Đại đô thị

Trong nghiên cứu về các khu định cư của con người, một đại đô thị (tiếng Anh: urban agglomeration) là một khu vực thành phố hay thị trấn được mở rộng, bao gồm khu đô thị của một nơi được gọi là trung tâm (nơi trung tâm này thường là một khu tự quản) và bất cứ những khu vực ngoại ô nào được nối liền nhau qua khu đô thị liên tục này. Tại Pháp, Viện Thống kê Pháp INSEE dịch từ này thành "Unité urbaine" có nghĩa là khu đô thị nối tiếp nhau. Tuy nhiên, vì có sự khác biệt trong các định nghĩa rằng những gì tạo nên và không tạo nên một "đại đô thị" cũng như các tính chất đa dạng và giới hạn của các phương pháp tính toán dựa theo địa lý hoặc thống kê nên có thể rất mơ hồ để so sánh các đại đô thị khác nhau trên khắp thế giới. Chẳng hạn như, không rõ là một khu vực có nên được xem là một khu vực vệ tinh hay một phần của một đại đô thị hay bản thân chính nó là một thực thể riêng biệt.

Thuật ngữ đại đô thị (urban agglomeration) cũng có thể có mối liên hệ đến vùng đại đô thị (Conurbation) là thuật ngữ chi tiết hơn để chỉ các chùm đô thị lớn mà trong đó các vùng ảnh hưởng gồm có những thành phố hay thị trấn cá biệt được kết nối lại với nhau vì sự phát triển đô thị xảy ra liên tục không ngừng, thậm chí lan sang các vùng, bang hay quốc gia khác nhau, thí dụ như Lille - Kortrijk tại Pháp và Bỉ. Mỗi thành phố hay thị trấn trong một vùng đại đô thị có thể tiếp tục hoạt động như một điểm hội tụ độc lập, thiết yếu cho cả vùng đại đô thị.

San Diego-Tijuana JPLLandsat
Một thí dụ về một đại đô thị là Vùng đô thị San Diego-Tijuana. Các thành phố cùng với nhau tạo nên một đại đô thị lưỡng quốc giữa MéxicoHoa Kỳ.

Những đại đô thị lớn nhất

Thuật ngữ "đại đô thị" rất thích hợp để định nghĩa dân số của những siêu-thành phố lớn như Tokyo, Thành phố Mexico, và Seoul. Các thành phố thí dụ là những siêu-thành phố đã mở rộng đủ để nuốt chửng các khu dân cư khác. Mặc dù về mặc hành chính thì những khu dân cư đó có thể là có chính quyền riêng biệt nhưng người dân ở đó có thể nói rằng họ đến từ thành phố trung tâm. Có vô số danh sách khác nhau về dân số đại đô thị. Hai trong số đó được trình bày dưới đây.

Theo một danh sách (01-01-2010), đại đô thị lớn nhất trên thế giới là như sau:

Hạng Tên bản địa Tên Quốc gia Châu lục Dân số
1 東京 Tokyo Nhật Bản Nhật Bản Châu Á 34.000.000
2 广州 Quảng Châu Trung Quốc Trung Quốc Châu Á 24.200.000
3 서울 Seoul Hàn Quốc Hàn Quốc Châu Á 24.200.000
4 Ciudad de México Thành phố Mexico México México Bắc Mỹ 23.400.000
5 नई दिल्ली Delhi Ấn Độ Ấn Độ Châu Á 23.200.000
6 मुंबई Mumbai Ấn Độ Ấn Độ Châu Á 22.800.000
7 New York City Thành phố New York Hoa Kỳ Hoa Kỳ Bắc Mỹ 22.200.000
8 São Paulo São Paulo Brasil Brasil Nam Mỹ 20.900.000
9 Kalakhang Maynila Vùng đô thị Manila Philippines Philippines Châu Á 19.600,000
10 上海 Thượng Hải Trung Quốc Trung Quốc Châu Á 18.400.000

(Thông tin trên được lấy từ: CityPopulation)

Một danh sách khác về căn bản cho thấy một số đại đô thị (so sánh với danh sách trên) có dân số nhỏ hơn vào năm 2010. Danh sách này sử dụng phương pháp ước tính dân số dựa theo các khu vực hành chính bên trong ranh giới của một khu vực có nhiều đô thị nối kết liên tiếp nhau. Sự khác biệt chính giữa hai con số về dân số trong hai danh sách là danh sách thứ nhất lấy dân số vùng đô thị thay cho dân số đại đô thị, thí dụ như New York, Mexico City, Mumbai và Delhi mà có thể thấy có các con số về dân số cao hơn so với danh sách thứ hai ở dưới đây.

