đất mua Louisiana nằm ở phía bắc vĩ tuyến 33 độ Bắc (ranh giới phía nam của tiểu bang Arkansas hiện nay). Cơ quan chính quyền được đặt tại St. Louis.

Lãnh thổ Louisiana trong những ngữ cảnh khác có ý chỉ các lãnh thổ thuộc địa Louisiana của Pháp và Tây Ban Nha (xin xem Pháp thuộc địa hóa châu Mỹ, Tây Ban Nha thuộc địa hóa châu Mỹ). Thuật từ này cũng thường được dùng không chính thức để chỉ Vùng đất mua Louisiana.

Cả Meriwether Lewis (1807-1809) và William Clark (1813-1820) đã phục vụ với tư cách là thống đốc Lãnh thổ Louisiana.

Lãnh thổ Louisiana có 5 phân vùng Địa khu St. Louis, Địa khu St. Charles, Địa khu Ste. Genevieve, Địa khu Cape Girardeau và Địa khu New Madrid. Năm 1806, lập pháp lãnh thổ thành lập Địa khu Arkansas từ phần đất mà Xứ Osage nhượng lại. Phần còn lại được biết như là Lãnh thổ Thượng Louisiana.

Ngày 1 tháng 10 năm 1812, Thống đốc Clark tổ chức 5 địa khu hành chánh thuộc Lãnh thổ Thượng Louisiana thành các quận mà sau đó trở thành 5 quận đầu tiên của Lãnh thổ Missouri. Năm 1818, Các quận Franklin và Jefferson được thành lập từ quận gốc là Quận St. Louis để lại Quận St. Louis với vùng đất mà ngày nay bao gồm Quận St. Louis và Thành phố St. Louis.

Lãnh thổ Louisiana được đặt tên lại là Lãnh thổ Missouri vào năm 1812 để tránh nhầm lẫn với tiểu bang mới Louisiana.

Lãnh thổ Missouri

Lãnh thổ Missouri là một lãnh thổ hợp nhất có tổ chức trong lịch sử của Hoa Kỳ. Ban đầu nó được gọi là Lãnh thổ Louisiana nhưng sau đó vào ngày 4 tháng 6 năm 1812 được đổi tên để tránh nhầm lẫn với tiểu bang Louisiana gia nhập vào liên bang năm 1812. Lãnh thổ Arkansas bị tách ra khỏi Lãnh thổ Missouri năm 1819. Tiểu bang Missouri bị tách ra từ lãnh thổ này vào ngày 10 tháng 8 năm 1821.

Phần còn lại của lãnh thổ, bao gồm các phần đất của các tiểu bang hiện này là Iowa, Nam Dakota, Bắc Dakota và một phần Minnesota, trở thành lãnh thổ chưa được tổ chức sau khi tiểu bang Missouri được thành lập. Năm 1834, phần phía đông của Sông Missouri nhập vào Lãnh thổ Michigan.

Papilio glaucus

Papilio glaucus là một loài bướm thuộc họ Bướm phượng (Papilionidae).

Loài Papilio glaucus được mô tả năm 1758 bởi Linnaeus. Loài bướm Papilio glaucus sinh sống ở miền đông Hoa Kỳ từ nam Vermont đến Florida phía tây đến đông Texas và Đại Bình nguyên Bắc Mỹ. It is common throughout its range, Đây là loài phổ biến trong phạm vi của nó, mặc dù là hiếm ở miền Nam Florida và không có Florida Keys Năm 1932, một mẫu vật đã được thu thập ở Hạt Wicklow, Ireland. Nó được cho là đã được du nhập một cách ngẫu nhiên từ Bắc Mỹ. P. glaucus có thể được tìm thấy gần như bất cứ nơi nào rừng rụng lá xuất hiện. Môi trường sống thường gặp bao gồm rừng cây, đồng ruộng, sông, lạch, lề đường và vườn. Nó sẽ đi lạc vào các công viên đô thị và sân trong thành phố. Vì chúng thích nghi với nhiều môi trường sống khác nhau và cây ký chủ, P. glaucus là một loài nhất thời, và không bị coi là bị đe dọa.Các loài cây chủ loài bướm này sinh sống bao gồm:

Prunus serotina

Tần bì, các loài Fraxinus

Cottonwood, Populus

Ptelea trifoliata

Syringa vulgaris

Magnolia virginiana

Liriodendron tulipifera

Các loài Salix

Paratrea plebeja

Paratrea plebeja là một loài bướm đêm thuộc họ Sphingidae và là loài duy nhất trong chi Paratrea. Loài này có ở phần phía đông của Hoa Kỳ đến Đại Bình nguyên Bắc Mỹ. Nó cũng có mặt ở Nebraska, Kansas, Oklahoma và miền đông Texas.

Chiều dài sải cánh từ 31–35 mm.

Rosa carolina

Rosa carolina, hay hoa hồng Carolina, hoa hồng đồng cỏ, là một loài thực vật có hoa nằm trong họ Hoa hồng (Rosaceae). Loài này được Carl Linnaeus miêu tả khoa học đầu tiên vào năm 1753.Là một loài hoa hồng bản địa của miền đông Bắc Mỹ, nó có thể được tìm thấy ở hầu hết các tiểu bang của Mỹ và các tỉnh bang của Canada nằm về phía đông của Đại Bình nguyên Bắc Mỹ.

Nó thường xuyên được tìm thấy trong khắp vùng phân bố của mình và sinh trưởng trong rất nhiều môi trường sống, từ bụi cây và rừng thưa cho đến vệ đường và dọc các đường ray xe lửa.

Sagittaria cuneata

Sagittaria cuneata là một loài thực vật có hoa trong họ Alismataceae. Loài này được E.Sheld. miêu tả khoa học đầu tiên năm 1893.

Giống như vài loài Sagittaria khác, loài này có thể được gọi là wapato. Nó là loài bản địa phần lớn Bắc Mỹ, bao gồm phần lớn Canada (các tỉnh ngoại trừ Nunavut) cũng như tây và đông bắc Hoa Kỳ (New England, Ngũ Đại hồ, Đại Bình nguyên Bắc Mỹ, Rocky Mountain, Đại Bồn địa Hoa Kỳ và các bang Duyên hải Thái Bình Dương; bao gồm Alaska nhưng không mọc ở Hawaii).Sagittaria cuneata là loài cây thủy sinh, mọc ở nơi nước tù hoặc chảy chậm như ao, suối nhỏ. Nó có bề ngoài khá đa dạng, và phần ngập nước của các cây trông khác với những phần mọc bên trên bề mặt hoặc mặt nước hoặc mọc trên đất. Nói chung, nó là một loại thảo dược lâu năm phát có thân củ màu xanh biển nhẹ hoặc màu trắng.

Thamnophis radix

Thamnophis radix là một loài rắn trong họ Rắn nước. Loài này được Baird & Girard mô tả khoa học đầu tiên năm 1853.

Vùng đất mua Louisiana

Vùng đất mua Louisiana hay Cấu địa Louisiana (tiếng Anh: Louisiana Purchase; tiếng Pháp: Vente de la Louisiane) là vùng đất mà Hoa Kỳ mua, rộng 828.000 dặm vuông Anh (2.140.000 km²) thuộc lãnh thổ của Pháp ở Bắc Mỹ có tên gọi là "Louisiana" vào năm 1803. Giá tiền mua là 60 triệu franc (11.250.000 đô la Mỹ) cộng việc hủy bỏ số nợ đáng giá 18 triệu franc (3.750.000 đô la Mỹ). Tính luôn tiền lời, Hoa Kỳ phải trả tổng cộng lên đến 23.213.568 cho lãnh thổ Louisiana.