10 đại đô thị lớn nhất tính theo dân số là:

Ginza area at dusk from Tokyo Tower
Vùng đại Tokyo có trên 35 triệu người.
Hạng Thành phố Quốc gia Dân số
1 Tokyo Cờ Nhật Bản Nhật Bản 35.200.000
2 Jakarta Cờ Indonesia Indonesia 22.000.000
3 Mumbai Cờ Ấn Độ Ấn Độ 21.255.000
4 Delhi Cờ Ấn Độ Ấn Độ 20.995.000
5 Metro Manila Cờ Philippines Philippines 20.795.000
6 Thành phố New York  Hoa Kỳ 20.610.000
7 São Paulo  Brasil 20.180.000
8 SeoulIncheon  Hàn Quốc 19.910.000
9 Thành phố Mexico Cờ Mexico Mexico 18.690.000
10 Thượng Hải  Trung Quốc 18.400.000

(Thông tin trên được lấy từ Demographia)

Xem thêm

Liên kết ngoài

Côn Sơn, Tô Châu

Côn Sơn (giản thể: 昆山; Bính âm: Kūnshān; Wade-Giles: K'un-shan) là một thành phố cấp huyện, vệ tinh của vùng đại đô thị Tô Châu, ngay bên ngoài Thượng Hải. Đây được xem như là cấp huyện thành công nhất về kinh tế của Trung Quốc. Đây là nơi xuất xứ của điệu Côn Sơn được phát triển thành Côn Sơn khúc. Đây là nơi sinh của Cung Hiền và Tống Khánh Linh.

Eindhoven

Eindhoven là một khu tự quản và là thành phố nằm ở tỉnh Noord-Brabant phía nam Hà Lan, từng nằm ở ngã ba nhánh Dommel và Gender. Nhánh sông Gender đã được ngăn đập sau thế chiến II nhưng nhánh sông Dommel vẫn chảy qua thành phố.

Các thành phố và thị trấn bao quanh gồm: Son en Breugel, Nuenen, Geldrop-Mierlo, Heeze-Leende, Waalre, Veldhoven, Eersel, Oirschot và Best. Thành phố này có dân số khoảng 440.000 người. Vùng đại đô thị (bao gồm Helmond) có dân số gần 750.000 người. Đây là thành phố lớn thứ 5 Hà Lan.

Ferraz de Vasconcelos

Ferraz de Vasconcelos là một đô thị ở bang São Paulo của Brasil. Đô thị này có dân số(năm 2006) là 176.532 người, mật độ dân số là 5870,7 người/km² với diện tích 30 km². Đây là một đô thị thành phần của vùng Đại đô thị São Paulo.

Theo điều tra năm 2000, đô thị này có:

Tổng dân số: 142.377

Dân số đô thị: 141.208

Dân số nông thôn: 1.169

Nam giới: 70.199

Nữ giới: 72.178

Mật độ dân số (người/km²): 5013,27Tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 1 tuổi (trên 1 triệu): 17,58Tuổi thọ bình quân: 70,33Tỷ lệ sinh (con/bà mẹ): 2,40Tỷ lệ biết đọc biết viết: 92,07%

Graz

Graz (phát âm tiếng Đức: [ˈɡʁaːt͡s]; tiếng Slovene: Gradec, tiếng Séc: Štýrský Hradec) là thủ phủ của Steiermark và là thành phố lớn thứ nhì tại Áo, sau Viên. Tính đến đầu năm 2017, nó có dân số 320,.587 (trong 286.686 sống trong vùng nội ô thành phố). Năm 2014, dân số khu đại đô thị Graz là 605.143.

Về chính trị và văn hóa, Graz trong nhiều thế kỷ là một trung tâm quan trọng với người Slovene,

hơn cả Ljubljana, thủ đô Slovenia hiện nay.

Illinois

Illinois là tiểu bang thứ 21 của Hoa Kỳ, gia nhập liên bang năm 1818. Illinois là tiểu bang đông dân nhất vùng Trung Tây nước Mỹ và đứng thứ năm toàn liên bang về dân số. Chicago nằm ở phía đông bắc là thành phố lớn nhất và trung tâm kinh tế hàng đầu tại Illinois. Đây cũng là thành phố lớn thứ ba nước Mỹ, chỉ sau thành phố New York và Los Angeles. Thủ phủ của tiểu bang đặt tại thành phố nhỏ Springfield.

Giữa những năm 1300 và 1400, thành phố Cahokia của người da đỏ là thành phố đông dân nhất trên lãnh thổ đất nước Hoa Kỳ sau đó với tổng dân số 40.000 người, trước khi bị thành phố New York vượt qua vào cuối thế kỉ 18. Khoảng 2000 người thổ dân da đỏ và những thợ săn thú người Pháp sống tại Illinois khi cuộc chiến tranh giành độc lập của 13 bang thuộc địa nước Mỹ nổ ra. Trước thế kỉ 19, Illinois vẫn là một vùng đất hoang vu, dân cư thưa thớt. Nhưng bắt đầu từ thập niên 1810, dân cư từ bang Kentucky bắt đầu đổ vào Illinois và những người này chính thức được cấp quyền công dân một tiểu bang mới vào năm 1818. Khu vực đại đô thị tương lai Chicago được thành lập bên bờ con sông Chicago, một trong số ít những cảng tự nhiên ở miền nam bờ hồ Michigan và đóng một vai trò huyết mạch trong giao thông tại vùng Ngũ Đại Hồ. Những phát minh quan trọng trong thập niên 1830 như đường sắt và máy cày đã biến những đồng cỏ của Illinois thành một vùng nông nghiệp trù phú, thu hút dân nhập cư đến từ các nước châu Âu như Đức và Thụy Điển. Nhân dân Illinois đã dành sự ủng hộ rất lớn đối với tổng thống Abraham Lincoln và tướng Ulysses S. Grant (cả hai đều là người Illinois) trong cuộc nội chiến Hoa Kỳ. Từ năm 1900, sự phát triển mạnh mẽ của những thành phố công nghiệp phía bắc tiểu bang cũng như những mỏ khai thác khoáng sản tại miền trung và miền nam đã thu hút thêm dân nhập cư đến từ các nước Đông Âu và Nam Âu. Dòng người da đen di cư lên miền bắc sau cuộc Nội chiến Mỹ cũng góp phần làm nên sự đa dạng chủng tộc tại Illinois và đóng góp cho nền văn hóa tại đây nhạc jazz và nhạc blue, những thể loại âm nhạc ngày nay phổ biến khắp nước Mỹ.

Tiểu bang Illinois còn có tên gọi là "Quê hương của Lincoln" (Land of Lincoln), vị tổng thống đã có công xóa bỏ chế độ nô lệ và giữ vững sự thống nhất nước Mỹ trong thế kỉ 19. Ngoài ra, Illinois còn có tên gọi là "Tiểu bang Đồng cỏ" (The Prairie State).

Louisville, Kentucky

Louisville là thành phố lớn nhất của tiểu bang Kentucky, Hoa Kỳ và là thủ phủ của hạt Jefferson. Dân số của thành phố năm 2008 ước tính khoảng 713,877, vùng Đại đô thị Louisville có dân số khoảng 1.244.696. Từng là một cảng trung chuyển nội địa nổi tiếng hồi thế kỷ 19, Louisville ngày nay được biết đến là nơi tổ chức Kentucky Derby, một hội thi đua ngựa nổi tiếng tại Mỹ.

Louisville nằm trên con sông Ohio thuộc phần phía bắc trung tâm Kentucky. Dòng sông Ohio hình thành biên giới giữa Kentucky và Indiana. Dù nằm ở một bang ở phía nam nhưng thành phố Louisville lại chịu ảnh hưởng của văn hóa miền Trung Tây và miền Nam Hoa Kỳ. Đôi khi nó được gọi là thành phố cực bắc thuộc miền Nam hoa Kỳ.

Thành phố Louisville được thành lập năm 1778 bởi George Rogers Clark và được đặt tên theo vua Louis XVI của Pháp.

Memphis, Tennessee

Memphis là thành phố nằm ở góc phía tây nam tiểu bang Tennessee, Hoa Kỳ và là thủ phủ của quận Shelby. Memphis nằm trên con sông Mississippi phía nam cửa sông Wolf.

Memphis có dân số khoảng 670.100 người, là thành phố lớn nhất Tennessee, lớn thứ 3 ở miền Đông Nam Hoa Kỳ và thứ 19 trên toàn nước Mỹ.

Vùng Đại đô thị Memphis, bao gồm các quận hạt xung quanh thuộc Mississippi và Arkansas, có dân số khoảng 1.280.533 người. Vùng đô thị Memphis là đại đô thị lớn thứ hai ở Tennessee, chỉ sau đại đô thị Nashville.

Memphis cũng là thành phố trẻ nhất trong bốn thành phố lớn của Tennessee (ba thành phố khác là Knoxville, Chattanooga, và Nashville).

Thành phố có sân bay quốc tế Memphis.

Nhật Bản

Nhật Bản (tiếng Nhật: 日本, kana: にっぽん Nippon hoặc にほん Nihon, thường gọi tắt là "Nhật"), tên chính thức: Nhật Bản Quốc (tiếng Nhật: 日本国, kana: にっぽんこく Nippon-koku hoặc にほんこく Nihon-koku), là một đảo quốc nằm ở vùng Đông Á. Tọa lạc trên Thái Bình Dương, nước này nằm bên rìa phía đông của Biển Nhật Bản, Biển Hoa Đông, Trung Quốc, bán đảo Triều Tiên và vùng Viễn Đông Nga, trải dài từ Biển Okhotsk ở phía bắc xuống Biển Hoa Đông và đảo Đài Loan ở phía nam. Chữ kanji (Hán tự) trong quốc hiệu Nhật Bản nghĩa là "gốc của Mặt Trời", và người ta thường gọi Nhật Bản bằng biệt danh "Đất nước Mặt Trời mọc".