Vùng đất mua Louisiana bao gồm những phần đất của 15 tiểu bang hiện tại của Hoa Kỳ và hai tỉnh bang của Canada. Vùng đất mua này bao gồm tất cả các tiểu bang ngày nay là Arkansas, Missouri, Iowa, Oklahoma, Kansas, Nebraska, một phần của Minnesota nằm ở phía nam Sông Mississippi, phần lớn Bắc Dakota, gần toàn bộ Nam Dakota, đông bắc New Mexico, miền bắc Texas, một phần Montana, Wyoming, và vùng đất Colorado nằm bên phía đông Phân tuyến Lục địa, và Louisiana ở hai bên bờ Sông Mississippi bao gồm thành phố New Orleans (Vùng cán chảo Oklahoma, và phần đất tây nam Kansas và Louisiana lúc đó vẫn còn bị Tây Ban Nha tuyên bố chủ quyền). Ngoài ra, vùng đất mua này gồm có những phần đất nhỏ mà dần dần sau đó trở thành một phần đất của các tỉnh bang Alberta và Saskatchewan của Canada. Vùng đất mua này chiếm khoảng 23% lãnh thổ của Hoa Kỳ ngày nay.Việc mua đất này là một khoảnh khắc quan trọng trong nhiệm kỳ tổng thống của Thomas Jefferson. Vào lúc đó, việc mua vùng đất này phải đối mặt với sự phản đối từ trong nước và bị coi là vi hiến. Mặc dù cảm nhận rằng Hiến pháp Hoa Kỳ không có điều khoản nào nói đến việc mua bán đất nhưng Jefferson đã quyết định mua Louisiana vì ông cảm thấy khó chịu trước sức mạnh của Pháp và Tây Ban Nha ngăn cản lối giao thương của người Mỹ đến Hải cảng New Orleans.

Ngay sau khi kết thúc thỏa thuận Napoleon Bonaparte đã phát biểu rằng "Sự thỏa thuận về lãnh thổ này sẽ mãi mãi khẳng định sức mạnh của Hoa Kỳ, và tôi đã cho Anh Quốc một đối thủ cạnh tranh về biển mà sớm muộn gì cũng sẽ làm cho họ (Anh Quốc) bớt tính kiêu ngạo của họ."

Đồng cỏ, xavan và cây bụi ôn đới

Đồng cỏ, xavan và cây bụi ôn đới là một kiểu sinh cảnh trên cạn được định nghĩa bởi Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên. Thảm thực vật chiếm ưu thế ở quần xã này là cỏ và/hoặc cây bụi. Khí hậu thì ôn hòa và biến đổi từ bán khô hạn tới bán ẩm ướt. Kiểu sinh cảnh này thì khác biệt với đồng cỏ nhiệt đới ở trạng thái nhiệt độ hàng năm cũng như là loại sinh vật tìm thấy ở đây.Kiểu sinh cảnh này được gọi là prairie ở Bắc Mỹ, pampas ở Nam Mỹ, veld ở Nam Phi và steppe ở châu Á. Nói chung, những vùng này thì thiếu vắng cây thân gố, ngoại trừ những khu rừng dọc theo các con suối hoặc sông.Steppe/prairie cỏ thấp là những vùng đồng cỏ cỏ thấp xuất hiện ở khí hậu bán khô hạn. Prairie cỏ cao là những vùng đồng cỏ cỏ cao ở những khú vực có lượng mưa lớn hơn. Heath và pasture thì lần lượt là cây bụi và đồng cỏ cỏ thấp nơi sự phát triển rừng bị cản trở bởi hoạt động của con người chứ không phải của khí hậu.

Quần xã thực vật của thảo nguyên Á Âu và Đại Bình nguyên Bắc Mỹ, phần lớn đã bị triệt hạ do chuyển sang nông nghiệp. Dẫu vậy, có thể vẫn còn lên tới 300 loài thực vật khác nhau phát triển trên diện tích ít hơn 3 acres ở đồng cỏ cỏ cao Bắc Mỹ, thứ có lẽ cũng đồng thời hỗ trơ hơn 3 triệu cá thể côn trùng mỗi acre. Đồng cỏ và thảo nguyên Patagonia nổi bật vì sự khác biệt trong cấp độ họ và loài ở mỗi một đơn vị phân loại khác nhau. Vùng

4 Vùng
Đông Bắc
Trung Tây
Nam
Tây
Vùng khác

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.