Nhật Bản là một quần đảo núi lửa với khoảng 6.852 đảo, chủ yếu nằm trong khu vực ôn đới với bốn mùa rõ rệt, nhưng có khí hậu khác biệt dọc theo chiều dài đất nước. Bốn hòn đảo lớn nhất là Honshu, Hokkaido, Kyushu và Shikoku chiếm khoảng 97% diện tích đất liền của nước này, nhưng phần nhiều chỉ là rừng và núi với nguồn tài nguyên khoáng sản rất hạn chế. Quần đảo được chia thành 47 tỉnh thuộc 8 vùng địa lý. Dân số Nhật Bản vào khoảng 126 triệu người, đứng thứ mười thế giới, tập trung chủ yếu ở các vùng đồng bằng nhỏ hẹp ven biển. Người Nhật chiếm khoảng 98,5% tổng dân số đất nước. Gần 9,1 triệu cư dân sống tại trung tâm Tokyo,(thủ đô không chính thức của đất nước), cũng là thành phố đông dân thứ tám trong khối OECD và là thành phố toàn cầu đứng hàng thứ tư thế giới. Vùng thủ đô Tokyo, bao gồm thủ đô và một vài tỉnh xung quanh nó, là đại đô thị lớn nhất thế giới với hơn 35 triệu dân và có nền kinh tế đô thị hóa cao nhất hành tinh.

Các nghiên cứu khảo cổ chỉ ra rằng đã có người định cư tại Nhật Bản từ thời Thượng kỳ đồ đá cũ. Những ghi chép đầu tiên đề cập đến quốc gia này nằm trong các thư liệu lịch sử Trung Hoa có từ thế kỷ thứ nhất Công Nguyên. Thoạt đầu chịu ảnh hưởng từ các vùng đất khác, chủ yếu là Đế quốc Trung Quốc, tiếp đến là giai đoạn tự cách ly, về sau thoát khỏi sự chi phối của thế giới phương Tây, đã hình thành những nét đặc trưng trong lịch sử và văn hóa Nhật Bản. Từ thế kỷ XII đến năm 1868, Nhật Bản liên tục thuộc quyền cai trị của các quân nhân phong kiến shogun nhân danh Thiên hoàng. Quốc gia này bước vào quá trình cô lập kéo dài suốt nửa đầu thế kỷ XVII, và chỉ kết thúc vào năm 1853 khi một hạm đội của Hoa Kỳ gây áp lực buộc Nhật Bản phải mở cửa với phương Tây. Gần hai thập kỷ nội chiến và bạo loạn đã xảy ra trước khi Thiên hoàng Minh Trị tái thiết lại đất nước trong vai trò nguyên thủ vào năm 1868 và khai sinh Đế quốc Nhật Bản, với Thiên hoàng trở thành biểu tượng thiêng liêng của dân tộc. Trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, công nghiệp hóa tại Nhật Bản diễn ra mạnh mẽ, đất nước phát triển nhanh, vào đầu thế kỷ 20 thì Nhật Bản đã trở thành quốc gia có trình độ hiện đại hóa cao nhất châu Á và sánh ngang nhiều nước Tây Âu. Những thắng lợi sau chiến tranh Thanh-Nhật, chiến tranh Nga-Nhật và Chiến tranh thế giới thứ nhất đã cho phép Nhật Bản đánh chiếm nhiều vùng lãnh thổ tại Trung Quốc và Triều Tiên, mở rộng đế chế của mình và củng cố quyền lực của chủ nghĩa quân phiệt. Cuộc chiến tranh Trung-Nhật năm 1937 đã nhanh chóng lan rộng thành một phần của Chiến tranh thế giới thứ hai từ năm 1941, mà cuối cùng kết thúc vào năm 1945 sau vụ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki. Từ thời điểm bản Hiến pháp mới được ban hành năm 1947, Nhật Bản duy trì chế độ quân chủ lập hiến kết hợp dân chủ đại nghị, trong đó cơ quan lập pháp dân cử là Quốc hội Nhật Bản.

Nhật Bản là nước thành viên của Liên Hợp Quốc, khối APEC, các nhóm G7, G8 và G20, đồng thời được xem như một cường quốc. Quốc gia này có nền kinh tế đứng hạng ba thế giới theo GDP danh nghĩa và hạng tư thế giới theo sức mua tương đương. Nó cũng đứng hạng tư hành tinh cả về kim ngạch nhập khẩu lẫn xuất khẩu. Mặc dù Nhật Bản đã chính thức từ bỏ quyền tuyên chiến, nước này vẫn sở hữu một lực lượng quân đội hiện đại có ngân sách cao thứ tám thế giới, được huy động với mục đích tự vệ và gìn giữ hòa bình. Nhật Bản là một nước phát triển với mức sống và Chỉ số phát triển con người rất cao, trong đó người dân được hưởng tuổi thọ cao nhất thế giới, đứng hạng ba trong số những quốc gia có tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh thấp nhất thế giới, và vinh dự có số người đoạt giải Nobel nhiều nhất châu Á. Nhật Bản là quốc gia dẫn đầu về Chỉ số thương hiệu quốc gia, hạng sáu trong Báo cáo cạnh tranh toàn cầu 2015–2016 và giữ vị trí cao nhất ở châu Á về Chỉ số hòa bình toàn cầu. Nhật Bản cũng là quốc gia châu Á đầu tiên đăng cai tổ chức Thế vận hội Mùa hè và Mùa Đông. Tuy nhiên, xã hội Nhật Bản hiện cũng đang phải đối mặt với nhiều vấn đề, tiêu biểu là áp lực cuộc sống cao, nạn tự sát, phân hóa thành thị – nông thôn sâu sắc, tỷ lệ thanh niên kết hôn và sinh đẻ giảm mạnh khiến tình trạng lão hóa dân số đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng.

Nouvelle-Aquitaine

Nouvelle-Aquitaine (tiếng Pháp: [nuvɛl akitɛn]; tiếng Occitan: Nòva Aquitània; tiếng Basque: Akitania Berria) là vùng hành chính lớn nhất của Pháp, nằm tại miền tây nam của đất nước. Vùng này được lập ra trong cải cách lãnh thổ các vùng của Pháp vào năm 2014 thông qua hợp nhất ba vùng cũ Aquitaine, Limousin và Poitou-Charentes. Vùng có diện tích 84.061 km², và có khoảng 5,8 triệu dân vào năm 2012.. Vùng tồn tại từ 1 tháng 1 năm 2016, sau bầu cử cấp khu vực trong tháng 12 năm 2015.Thủ phủ và thành phố lớn nhất của vùng là Bordeaux, đại đô thị Bordeaux là đại đô thị lớn thứ bảy toàn quốc, với 850.000 cư dân. Vùng có 25 khu vực đô thị lớn, quan trọng sau Bordeaux là Bayonne (288.000 dân), Limoges (283.000), Poitiers (255.000), Pau (241.000) và La Rochelle (206.000). Tăng trưởng dân số khiến vùng trở thành nới thu hút nhất về kinh tế tại Pháp, đặc biệt là ven biển.

Sau Île-de-France, Nouvelle-Aquitaine là vùng hàng đầu của Pháp và nghiên cứu và sáng tạo, với năm đại học (Bordeaux, La Rochelle, Limoges, Poitiers và Pau) cùng một vài Grandes Ecoles. Đây là vùng nông nghiệp số một tại châu Âu về doanh thu, là vùng số một tại Pháp về công việc du lịch. Kinh tế vùng dựa trên nông nghiệp và trồng nho, du lịch, ngành công nghiệp không gian, kinh tế kỹ thuật số và thiết kế, hoá dược, tài chính.

Palermo

Palermo (tiếng Sicilia: Palermu, tiếng La Tinh; Panormus, tiếng Hy Lạp: Πάνορμος, Panormos) là một thành phố lịch sử ở miền nam nước Ý, thủ phủ của vùng tự trị Sicilia và tỉnh Palermo. Thành phố này nổi tiếng với lịch sử, văn hóa, kiến trúc, ẩm thực giàu truyền thống, những đặc trưng đã gắn liền với thành phố trong hơn 2.700 năm tuổi. Palermo nằm ở phía tây bắc đảo Sicilia, giáp vịnh Palermo thuộc biển Tyrrhenus.

Thành phố được lập ra bởi những người Phoenicia, nhưng được đặt theo tên Hy Lạp cổ đại Panormus. Palermo trở thành một phần của Cộng hòa La Mã và sau đó là Đế quốc Byzantine, trong hơn một nghìn năm. Có một khoảng thời gian nó chịu sự thống trị của người Ả Rập. Sau khi người Norman tái chiếm vùng đất này, Palermo trở thành thủ đô của Vương quốc Sicilia mới từ 1130 tới 1816. Cuối cùng nó sáp nhập với Vương quốc Napoli để trở thành Vương quốc Song Sicilia trước khi nước Ý thống nhất năm 1860.

Dân số khu vực thành thị của Palermo ước tính khoảng 855.285 người, còn dân số vùng Đại đô thị là vùng có dân số đông thứ 5 ở Ý với khoảng 1.2 triệu người. Ngôn ngữ chính ở đây là tiếng Ý và phương ngữ Sicilia.

Roma

Roma (tiếng Latinh và tiếng Ý: Roma; còn phổ biến với tên gọi Rome trong tiếng Anh và tiếng Pháp hay La Mã theo phiên âm Hán Việt) là thủ đô của nước Ý và là một đô thị cấp huyện (comune) loại đặc biệt (có tên đầy đủ là Comune di Roma Capitale), đồng thời đóng vai trò là thủ phủ vùng Lazio của quốc gia này. Roma là thành phố lớn nhất và đông dân nhất ở Ý với hơn 2,8 triệu cư dân trong phạm vi 1.285 km². Đây là thành phố đông dân thứ tư của Liên minh châu Âu, sau Luân Đôn, Berlin và Madrid, tính theo số dân sinh sống bên trong phạm vi thành phố. Roma cũng đồng thời là trung tâm của Thành phố đô thị Roma Thủ đô với hơn 4,3 triệu cư dân, do đó là thành phố đô thị đông dân nhất của nước Ý. Roma tọa lạc ở vùng Lazio, dọc theo con sông Tevere (khu vực Latium lịch sử) thuộc Trung Tây của bán đảo Ý. Thành quốc Vatican (quốc gia nhỏ nhất thế giới) là một đất nước độc lập nằm trong lòng Roma, đây là ví dụ duy nhất về một quốc gia nằm trong lãnh thổ của một thành phố; cũng vì lý do này mà Roma thường được xem là thủ đô lưỡng quốc.Lịch sử Roma trải dài 28 thế kỷ. Mặc dù thần thoại La Mã đặt mốc thời gian thành lập Roma vào khoảng năm 753 TCN, tuy nhiên thành phố đã có mặt cư dân sinh sống lâu hơn thế, khiến nó trở thành một trong những khu định cư lâu đời nhất có con người vẫn đang tiếp tục sinh sống tại châu Âu. Cư dân ban đầu của thành phố có nguồn gốc hỗn hợp từ người Latinh, Etrusca và Sabine. Sau đó, thành phố trở thành thủ đô của Vương quốc La Mã, Cộng hòa La Mã và Đế quốc La Mã, và được nhận định là cái nôi của nền văn minh phương Tây cũng như là kiểu mẫu đô thị trung tâm đầu tiên từng xuất hiện. Roma ban đầu được gọi là Thành phố vĩnh hằng (tiếng Latinh: Urbs Aeterna) bởi thi hào Tibullus người La Mã trong thế kỷ thứ nhất TCN và ý tưởng đó đã được Ovidius, Vergilius và Livius tiếp nối. Thành phố còn nổi tiếng với danh hiệu "Caput Mundi" trong tiếng Latinh có nghĩa là Kinh đô thế giới. Theo sau sự sụp đổ của Đế quốc Tây La Mã đánh dấu khởi đầu của Đêm trường Trung Cổ, Roma dần rơi vào sự thống trị của giáo hoàng (đã cư ngụ tại thành phố kể từ thế kỷ 1) và chính thức thế kỷ 8 trở thành thủ đô của Vương quốc Giáo hoàng tồn tại cho đến năm 1870. Bắt đầu từ thời kỳ Phục Hưng, hầu như tất cả các giáo hoàng từ Nicôla V (1447–1455) trở đi đều chủ trương theo đuổi tiến trình mang tính kiến trúc và đô thị hóa liên tục suốt 400 năm nhằm mục đích biến thành phố trở thành trung tâm nghệ thuật và văn hóa của thế giới. Do vậy, Roma trở thành trung tâm lớn của nền Phục Hưng Ý, và sau đó là nơi khai sinh của trường phái Baroque và chủ nghĩa Tân cổ điển. Các nghệ sĩ, họa sĩ, nhà điêu khắc và kiến trúc sư nổi tiếng đã biến Roma trở thành trung tâm hoạt động của họ, tạo ra những kiệt tác khắp toàn thành phố. Năm 1871, Roma chính thức trở thành thủ đô của Vương quốc Ý thống nhất và sau đó là Cộng hòa Ý từ năm 1946 cho đến ngày nay.

Roma mang đẳng cấp của một thành phố toàn cầu. Trong năm 2016, Roma xếp thứ 14 trong số những thành phố được viếng thăm nhiều nhất thế giới, đứng thứ 3 tại châu Âu và là điểm thu hút khách du lịch nổi tiếng nhất tại Ý. Khu trung tâm lịch sử của Roma được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới. Bảo tàng Vatican nổi tiếng nằm trong số những bảo tàng được viếng thăm nhiều nhất thế giới và Đấu trường La Mã trở thành điểm thu hút khách du lịch phổ biến nhất thế giới với 7,4 triệu lượt khách trong năm 2018. Roma cũng là nơi tổ chức Thế vận hội Mùa hè 1960. Roma là trụ sở của các cơ quan chuyên môn thuộc Liên Hiệp Quốc như Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp (FAO), Chương trình Lương thực Thế giới (WFP) và Quỹ quốc tế về phát triển nông nghiệp (IFAD). Thành phố cũng là nơi đặt văn phòng Tổng thư ký Hội đồng Nghị viện Liên minh Địa Trung Hải (UfM) cũng như trụ sở của nhiều tập đoàn kinh doanh quốc tế như Eni, Enel, TIM, Leonardo S.p.A., và các ngân hàng nhà nước và quốc tế như Unicredit và BNL. Khu vực quận kinh tế và trung tâm thương mại của thành phố được gọi là EUR, là cơ sở của nhiều công ty quan trọng tham gia vào các ngành công nghiệp dầu mỏ, công nghiệp dược phẩm và dịch vụ tài chính. Roma cũng là một trung tâm thiết kế và thời trang quan trọng nhờ các thương hiệu quốc tế nổi tiếng có trụ sở tại thành phố, và đứng ở vị trí thứ 5 trong bảng xếp hạng các kinh đô thời trang của thế giới trong những năm gần đây. Phim trường Cinecittà của Roma, phim trường lớn nhất tại châu Âu, đã trở thành nơi bấm máy của rất nhiều bộ phim đoạt giải Oscar.

Salem, Oregon

Salem (IPA: [ˈseɪ ləm̩]) là thủ phủ của tiểu bang Oregon, và là quận lỵ của Quận Marion. Khu Tây Salem nằm trong Quận Polk. Nó nằm ở giữa Thung lũng Willamette, giữa Portland và Eugene. Cho đến 1 tháng 7 năm 2006, nó có một dân số là 149.305, với dân số vùng đại đô thị là gần 400.000 làm cho nó là thành phố lớn thứ hai và vùng đại đô thị lớn thứ hai tại Oregon (sau Portland).

"Salem" được lấy từ tiếng Hebrew là "Shalom", và tiếng Á Rập là "Salam" cả hai đều có nghĩa là "hòa bình". Trong lịch sử, Salem có biệt danh là "thành phố cherry ", vì sự quan trọng của công nghiệp trồng cây cherry.

Shepparton

Shepparton ( /ˈʃɛpərtən/) là một thành phố trong bang Victoria, Úc. Thành phố có dân số 48.926 người (năm 2010).

Shepparton là một thành phố nằm trên đồng bằng ngập lũ của sông Goulburn ở phía đông bắc của tiểu bang Victoria, cự ly khoảng 181 km (112 dặm) về phía đông bắc của Melbourne. Đây là thành phố lớn thứ năm tại tiểu bang Victoria, Australia.

Nó bắt đầu như một trạm cừu và vượt sông trước khi trải qua một biến đổi lớn như là một thị trấn đường sắt. Ngày nay nó là một trung tâm nông nghiệp và sản xuất và trung tâm của hệ thống thủy lợi thung lũng Goulburn, một trong những trung tâm thủy lợi lớn nhất tại Úc. Đây là một thành phố dịch vụ lớn trong khu vực và là trung tâm hành chính dân sự Đại đô thị Shepparton. Đại đô thị Shepparton bao gồm các trung tâm xung quanh Tatura, Merrigum, Mooroopna, Murchison, Dookie, và Grahamvale.

Sở Châu

Sở Châu (tiếng Trung: 楚州区; bính âm: Chǔzhōu Qū), nguyên là huyện Hoài An (淮安县), là một khu (quận) của thành phố Hoài An, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Quận là quê hương của Chu Ân Lai. Thời xa xưa, cùng với Tô Châu, Hàng Châu và Dương Châu, khu vực quận ngày nay từng được gọi với cái tên "tứ đại đô thị" của vùng châu thổ Trường Giang.

Tigard, Oregon

Tigard (IPA: [taɪˈ gərd]) là một thành phố trong Quận Washington, tiểu bang Oregon, Hoa Kỳ. Dân số là 41.223 theo Điều tra Dân số Hoa Kỳ năm 2000. Ước tính năm 2006 estimate là 46.300 cư dân. Theo Sách xanh Oregon năm 2003, Tigard là thành phố lớn hạng thứ 11 của tiểu bang Oregon. Nằm về phía nam của Beaverton và phía bắc Tualatin, thành phố là một phần của vùng đại đô thị Portland.

Tunis

Tunis (tiếng Ả Rập: تونس‎ Tūnis) là thủ đô và thành phố lớn nhất của Tunisia. Vùng đại đô thị Tunis, thường được gọi là Grand Tunis, có chừng 2.700.000 dân.

Tọa lạc gần một vịnh Địa Trung Hải lớn (Vịnh Tunis), sát cạnh hồ Tunis và cảnh La Goulette (Ḥalq il-Wād). thành phố trải dọc theo đồng bằng duyên hải và các ngọn đồi bao quanh. Trong trung tâm hiện đại là khu phố cổ thời thuộc địa.

Thành phố có Sân bay quốc tế Tunis-Carthage.

Kinh tế của thành phố này chủ yếu là du lịch, mua bán dầu olive và thảm.

Medina (khu phố cổ) của Tunis được UNESCO công nhận là di sản thế giới năm 1979.

Vùng đô thị

Một vùng đô thị là một trung tâm đông dân số bao gồm một đại đô thị và các vùng phụ cận nằm trong phạm vi ảnh hưởng của đô thị này hay nói cách khác là vùng gồm có hơn một thành phố trung tâm gần sát nhau và vùng nằm trong phạm vi ảnh hưởng của các thành phố trung tâm này. Một hai nhiều thành phố lớn có thể phục vụ như một trung tâm hay các trung tâm cho toàn vùng. Thông thường vùng đô thị được đặt tên theo tên thành phố trung tâm lớn nhất hoặc quan trọng nhất trong vùng.

Vùng đô thị Hoa Kỳ

Tại Hoa Kỳ, Cục Quản lý và Ngân sách (OMB) đã đưa ra một định nghĩa chính thức về các vùng đô thị. Những vùng đô thị này được gọi là các "Vùng thống kê đô thị" (Metropolitan Statistical Areas hay viết tắt là MSA) và "Vùng thống kê kết hợp" (Combined Statistical Areas hay viết tắc là CSA). Định nghĩa trước đây của Vùng thống kê đô thị là "Vùng thống kê đô thị chuẩn" (Standard Metropolitan Statistical Area hay viết tắt là SMSA). Các Vùng thống kê đô thị bao gồm các quận và những đơn vị tương đương quận. Tại vùng Tân Anh, vì tầm quan trọng lớn hơn của các thị trấn đối với các quận nên các vùng tương tự cũng được định nghĩa dựa vào các đơn vị thị trấn được biết như là Vùng thị trấn và thành phố New England (New England City and Town Area hay viết tắt là NECTA).

Các Vùng thống kê đô thị Hoa Kỳ được hoạch định dựa trên cơ bản của một vùng thành thị trung tâm là một vùng liên tiếp có mật độ dân số tương đối cao. Các quận có vùng thành thị cốt lõi được gọi là các quận trung tâm của Vùng đô thị. Các quận bao quanh khác (được biết như là các quận ngoại ô) có thể được cộng vào Vùng thống kê đô thị nếu các quận này có mối quan hệ kinh tế và xã hội mạnh mẽ với các quận trung tâm, được tính qua việc đáp xe hàng ngày ra vào các quận trung tâm và công ăn việc làm. Ghi chú là một số vùng nằm bên trong các quận ngoại ô này có thể thật sự là những vùng nông thôn tự nhiên.

Vùng thống kê đô thị được dùng cho các mục đích chính thức nhưng chúng không phải là cách để ước tính dân số đô thị duy nhất. Các con số chính xác đối với một số vùng đô thị vẫn còn bị tranh cãi và có một số trường hợp, các nguồn thống kê danh tiếng lại cung cấp các con số sai khác đến hàng triệu. Các trường hợp đáng tranh cãi nhất gồm có Vùng Đại Los Angeles, Vùng Vịnh San Francisco, và Đại Cleveland. Các định nghĩa chính thức được dùng cho Điều tra dân số Hoa Kỳ lần cuối thường hay khác những lần điều tra dân số trước đây, làm cho việc so sánh gặp nhiều khó khăn thậm chí là giữa các con số chính thức của các năm khác nhau (so sánh năm 2000 với năm 1990, Baltimore bị tách rời khỏi Washington, D.C. nhưng West Palm Beach lại được kết hợp lại với Miami-Fort Lauderdale làm cho có con số sai khác khá lớn trong việc xếp hạng cả hai vùng đô thị này).

Cho đến thời điểm tháng 6 năm 2003, hiện tại có thêm một xếp loại mới, đó là "Phân vùng đô thị" (Metropolitan Division). Cụm từ "phân vùng đô thị" được dùng để chỉ một quận hay một nhóm gồm nhiều quận liên tục nằm sát nhau mà phục vụ như một vùng công ăn việc làm rõ rệt trong một vùng thống kê đô thị có tổng dân số ít nhất là 2,5 triệu. Mặt dù một phân vùng đô thị là một phân vùng của một vùng thống kê đô thị lớn hơn nhưng nó thường có chức năng như một vùng văn hóa, kinh tế, xã hội riêng biệt trong vùng đô thị lớn hơn.

Vùng đô thị Rio de Janeiro

Vùng đô thị Rio de Janeiro (tiếng Bồ Đào Nha: Região Metropolitana do Rio de Janeiro) là một vùng đô thị lấy thành phố Rio de Janeiro ở bang Rio de Janeiro, Brasil làm hạt nhân. Vùng đô thị này được thành lập ngày 1 tháng 7 năm 1974. Với dân số hiện nay là 11.571.617 người, đây là vùng đô thị lớn thứ 2 ở Brasil (sau vùng đô thị São Paulo ở bang São Paulo), lớn thứ 23 trên thế giới (năm 2008).Nó bao gồm 16 khu tự quản, bao gồm cả thủ phủ Rio de Janeiro.

Vùng đô thị Rio de Janeiro được biết đến như một trung tâm lịch sử, văn hóa và kinh tế của Brazil. Khu vực này lần đầu tiên được chính thức được xác định và ngày 1 tháng 7 năm 1974 sau khi có sự hợp nhất của bang Guanabara với bang Rio de Janeiro. Giao thông trong vùng đô thị gồm các hệ thống đường cao tốc liên thành phố, đường ray, phà, tàu điện ngầm.

Đại đô thị São Paulo

Đại đô thị São Paulo (tiếng Bồ Đào Nha: Região Metropolitana São Paulo) là một vùng đô thị ở Brasil với thành phố São Paulo là trung tâm. Dân số vùng đô thị này năm 2009 là 19.889.559 người. Đây là vùng đô thị lớn nhất Brasil.

Một thuật ngữ cụ thể về mặt pháp lý xác định, Região Metropolitana São Paulo (RMSP), một định nghĩa cho Metropolitan São Paulo, bao gồm 39 thành phố, bao gồm cả vốn, São Paulo.

RMSP São Paulo được biết đến như một trung tâm tài chính và kinh tế của Brazil, với tổng dân số 19.683.975 người (điều tra dân số quốc gia năm 2010). Các thành phố lớn nhất là São Paulo, với dân số 11.253.503 người, Guarulhos với dân số 1.221.979 người, cộng với một số thành phố với hơn 100.000 cư dân, chẳng hạn như São Bernardo do Campo (765.463 dân) và Santo André (676.407 dân). Các khu vực ABC (từ Santo André, São Bernardo do Campo và São Caetano do Sul) ở phía nam của Grande São Paulo là một vị trí quan trọng cho các tập đoàn công nghiệp, chẳng hạn như Volkswagen và Ford. Nó đại diện cho thành phố "cốt lõi" của khu vực lớn hơn.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.